CHƯƠNG V
GIÁO THỪA SAI BIỆT
Hỏi: Ở trên ngài đã khai thị một cách rộng rãi về pháp môn đốn ngộ, kẻ học muộn này thấy đã quá rõ ràng, nhưng còn vài điểm sai biệt trong giáo lý, lại xin ngài tỉ mỉ khai thị cho.
Đáp: Ông cứ hỏi ta sẽ đáp, ta chẳng phụ lòng ông đâu.
Hỏi: Thế nào là muôn pháp về tâm?
Đáp: Như vàng tùy người thợ làm ra nhiều món đồ. Những món đồ ấy cho vào lò nấu chảy ra chỉ có một thể. Muôn pháp về tâm cũng như vậy.
Chúng ta đang sống trong thế giới hiện hữu này, có người có cảnh, gốc là do chúng ta mê chân tâm mà ra. Nếu ngộ chân tâm, biết rõ tất cả các pháp không có tự thể thì mỗi pháp đều quy về chân tâm, chẳng khác nào như tất cả món đồ trang sức đều gốc từ vàng làm ra.
Hỏi: Pháp môn đốn ngộ có sức thù thắng gì?
Đáp: Chánh giải viên tu sức nó vượt qua kiếp số, tuy ở trong sanh tử mà thường vào Niết-bàn, thường ở trong trần lao mà hằng ở trong Tịnh độ, đầy đủ mắt thịt mà mở mắt tuệ, đổi tâm phàm mà đồng với tâm Phật. Tin biết pháp môn đốn ngộ công đức lớn lao hơn cả.
Ngộ được chân tâm, hằng ngày sống đối cảnh mà tâm thanh tịnh, như như bất động, gọi đó là Niết-bàn. Nên nói, thường ở trong trần lao mà hằng ở trong Tịnh độ.
Đầy đủ mắt thịt mà mở mắt tuệ. Như phàm phu thấy cái bàn này là thật, còn chúng ta thấy cái bàn biết là huyễn hóa. Cũng đầy đủ con mắt thịt như mọi người, nhưng chúng ta mở được con mắt trí tuệ, khác nhau chỗ đó. Được vậy thì, đổi tâm phàm mà đồng với tâm Phật, tin biết được pháp đốn ngộ này công đức lớn hơn tất cả.
Hỏi: Minh tâm kiến tánh như người uống nước lạnh nóng tự biết. Lời nói này không có chỗ y cứ?
Đáp: Người học dụng tâm thân thiết, tham cứu lẽ chân thật, chợt được thân tâm nhất như, ánh sáng trí tuệ thoắt phát khởi, thấy từ Không kiếp trở về trước để thân đến chỗ bản giác, có miệng mà khó nói, có viết mà khó thuật. Như người uống nước lạnh nóng tự biết. Muốn mở phương tiện để hiển bày bản tâm, phải mượn giáo thừa để làm thí dụ.
Thấy Không kiếp trở về trước, tức là đạt được bản thể chân tâm từ Không kiếp trở về trước sẵn có. Đến chỗ này phải lấy kinh điển để thí dụ, chứ khó diễn tả được cái thấy của mình, như uống nước lạnh nóng tự biết.
Hỏi: Thiền tông dạy người chẳng xem kinh, nếu gom được chút ít hiểu biết nào, tự thành kẻ tri thức văn tự phải chăng?
Đáp: Muốn nghiên cứu giáo thừa phải tìm tòi trong bảo tạng, mỗi mỗi phải tiêu hóa trở về tự kỷ, lời lời phải thầm hợp với bản tâm, chỉ sợ e chấp văn sanh hiểu, không chịu quy hội về bản thể, cho nên cười chê xem kinh để thành thánh nhân văn tự.
Như vậy ngài có chấp thuận cho mình xem kinh hay không? Cho xem với điều kiện, đọc cái nào cũng phải quy về tự tâm. Thí dụ như trong kinh nói: “Người làm ác sẽ đọa địa ngục, bị quỷ sứ chặt tay, cắt lưỡi v.v...” Nghe vậy rồi cho rằng địa ngục có cái này cái kia, chấp vào cái bên ngoài là lầm. Nếu biết cõi địa ngục khổ sở đó, gốc từ tâm mình tạo ra thì không có lỗi. Cho nên xem kinh mà mỗi mỗi đều quy trở về bản tâm, đừng chấp văn tự, còn chấp văn tự thì các ngài không cho.
