Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 23 - Thiền Tông Nhật - Hàn
Vô Tâm Luận

Tổ Bồ-đề-đạt-ma

Phàm tột lý không lời, cốt mượn lời để hiển lý. Đạo lớn không tướng, vì tiếp kẻ thô nên thấy hình. Nay giả lập hai người để bàn về Luận Vô Tâm. Đệ tử hỏi: Hòa thượng hữu tâm hay vô tâm? 

Đáp: Vô tâm. 

Hỏi: Đã vô tâm ai thấy nghe hiểu biết và ai biết vô tâm? 

Đáp: Vô tâm thấy nghe hiểu biết, cũng vô tâm biết vô tâm. 

Chỗ tột lý không có lời nói nhưng tạm mượn lời nói để hiển bày. Đại đạo không có hình tướng, vì tiếp những kẻ còn thô cạn nên phải nương nơi hình để cho họ thấy. Cho nên phải giả lập ra hai người để hỏi đáp về vô tâm.

Thường thường người ta hay nói, đồ vô tâm! Và cho rằng vô tâm là không biết gì hết. Nhưng ở đây người đệ tử gạn lại, đã vô tâm ai thấy nghe hiểu biết và ai biết vô tâm? Ngài đáp: Vô tâm thấy nghe hiểu biết, cũng vô tâm biết vô tâm. Đó là lối trả lời gọn, nên đặt câu hỏi tiếp.

Hỏi: Nếu đã vô tâm tức đồng không có sự thấy nghe hiểu biết thì làm sao được thấy nghe hiểu biết? 

Đáp: Ta tuy vô tâm mà thường thấy nghe hiểu biết. 

Hỏi: Đã thường thấy nghe hiểu biết tức là hữu tâm, sao nói là vô tâm? 

Đáp: Chỉ cái thấy nghe hiểu biết này tức là vô tâm. Chỗ nào lìa thấy nghe hiểu biết riêng có vô tâm? Ta nay sợ ông chẳng hiểu, nên vì ông nói rõ ràng, để khiến ông được ngộ chân lý.

Nếu bảo cái thấy nghe hiểu biết là vô tâm, thì là cây đá rồi, đây ngài chỉ thẳng. 

Như thấy suốt ngày, thấy mà không thấy, nên cái thấy cũng vô tâm. 

Thí dụ bây giờ chúng ta nhìn từ đây ra tới ngoài biển thấy đủ thứ, nhưng thấy mà không thấy. Tại sao? Vì mình không chú ý vào cái gì hết. Nếu có người hỏi, nãy giờ nhìn thấy gì? Thì nói thấy biển thấy nhà, tức là không thấy cái gì riêng. Thấy chỉ thấy, không để tâm vào một cái gì, đó là thấy mà không thấy, nên thấy cũng vô tâm. Còn chú ý thấy cái nhà này cao, cái nhà kia thấp, nhà đó đẹp, nhà nọ xấu v.v... đó là cái thấy trụ tâm. Ngài đã chỉ thẳng, nói trắng ra, không giấu giếm.

Nghe suốt ngày, nghe mà không nghe, nên nghe cũng vô tâm. 

Suốt ngày người này luận, người kia bàn, nghe âm thanh bên tai mà không chú tâm vào tiếng gì, nghe như gió thổi, qua rồi thôi không dính không mắc. Đó là nghe mà không nghe, nên nghe cũng vô tâm.

Hiểu suốt ngày, hiểu mà không hiểu, nên hiểu cũng vô tâm. Biết suốt ngày, biết mà không biết, nên biết cũng vô tâm. 

Suốt ngày hiểu biết ròng rã mà không biết, không chú tâm vào một cái gì, biết mà không kẹt nơi này, không kẹt nơi kia, đó là biết mà không biết, nên hiểu biết mà vẫn vô tâm. 

Suốt ngày tạo tác, tác mà không tác, nên tác cũng vô tâm. Cho nên nói, thấy nghe hiểu biết đều là vô tâm. 

