Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 23 - Thiền Tông Nhật - Hàn
Bồ-đề-đạt-ma Thiền Sư Quán Môn

Hỏi: Thế nào gọi là thiền định?

Đáp: Thiền là loạn tâm chẳng khởi, không động không niệm là thiền định. Chuyên tâm dừng niệm, không sanh không diệt, không qua không lại, an nhiên bất động gọi là thiền định. 

Thiền là gì? Vọng tưởng không khởi gọi là thiền. Không động, không niệm đó là thiền định. Không cố chấp trong một tướng ngồi mà đi đứng, làm việc... tâm không qua lại, không đến đi, không dấy loạn thì vẫn là thiền định. Nên nói “đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh thảy an nhiên” là vậy. Còn chúng ta chưa được trong bốn oai nghi đều thiền định, nên phải ráng ngồi chứ không được buông lung.

Hỏi: Thế nào gọi là thiền quán? 

Đáp: Tâm thần lóng lặng gọi là thiền, soi lý rõ ràng gọi là quán. Thiền và quán tự đạt không có lầm lộn gọi là thiền quán. Tâm thần lóng lặng chẳng sanh chẳng diệt, chẳng qua chẳng lại trạm nhiên bất động gọi là thiền. 

Tâm thần lặng lẽ đó là thiền, thấy lý rõ ràng gọi là quán. Lý là cái không tên không họ, lặng lẽ mà không thể thấy, tuy không thấy mà luôn hiện tiền, gọi đó là quán. Thiền và quán thấu đạt không lầm. Tâm lặng lẽ nhưng vẫn thấy biết rõ ràng cái lý không mất, đó là thiền quán. Nếu lặng mà quên mất không biết gì thì không được.

Hỏi: Thế nào gọi là thiền định?

Đáp: Thiền định là tiếng Phạn. Trung Hoa gọi là công đức tụ lâm, tức rừng tích tụ công đức. Chư Phật trong tam giới đều nói thiền tọa, nên gọi là rừng tích tụ công đức.

Do ngồi thiền lặng được những vọng tưởng, bao nhiêu công đức nhân đó mà thành, cho nên gọi là rừng tích tụ công đức.

Hỏi: Thế nào là thiền pháp? 

Đáp: Thiền pháp thông thường có thứ lớp. Người sơ học, trước sau thứ lớp có bảy loại quán môn: Một trụ tâm môn. Hai không tâm môn. Ba vô tướng môn. Bốn tâm giải thoát môn. Năm thiền định môn. Sáu chân diệu môn. Bảy trí tuệ môn.

1. Trụ tâm môn: Nghĩa là khi tâm tán động phan duyên chẳng dừng, chuyên nhiếp niệm dừng lại, không cho vọng động. Đấy gọi là môn trụ tâm. 

Trụ tâm môn nghĩa là khi tâm tán động phan duyên, chạy theo ngoại cảnh không dừng, lúc đó phải chuyên nhiếp niệm dừng lại, không cho vọng động. Chỗ này giống cách ngồi thiền của hàng sơ cơ như chúng ta, ngồi mà tâm tán động quá thì phải cố nhiếp niệm trở lại đừng cho nó chạy, gọi là trụ tâm. 

2. Không tâm môn: Nghĩa là khán tâm, chuyên đoái đến giác tâm không tịch. Không qua lại cũng không chỗ trụ, không có chỗ cho tâm bám, nên gọi là không tâm môn. 

Không tâm môn tức là khán tâm. Nhìn thấy vọng tâm, chỉ nhắm thẳng vào giác tâm không tịch, chứ không chạy theo vọng tưởng, không có chỗ đeo bám. Đây là hạng khá. 

3. Vô tướng môn: Nghĩa là tâm lắng lặng không có tướng mạo. Chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải dài ngắn lớn nhỏ, chẳng phải vuông tròn, mà trạm nhiên chẳng động, nên gọi vô tướng môn. 

Tâm vắng lặng không có tướng mạo xanh vàng đỏ trắng, không có vuông tròn... mà trạm nhiên chẳng động. Khi chúng ta dừng tâm không theo vọng, để sống với giác tâm không tịch, đó là giai đoạn còn đang giằng co đối phó với vọng tâm. Đến lúc vọng dừng rồi, chỉ còn chân tâm lặng lẽ, khi đó mới biết không có hình tướng, cho nên gọi là vô tướng môn.

4. Tâm giải thoát môn: Biết tâm không bị cột trói (hệ phược), tất cả phiền não không đến trên tâm, nên gọi là tâm giải thoát môn. 

5. Thiền định môn: Là tiếng Phạn, đời Đường dịch là Tịnh lự. Giác tâm lặng lẽ, đi đứng ngồi nằm đều lặng lẽ không có tán động, nên gọi tịch tĩnh. 

6. Chân như môn: Nghĩa là giác tâm, vô tâm v.v... đồng như hư không, biến khắp pháp giới, bình đẳng không hai, không biến, không đổi, nên gọi chân như môn. 

Tâm lặng lẽ rồi, thấy rõ không có cái gì làm cho kẹt mắc, không bị cột trói, không gì làm nhiễm ô được, nên gọi là tâm giải thoát môn.

Thiền định môn là trong bốn oai nghi đều lặng lẽ, chứ không phải chỉ trong giờ ngồi thiền mà thôi.

Chân như môn là giác tâm vô tâm, tức là đến chỗ hoàn toàn vô tâm, tới đây mới là thuần thục. 

7. Trí tuệ môn: Biết rõ tất cả danh, gọi là trí. Khế đạt được nguồn không, gọi là tuệ; nên gọi trí tuệ môn, cũng gọi là đạo cứu cánh, cũng gọi là thiền quán đại thừa vô tướng môn. 

Đấy là bảy loại quán môn của người tu thiền học đạo. 

Trí tuệ môn là dùng trí tuệ chiếu soi ngoại cảnh, biết các pháp chỉ là giả danh, gọi là trí. Khế đạt được nguồn không, tức là nguồn chân, thấy suốt cội nguồn của các pháp, thể tánh không tịch trùm khắp không còn mắc kẹt trên hình tướng, gọi là tuệ. Môn trí tuệ này là môn đối chiếu bên ngoài, còn sáu môn trên là tu thẳng nội tâm cho đến thuần thục. Đó là phương pháp của tổ Bồ-đề-đạt-ma chỉ dạy.

Mục Lục