Hỏi: Thế nào là mê, thế nào là ngộ?
Đáp: Nhân bản giác chân tâm khởi ra bất giác gọi là mê. Nhân bất giác thành thủy giác, rồi trở về chân tâm gọi là ngộ. Cho nên nói: “Nhân đất mà té, cũng nhân đất mà dậy.” Mê ngộ tuy khác mà chân tâm không hai.
Chúng ta có chân tâm bản giác từ vô thủy đến giờ mà do khởi vọng động nên quên mất. Quên mất thì gọi là mê. Nay nhân cái mê, nếu được giáo hóa hoặc nghe kinh điển Phật nói, thì ngay chỗ bất giác đó mình liền tỉnh ngộ. À! Mình có chân tâm. Như vậy gọi là thủy giác. Từ thủy giác đó trở về ngộ nhập chân tâm, gọi là ngộ. Cho nên nói: “Nhân đất mà té, cũng nhân đất mà dậy.” Mê ngộ tuy khác mà chân tâm không hai. Quên gọi là mê, nhớ lại thì gọi là ngộ, chỉ vậy thôi.
Hỏi: Tại sao người khế lý, đối với chân vọng phải dứt cả hai?
Đáp: Nhân vọng mà nói chân, chân không có tự tướng. Từ chân khởi vọng, nên vọng thể vốn không. Vọng đã vốn không, chân cũng chẳng thành lập. Chân vọng đều dứt cả hai thì bản tâm thường trụ.
Sở dĩ chúng ta còn bị loạn tưởng nhiều là vì bỏ vọng tìm chân, bỏ chân theo vọng. Cứ như vậy, bỏ cái này bắt cái kia nên thành loạn. Bây giờ nếu thấy vọng không thật, vọng hết thì chân cũng không còn lập. Tâm thể yên lặng, thanh tịnh bản nhiên.
Hỏi: Tông môn đốn ngộ đơn đao trực nhập, nào dùng ngôn ngữ bàn luận rộng rãi sai khác?
Đáp: Kẻ sĩ tham cứu lẽ huyền phải có đủ hai mắt: Một là kỷ nhãn để sáng tỏ thiền, hai là trí nhãn để phân biệt được hoặc nghiệp. Thiền Tông nói: “Chỉ sáng tỏ được tự kỷ mà chẳng rõ được việc trước mắt, người như thế chỉ có một mắt, lý đơn sự chiết, rốt lại chẳng viên thông.”
Hỏi, đốn ngộ tức là thẳng đó mà vào, chứ không có bàn luận gì hết phải không? Ngài đáp, kẻ sĩ tham cứu lẽ huyền phải có đủ hai mắt: Một là kỷ nhãn để sáng tỏ thiền. Kỷ nhãn là con mắt ở trong của mình. Trí nhãn là con mắt nhận xét bên ngoài. Nếu con mắt của mình sáng mà đối với người, với cảnh bên ngoài không biết rành thì cũng chỉ có một mắt thôi, như vậy gọi là lý đơn sự chiết, không viên thông.
Nếu cho trí tuệ là quấy thì Đại trí Văn-thù chẳng xưng là con đấng Pháp Vương? Nếu cho dứt học là phải, thì Vô Văn Tỳ-kheo chẳng làm người ở địa ngục. Tất cả đều do cửa ải ý thức bị khóa, nếu không có chìa khóa trí tuệ thì khó mà mở. Tự cho rằng tình tưởng câu khiên, nếu chẳng có gươm trí tuệ thì khó dứt. Người tiến tu viên thông, chớ có chấp bặt lời.