Làm suốt ngày mà không suy tính chuyện riêng tư, làm nhưng tâm vẫn an nhiên tự tại thì làm mà cũng vô tâm. Làm bếp, bửa củi, gánh nước v.v... làm tất cả việc vẫn vô tâm. Bàng Uẩn nói: “Thần thông cập diệu dụng, vận thủy cập ban sài.” Gánh nước bửa củi, cái gì cũng là thiền, cái gì cũng là đạo, cho nên thấy nghe hiểu biết đều là vô tâm. 

Như vậy, ngài đã chỉ thẳng cho chúng ta thấy rõ vô tâm là gì. Thấy nghe hiểu biết tất cả mà không dính mắc, chứ không phải vô tâm là mắt mù tai điếc, là ngồi yên một chỗ, không làm. Vô tâm chính là trong mọi tác động không dính không mắc. 

Hỏi: Nếu vậy, cái hay biết là vô tâm ư?

Đáp: Ông nên nhỏ nhiệm mà xét xem, tâm khởi ra tướng mạo gì? Tâm kia có thể được là tâm hay chẳng phải tâm? Là bên trong, bên ngoài hay khoảng giữa? Như thế ba chỗ suy xét tìm tâm không thể có, cho đến tất cả chỗ tìm cầu cũng không thể có. Nên biết, đấy tức là vô tâm.

Tâm, chỗ khác gọi là vọng niệm, khi khởi lên nó có tướng mạo gì? Là tâm hay không phải tâm? Chúng ta thử tìm xem tâm đó ở đâu? Nếu thật là tâm thì nó không mất, còn mất tức không phải tâm thật. Tìm xét ba chỗ, trong ngoài chặng giữa, đều không thấy nó. Như vậy, những vọng tâm dấy lên rốt cuộc tìm không có, bởi không có cho nên nó là vô tâm. Vô tâm là vô cái vọng niệm, chứ không phải vô cái hằng biết.

Hỏi: Hòa thượng đã nói, mọi nơi đều vô tâm, tức là đồng với không có tội phước, vậy cớ sao chúng sanh luân hồi trong sáu thú, sanh tử không dừng? 

Đáp: Chúng sanh mê vọng, chỗ vô tâm mà vọng sanh tâm, tạo muôn ngàn nghiệp, rồi vọng chấp là có. Bao nhiêu đó cũng khiến luân hồi trong sáu thú, sanh tử chẳng dừng. 

Ví như có người trong đêm tối thấy cái ghế cho là ma, thấy sợi dây cho là rắn, rồi sanh kinh sợ. Sự vọng chấp của chúng sanh cũng giống như thế. Nơi vô tâm vọng chấp có tâm, tạo muôn ngàn tội nghiệp. Vậy là sao khỏi luân hồi trong sáu thú? 

Đây chỉ thẳng gốc của luân hồi, vốn không có mà vọng sanh ra có, từ đó tạo vô số nghiệp, khiến cho luân hồi trong sáu thú, sanh tử chẳng dừng. Như người đi đêm thấy cái ghế tưởng là ma, thấy sợi dây tưởng là rắn, sanh ra kinh sợ. Cái không thật mà vọng chấp cho là thật, rồi theo đó mà khổ đau. 

Nếu người tu chóng ngộ được vô tâm thì dòng luân hồi chấm dứt, nhưng làm sao để được vô tâm? Không có vọng tâm, tức là vô tâm. Chúng ta mới thấy chỗ ngộ của Nhị Tổ, khi ngài tìm tâm không có, tổ Đạt-ma nói “ta an tâm cho ngươi rồi”. Rõ ràng, bởi vì lâu nay cứ chấp vọng cho là tâm của mình nên khổ não với nó, bây giờ nhìn lại thấy nó không có thì ngay đó vọng hết, ông chủ hiện ra. Ngay chỗ đó ngài thấy rõ không còn nghi ngờ, một câu là xong xuôi. 