Học không có lỗi, vì học là trí. Nếu cho học là sai thì không được, còn chấp cái học cho là cứu cánh cũng không xong, nên phải đủ cả hai. Trong mở mắt tuệ của mình, ngoài phải có mắt trí nhìn mọi vật. Sở dĩ chúng ta không vượt khỏi vòng luân hồi sanh tử là do ý thức che lấp, nó bít cửa mình ra không được, cho nên phải dùng trí tuệ để phá tan đi. Niệm khởi lên tức là ý thức. Thí dụ vừa dấy niệm lên liền biết nó là giả, đó là phá tan ý thức. Phá tan được cửa ải ý thức rồi, mới có thể giải thoát. Bởi vì tình và tưởng là họa làm cho kẹt mắc trong vòng luân hồi, phải nhờ gươm trí tuệ chặt đứt hai thứ đó thì mới ra khỏi được. Cho nên người muốn tiến tu viên thông không thể nói không học. Tuy nói đơn đao trực nhập, nhưng học để hiểu để tu thì tốt, đừng cố chấp. Học hiểu mà cố chấp thì thành bệnh.
Hỏi: Bậc viên đốn tu chứng trở lại rơi vào nhân quả chăng?
Đáp: Trên đến chư Phật, dưới đến chúng sanh đều thu vào nhân quả, vậy có thể bác không nhân quả sao? Chỉ do ngoại đạo chẳng đạt lý duyên sanh, duy chấp tự nhiên, bác không nhân quả. Hàng Nhị thừa chột mắt chỉ chứng thiên không, trí diệt thân tàn xa lìa nhân quả. Kẻ phàm phu bị nghiệp trói tham đắm năm dục, nên nhà lửa đốt thân, chấp trước nhân quả. Tất cả đều thành cuồng giải, tự mê muội lý viên thường. Chỉ lấy thật tướng làm nhân, thật tướng làm quả, chớ tạo cái chấp bác không mà rơi vào đường tà. Được như vậy mới chóng thành viên nhân, chóng chứng diệu quả.
Những câu hỏi này ngắn mà hay, ngài đáp thật rõ ràng. Trước tiên là hỏi về nhân quả. Bậc viên đốn tu chứng trở lại rơi vào nhân quả chăng? Câu hỏi này tương tợ câu “Bậc đại tu hành có rơi vào nhân quả không?”
Ngài đáp, trên từ chư Phật dưới đến chúng sanh đều ở trong nhân quả thì sao có thể bác không nhân quả. Chỉ do ngoại đạo chẳng đạt lý duyên sanh, chấp vào tự nhiên mới bác không có nhân quả. Hàng Nhị thừa thiên chấp về không, nên xa lìa nhân quả. Kẻ phàm phu thì bị nghiệp trói, tham đắm năm dục, chấp trước kẹt trong nhân quả. Tất cả đều thành cuồng giải, tự mê muội lý viên thường. Chỉ có người tu lấy thật tướng làm nhân, đạt được thật tướng làm quả, thì chẳng tạo cái chấp bác không nhân quả, rơi vào đường tà. Được như vậy mới chóng thành viên nhân, chóng chứng diệu quả. Bởi phát Bồ-đề tâm là nhân, thành Phật là quả. Như vậy, từ chúng sanh đến Phật đều nằm trong nhân quả. Nhưng chúng sanh thì ở trong nhân quả và bị nhân quả chuyển, còn Phật cũng nằm trong nhân quả mà không bị nhân quả chuyển.
Hỏi: Ở đời có những kẻ sĩ khế lý, xưng là đạo nhân vô tâm. Nếu là vô tâm thì đồng như cây đá, do đâu mà các bậc thánh hiền có trí tuệ lớn?
Đáp: Đạo nhân vô tâm chẳng đồng với cây đá, vô tâm là không tâm phân biệt, không tâm yêu ghét, không tâm thủ xả, không tâm thiện ác, không tâm có không, không tâm ở giữa hay một bên, không tâm trong ngoài, không tâm chấp trước, chứ chẳng phải không chân tâm linh tri tịch chiếu.
Thông thường người ta quan niệm, có suy nghĩ là hữu tâm, không suy nghĩ thì gọi là vô tâm. Nghe nói vô tâm thì tưởng là không biết, giống như cây đá. Ở đây ngài giải thích, vô tâm là không vọng tâm chấp trước có không, phải quấy, hơn thua v.v... chứ không phải không có chân tâm linh tri tịch chiếu, nói vô tâm như cây như đá, đó là lầm.