Tuy nhiên nếu chúng sanh gặp được bậc thiện tri thức lớn giáo hóa khiến tọa thiền giác ngộ được vô tâm, thì tất cả nghiệp chướng đều tiêu diệt, sanh tử liền dứt. Thí như chỗ tối, ánh mặt trời chiếu đến thì tự nhiên bóng tối hết. Nếu ngộ vô tâm tất cả tội đều tiêu diệt cũng giống như vậy. 

Ngộ vô tâm rồi thì tất cả tội lỗi đều tiêu diệt, cái gốc đã đốn thì ngọn ngành cũng không còn. Đó là chỉ thẳng về gốc, chặt đứt cội nguồn, không còn vạch lá tìm cành gì nữa.

Hỏi: Đệ tử còn mê muội, tâm chưa rõ ràng. Tất cả chỗ, sáu căn khởi dụng ứng đáp, lời nói và muôn ngàn thi vi, phiền não Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn nhất định vô tâm chăng?

Đáp: Nhất định vô tâm. Chỉ vì chúng sanh vọng chấp có tâm, nên liền có tất cả phiền não sanh tử, Bồ-đề Niết-bàn. Nếu giác ngộ vô tâm liền không có tất cả phiền não, sanh tử Niết-bàn. Cho nên Như Lai vì kẻ có tâm nói có sanh tử. 

Chỉ vì chúng sanh vọng chấp có tâm, nên liền có tất cả phiền não sanh tử. Đó là chỗ lầm mê ngàn kiếp của chúng ta. Bởi chấp tâm là thật, cho vọng là thật, nên liền có tất cả phiền não sanh tử, Bồ-đề Niết-bàn. Nếu vừa nổi giận, biết cái giận đó không thật thì phiền não không còn. Vừa khởi tham, biết cái suy nghĩ tham này không thật thì nghiệp tham đâu dấy. Có phiền não sanh tử, Bồ-đề Niết-bàn là tại vì mình chấp có tâm, nếu giác ngộ vô tâm thì không có tất cả. Cho nên Như Lai vì kẻ có tâm mà nói có sanh tử.

Bồ-đề đối với phiền não mà có tên, Niết-bàn đối với sanh tử mà có tên, đó đều là pháp đối trị. Nếu được vô tâm thì phiền não Bồ-đề không thể có, cho đến sanh tử Niết-bàn cũng không thể có. 

Nếu khởi Bồ-đề Niết-bàn là đã hữu tâm rồi. Đây là ngài chỉ thẳng cho thấy, không chút giấu giếm. Trong kinh Lăng-nghiêm, đức Phật quở ngài A-nan, chấp tâm lăng xăng thật là tâm của mình, chẳng khác nào nhận giặc làm con. Lấy vọng để tu, chẳng khác nào lấy cát muốn nấu thành cơm, tốn bao nhiêu công cũng là vô ích, không thể nào được. Cũng vậy, nếu người không ngộ được tâm mà tu thì dù bao nhiêu công phu cũng chỉ có phước sanh vào các cõi hữu vi, hết phước trở lại trầm luân sanh tử. Tu đạo giải thoát mà không được giải thoát, gốc tại hữu tâm. Đạt được lý vô tâm thì còn cái gì làm cho mình luân hồi? Bao nhiêu pháp tu của Phật dạy, đều cốt quy về vô tâm. Nhất tâm tức là vô tâm. Niệm Phật phải nhất tâm, tham thiền phải nhất tâm, trì chú cũng phải nhất tâm.... Tu pháp gì cũng phải nhất tâm. Đó là chỗ thiết yếu. Phật thấy trình độ chúng sanh kém quá, nên Phật dùng phương tiện này, phương tiện kia để cho chúng sanh tu tập, còn các tổ thì chỉ thẳng cho thấy cái gốc để tu, chứ không nói quanh co. 