Hỏi: Người xưa nói: “Chớ bảo vô tâm ấy là đạo, vô tâm còn cách một lớp cửa.” Vậy thế nào?
Đáp: Chân tâm hư huyền chẳng có chẳng không. Nếu bỏ có, trụ không trở thành lỗi lớn. Cổ đức có kệ rằng:
Khuyến quân học đạo mạc tham cầu,
Vạn sự vô tâm đáo hợp đầu,
Vô tâm thủy thể vô tâm đạo,
Thể đắc vô tâm vô dã hưu.
Dịch:
Khuyên anh học đạo chớ tham cầu,
Muôn sự không tâm đến hợp đầu,
Không tâm thể nhập không tâm đạo,
Nhập được không tâm, không cũng thôi.
Bài kệ này cho thấy nếu chấp vô tâm là đạo thì cũng còn kẹt. Khuyến quân học đạo mạc tham cầu, khuyên anh học đạo chớ tham cầu.
Vạn sự vô tâm đáo hợp đầu, đối với vạn sự vạn vật đều không khởi tâm thương ghét, chấp có chấp không... mới phù hợp, mới thích ứng.
Không tâm thể nhập không tâm đạo, được vô tâm mới thể nhập được đạo vô tâm.
Thể đắc vô tâm vô dã hưu. Khi thể nhập được đạo vô tâm rồi thì cái vô đó cũng phải bỏ luôn. Nhập rồi mà còn chấp vào cái vô đó, tức còn một lớp cửa, là còn kẹt mắc. Không chấp mới gọi là xong việc.
Hỏi: Thế nào gọi là không biết mà biết, biết mà không biết?
Đáp: Không biết là thể của tâm, biết là dụng của tâm. Thể hay phát ra diệu dụng không biết mà biết. Dụng chẳng lìa thể biết mà không biết. Dụng nếu lìa thể là cái biết trụ tướng. Thể nếu không dụng gọi là ngoan không.
Không biết là thể của tâm, biết là dụng của tâm. Thể là không biết mà hay phát khởi ra diệu dụng là biết. Dụng chẳng lìa thể, biết mà không biết. Bởi vì dụng không rời thể, nên tuy có biết mà cũng hợp với thể là không biết. Nếu dụng lìa thể thì cái biết trụ tướng, như vọng tưởng phân biệt các pháp, nhưng vì không hợp với thể nên nó thuộc về cái biết trụ tướng. Thể nếu lìa dụng gọi là ngoan không, thể mà không biết thì cái thể thành ngoan không rồi. Chỗ này phải nhớ rõ, thể là không biết nhưng cái dụng là biết. Dụng không lìa thể nên không biết mà biết, thể không rời dụng nên biết mà không biết, biết đó là cái biết thật. Còn biết mà bỏ thể thì cái biết đó là cái biết hư vọng chấp tướng.
Hỏi: Thế nào gọi là có niệm mà biết là vọng?
Đáp: Sáu căn đối cảnh động niệm phân biệt, có niệm mà biết, nên cho là vọng.
Khi sáu căn tiếp xúc với ngoại cảnh động niệm phân biệt, niệm biết đó là vọng. Thí dụ thấy một người bước tới, tôi liền khởi nghĩ phân biệt về họ, gọi là có niệm mà biết, nên thuộc về vọng. Còn thấy người chỉ thấy, không khởi niệm phân biệt gì, thì đó là biết mà không vọng.
Hỏi: Thế nào vô tâm mà biết là chân?
Đáp: Chân tâm ứng vật như gương soi hình tượng, vô tâm mà biết nên gọi là chân.
Hình tượng hiện bày đầy đủ nhưng không khởi vọng tưởng phân biệt, cho nên gọi là vô tâm mà biết, cái đó mới thật là chân.
Hỏi: Thế nào là chánh tri kiến?
Đáp: Chẳng nương căn trần mà có tri kiến là chánh. Nương gá căn trần mà khởi tri kiến là tà.