Hỏi: Bồ-đề Niết-bàn đã không thể có, vậy quá khứ chư Phật đều được Bồ-đề, việc này có ư?

Đáp: Chỉ dùng văn tự của thế đế mà nói thì có, còn với chân đế thì không thể có. Trong kinh Duy-ma nói: “Bồ-đề không thể dùng thân được, không thể dùng tâm được.” Lại kinh Kim Cang nói: “Không một chút pháp có thể được, chư Như Lai do không thể được mà được.” Cho nên, có tâm tức tất cả đều có, vô tâm tức tất cả đều không. 

Đứng về mặt văn tự của thế đế mà nói thì có, nhưng về chân đế, tức là tâm chân như thì không có. Trong kinh Duy-ma nói: “Bồ-đề không thể dùng thân được, không thể dùng tâm được.” Do thân được Bồ-đề hay do tâm được Bồ-đề thì cái đó không phải Bồ-đề. 

Lại kinh Kim Cang nói: “Không một chút pháp có thể được, chư Như Lai do không thể được mà được.” Như vậy rõ ràng không tâm tức là tâm. Có tâm tức tất cả đều có, vô tâm thì tất cả đều không. 

Có vị cư sĩ đến hỏi ngài Tây Đường Trí Tạng, có thiên đường địa ngục, sanh tử Niết-bàn... không? Tất cả ngài đều đáp có. Cư sĩ nói: Hòa thượng nói như thế có lầm chăng? Ngài nói: Ngươi đã từng hỏi ai rồi đến đây? Cư sĩ thưa: Con có hỏi hòa thượng Cảnh Sơn. Ngài nói: Hòa thượng Cảnh Sơn nói với ông thế nào? Cư sĩ thưa: Hòa thượng Cảnh Sơn đáp tất cả đều không. Ngài hỏi lại: Ông có vợ không? Đáp: Có. Hỏi: Hòa thượng Cảnh Sơn có vợ không? Cư sĩ đáp: Không. Ngài nói: Hòa thượng Cảnh Sơn nói không thì được. 

Bởi ông cư sĩ có vợ nên ngài Tây Đường nói cái gì cũng có, còn hòa thượng Cảnh Sơn không vợ nên nói cái gì cũng không. Cũng chừng ấy việc thôi, nhưng mình còn chấp thì cái gì cũng có, còn vô tâm thì cái gì cũng không. Những câu chuyện nói nghe như đùa, mà ngầm chỉ cho chúng ta thấy được lẽ thật, một lẽ thật không bao giờ quên. 

Hỏi: Hòa thượng đã nói tất cả chỗ đều vô tâm, cây đá cũng vô tâm, đâu chẳng giống cây đá sao?

Đáp: Tâm vô tâm của ta nói không đồng với cây đá. Vì sao? Thí như trống trời, tuy vô tâm mà khởi ra muôn ngàn tiếng pháp vi diệu giáo hóa chúng sanh. 

Lại như hạt châu như ý, tuy vô tâm mà tự nhiên khởi ra muôn ngàn biến hiện. Sự vô tâm của ta cũng vậy, tuy vô tâm mà khéo hay giác liễu thật tướng của các pháp, đầy đủ chân Bát-nhã, ba thân tự tại ứng dụng không ngại. 

Nên trong kinh Bảo Tích nói: “Do vô tâm ý mà khởi hiện hành.” Đâu có thể đồng cây đá sao? 

Phàm nói vô tâm tức là chân tâm, nói chân tâm tức là vô tâm. 

Trống trời dịch từ chữ thiên cổ. Trong kinh Hoa Nghiêm nói, khi hàng loạt chư thiên đi ngang qua cái trống ấy thì tự nhiên tiếng trống nổi lên. 

Ba thân là: Pháp thân, báo thân, hóa thân. 

Kinh Bảo Tích nói: “Do vô tâm ý mà khởi hiện hành.” Không có tâm ý mà vẫn đầy đủ bao nhiêu hiện hành, chứ không phải vô tâm như cây đá. Khi nào chúng ta thấy mà không cần thấy, nghe mà không cần nghe, nghĩ mà không cần nghĩ, biết mà chẳng cần biết, lúc đó là có diệu dụng hay chết khô? Vì vậy, vô tâm nhưng không phải như cây đá. 

Phàm nói vô tâm tức là chân tâm, nói chân tâm tức là vô tâm. Có giấu giếm gì đâu, rõ ràng rồi! Tới đây ngài kết luận như vậy không còn gì để chúng ta nói nữa. 

Hỏi: Nay đối với tâm con phải tu hành như thế nào? 

Đáp: Chỉ trên tất cả việc biết một cách rõ ràng. Vô tâm tức là tu hành, chứ không riêng có sự tu hành nào khác. Cho nên, vô tâm tức tất cả, tịch diệt tức vô tâm.

Vô tâm là tu hành chứ không có tu hành nào khác. Nghĩa là làm tất cả, biết tất cả mà vô tâm tức là tu, lúc nào cũng tu; còn lạy Phật tụng kinh mà hữu tâm thì cũng chưa chắc mình đã tu. Đây gọi là trực chỉ, tức chỉ thẳng không dùng phương tiện, cho nên nói vô tâm tức là tất cả, tịch diệt tức vô tâm.

Người đệ tử ngay nơi đó bỗng nhiên đại ngộ, mới biết ngoài tâm không vật, ngoài vật không tâm. Cử chỉ động dụng đều tự tại, đoạn hết chướng nghi, không còn chướng ngại. 

Đến đây không ngộ sao được, hết chuyện nói rồi còn gì mà không chịu ngộ. Nếu không ngộ thì chờ sấm nổ vậy! Tôi cũng xong rồi, quý vị nên nói một một câu thử xem!

Liền đứng dậy đảnh lễ và làm bài minh vô tâm rằng: 

Tâm thần hướng tịch,

Vô sắc vô hình.

Đổ chi bất kiến,

Thính chi vô thanh.

Tợ ám phi ám,

Như minh bất minh.

Xả chi bất diệt,

Thủ chi vô sanh.

Đại tức quách châu pháp giới, 

Tiểu tức mao kiệt bất đình. 

Phiền não hỗn chi bất trọc, 

Niết-bàn trừng chi bất thanh. 

Chân như bổn vô phân biệt, 

Năng biện hữu tình vô tình. 

Thu chi nhất thiết bất lập, 

Tán chi phổ biến hàm linh. 

Diệu thần phi tri sở trắc, 

Chánh mích tuyệt ư tu hành. 

Diệt tắc bất kiến kỳ hoài, 

Sanh tắc bất kiến kỳ thành.

Đại đạo tịch hiệu vô tướng, 

Vạn tượng yếu hiệu vô danh. 

Như tư vận dụng tự tại, 

Tổng thị vô tâm chi tinh. 

Dịch:

Tâm thần về tịch,

Không hình không sắc.

Nhìn đó chẳng thấy,

Nghe đó không tiếng.

Giống tối chẳng tối,

Như sáng chẳng sáng.

Bỏ nó không diệt,

Giữ nó không sanh.

Lớn thời rộng khắp pháp giới,

Nhỏ thời mảy lông chẳng dừng.

Phiền não lẫn nó chẳng nhơ,

Niết-bàn lắng nó chẳng sạch.

Chân như vốn không phân biệt,

Hay hiện hữu tình vô tình.

Thu vào tất cả chẳng lập,

Tán ra biến khắp hàm linh.

Diệu thần chẳng biết chỗ lường,

Với việc tu, dứt kiếm tìm.

Diệt thời chẳng thấy nó đâu,

Sanh thời chẳng thấy nó thành.

Đạo lớn lặng, gọi vô tướng,

Muôn tượng mầu, gọi vô danh.

Như đây vận dụng tự tại, 

Đấy là tinh yếu vô tâm.

Người đệ tử đã ngộ rồi, đứng dậy đảnh lễ làm bài minh:

Tâm thần hướng tịch,

Vô sắc vô hình.

Đổ chi bất kiến,

Thính chi vô thanh.

Tâm thần của mình trở về chỗ tịch tịnh, không có sắc mà cũng không có hình. Nhìn nó thì chẳng thấy, nghe đó thì không tiếng.

Tợ ám phi ám,

Như minh bất minh.

Xả chi bất diệt,

Thủ chi vô sanh.

In tuồng mờ tối mà không phải tối, dường như sáng mà không phải sáng. Chỗ đó là vậy. Chúng ta thường nghe nói sáng rỡ, rồi tưởng là chỗ đó sáng rỡ, chứ thật sự nó không phải sáng mà cũng không phải tối. Từ trước đến giờ bao nhiêu kiếp mình bỏ quên nó, chạy trong vòng luân hồi mà nó cũng không mất. Bây giờ biết rồi thì nó cũng không sanh, chừng ấy việc vậy thôi.

Đại tức quách châu pháp giới, 

Tiểu tức mao kiệt bất đình. 

Phiền não hỗn chi bất trọc, 

Niết-bàn trừng chi bất thanh. 

Lớn thì rộng khắp cả pháp giới, nhỏ thì không có sợi lông nào chen vào được. Phiền não lẫn lộn không nhơ mà Niết-bàn cũng không sạch, nên nói bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh.

Chân như bổn vô phân biệt, 

Năng biện hữu tình vô tình. 

Thu chi nhất thiết bất lập, 

Tán chi phổ biến hàm linh. 

Chân như vốn không có phân biệt mà hay hiện ra hữu tình, vô tình. Nếu gom lại thì tất cả đều không lập, còn buông ra thì khắp hết hàm linh.

Diệu thần phi tri sở trắc, 

Chánh mích tuyệt ư tu hành. 

Diệt tắc bất kiến kỳ hoài, 

Sanh tắc bất kiến kỳ thành.

Cái diệu thần này không phải biết mà có thể đo lường được, tìm kiếm chân chánh là dứt bặt việc tu hành. Nói cách khác cho rõ nghĩa, tức là diệu thần, chánh mích không có chỗ lường, không có việc tu hành. Tại sao? Vì nó như như. Mình tu hành là bỏ vọng, chứ đâu phải tu với bản thể chân tâm. Cho nên khi có người hỏi ngài Triệu Châu: Hòa thượng có tu hành không? Ngài đáp: Nếu nói ta tu hành là đại họa. Nhận được cái đó rồi thì tròn đầy, chỉ không theo vọng tất nhiên trở về chân, chứ có gì mà tu. Nói tu tức là một sự bổ khuyết của thân tâm, mới gọi là tu; còn cái này không thiếu lấy gì mà bổ, không hư lấy gì mà sửa, nên nói không có tu hành. 

Đại đạo tịch hiệu vô tướng, 

Vạn tượng yếu hiệu vô danh. 

Như tư vận dụng tự tại, 

Tổng thị vô tâm chi tinh. 

Đại đạo lặng lẽ gọi là vô tướng, muôn hình tượng gọi là vô danh. Vận dụng được tự tại như thế, chính là tinh yếu của vô tâm. 

Bài minh này giải thích rõ ý nghĩa vô tâm.

Hòa thượng lại bảo rằng: Trong các Bát-nhã, vô tâm Bát-nhã là cao tột. Nên kinh Duy-ma nói: “Dùng không tâm ý, không thọ hạnh mà hay tồi phục ngoại đạo.” Lại kinh Pháp Cổ nói: “Nếu biết vô tâm thì pháp không thể có, tội phước cũng không thể có, sanh tử Niết-bàn cũng không thể có, cho đến tất cả đều không thể có. Không thể có cũng không thể có.” Hòa thượng nói bài tụng rằng: 

Tích nhật mê thời vị hữu tâm, 

Nhĩ thời ngộ bãi liễu vô tâm, 

Tuy phục vô tâm năng chiếu dụng 

Chiếu dụng thường tịch tức như như. 

Dịch:

Ngày xưa lúc mê vì có tâm 

Bấy giờ ngộ rồi rõ vô tâm 

Tuy vô tâm mà hay chiếu dụng 

Chiếu dụng thường tịch tức như như. 

Ngày xưa si mê nên gọi hữu tâm, ngày nay ngộ rồi là vô tâm. Không tâm mà hay chiếu dụng tất cả, tuy có chiếu dụng mà thường lặng lẽ, tức là như như.

Lại nói thêm: 

Vô tâm vô chiếu diệc vô dụng, 

Vô chiếu vô dụng tức vô vi 

Thử thị Như Lai chân pháp giới, 

Bất đồng Bồ-tát vi Bích-chi. 

Dịch:

Vô tâm không chiếu cũng không dụng, 

Không chiếu không dụng tức vô vi. 

Đây là Như Lai chân pháp giới, 

Bích-chi, Bồ-tát khó thể bì. 

Nói vô tâm, tức là không có tướng vọng tâm. 

Vô tâm thì không có chiếu cũng không có dụng, tức gọi là vô vi. Đây là Như Lai chân pháp giới, tới chỗ chân pháp giới đó, Bồ-tát và Bích-chi không bì được. 

Hỏi: Thế nào gọi là Thái thượng?

Đáp: Thái là lớn, thượng là cao. Diệu lý cao tột gọi là Thái thượng. Lại thái là địa vị thông thái. Chư thiên trong ba cõi, tuy có phước sống lâu, nhưng khi hết phước cũng luân hồi trong sáu thú, nên chưa gọi là Thái. 

Hàng Thập trụ Bồ-tát tuy ra khỏi sanh tử, nhưng mà diệu lý chưa cùng cực, nên cũng chưa gọi là Thái. 

Hàng Thập trụ tu tâm, vọng cái có mà vào cái không, lại không có cái có cái không kia. Cả hai đều trừ, chẳng lầm trung đạo, cũng chưa cho là Thái. 

Lại quên trung đạo ba chỗ đều hết, quả vị đến Diệu giác. Bồ-tát tuy trừ ba chỗ mà không thể không có diệu kia, nên cũng chưa cho là Thái. 

Lại quên cái diệu kia thì Phật đạo cùng cực không có chỗ tồn. Không còn nghĩ thì không nghĩ. Tâm trí mê vọng đều hằng dứt, giác chiếu đều hết, lặng lẽ vô vi, đây mới gọi là Thái. 

Thái nghĩa là cực lý, cao tột không thể sánh, nên gọi là Thái thượng, tức tên khác của Như Lai, Phật. 

Thế gian thường nói về Thái thượng, không biết Thái thượng là gì, cho nên đây ngài mới giải thích theo danh từ của thế gian chấp.

Hàng Thập trụ tu tâm, vọng cái có mà vào cái không, lại không có cái có cái không kia. Vọng là vong, vong cái có, tức là bỏ cái có mà vào cái không, cũng không có cái có và cái không. 

Lại quên trung đạo ba chỗ đều hết, quả vị đến Diệu giác. 

Cho đến trung đạo cũng phải bỏ luôn. Ba chỗ tức là bên đây, bên kia và trung đạo đều bỏ hết, lúc đó mới gọi là Diệu giác. 

Đó là chỉ cho pháp thân Phật, chứ không phải báo thân, hay hóa thân.

Đây tuy chỉ là một bài luận ngắn mà rất có giá trị, được khắc trong vách đá lưu truyền đời đời. Nếu người nào duyên trần hơi mỏng thì đọc bài luận này cũng được vô tâm, cho nên tôi gọi là trực chỉ.

Mục Lục