Không nương căn trần mà khởi tri kiến là chánh. Như khi nhắm mắt mở mắt, có nghe hay không nghe cũng vẫn có cái biết thường nhiên, cái thấy biết đó gọi là chánh. Đợi cảnh tới mắt mới thấy, có tiếng đến tai mới nghe, cái biết đó là do nương gá căn trần mà khởi, nên thuộc về tà.
Hỏi: Thế nào là Tam bảo?
Đáp: Nhất tâm không tịch là Phật bảo. Tịch mà thường chiếu soi là Pháp bảo. Chiếu soi mà không nhiễm đó là Tăng bảo.
Ở đây ngài giải thích theo nghĩa Nhất thể Tam bảo. Nhất tâm không tịch, tâm thể lặng lẽ là Phật bảo. Tâm thể lặng lẽ khởi ra dụng chiếu soi, có vọng liền biết là Pháp bảo. Đối cảnh chiếu soi mà không nhiễm là Tăng bảo. Như vậy, Phật Pháp Tăng không rời mình, sẵn ở nơi mình không phải tìm đâu xa.
Hỏi: Thế nào là cúng Phật một cách chân chánh?
Đáp: Bỏ mình để chạy theo vọng trần là trái với chân Phật, soi trở lại về tâm là cúng Phật chân chánh.
Cúng Phật chân chánh là gì? Bỏ mình để chạy theo vọng trần, tức bối giác hợp trần, là trái với chân Phật. Trở về tâm, phản chiếu lại bản giác là cúng Phật chân chánh. Như vậy, không phải đợi đem hương hoa phẩm vật dâng lên mới gọi là cúng Phật, mà hằng ngày phải biết phản quan tự kỷ, tức là xoay lại trở về với Phật tánh sẵn có của mình, đó mới thật là cúng Phật chân chánh.
Hỏi: Thế nào là nghe pháp chân chánh?
Đáp: Sáu căn đối cảnh sáu thức chẳng sanh, chân tâm độc chiếu là nghe pháp chân chánh.
Sáu căn đối cảnh mà không có vọng thức phân biệt, chân tâm bên trong lặng lẽ riêng chiếu soi, đó mới thật là nghe pháp chân chánh, còn nghe mà lệ thuộc ở ngoài là không thật nghe.
Hỏi: Thế nào là xuất gia chân chánh?
Đáp: Chẳng trụ ngôi nhà ngũ uẩn, ấy gọi là người xuất gia chân chánh.
Người xuất gia chân chánh đối với ngũ uẩn không chấp trước kẹt mắc, còn đắm mến ngũ uẩn là chưa phải xuất gia.
Hỏi: Thế nào là chẳng trụ năm uẩn?
Đáp: Thấy chẳng nương vào căn thì sắc uẩn không. Đối cảnh vô tâm thì thọ uẩn không. Biết mà không biết thì tưởng uẩn không. Tâm tâm không nhiễm thì hành uẩn không. Chân tâm thường trụ thì thức uẩn không.
Không trụ trong nhà năm uẩn là người xuất gia chân chánh. Có ai xuất gia được vậy chưa? Các vị thiền sư gặp tăng thường hỏi, ông xuất gia chưa? Chúng ta lấy làm lạ, người ta đang ở chùa làm sư mấy chục năm mà hỏi xuất gia chưa! Nếu cứ tưởng xuất gia là cạo tóc vô chùa thôi là chưa đúng ý nghĩa này.
Hỏi: Thế nào là không tức sắc, sắc tức không?
Đáp: Thấy không rồi trụ không, là không tức sắc. Thấy sắc chẳng trụ sắc, là sắc tức không.
Đây ngài giảng quy về tâm, không nhắm vào văn tự. Thấy không mà chấp nơi không, là không tức sắc. Thấy sắc không kẹt sắc, đó là sắc tức không. Ngài chỉ nói chấp và không chấp, không chấp thì sắc tức không, chấp thì không tức sắc, chứ không giải thích theo lý nhân duyên.
Hỏi: Thế nào tức tâm tức Phật?
Đáp: Tâm và Phật không hai, chớ hướng bên ngoài mà tìm cầu.
Hỏi: Thế nào là phi tâm phi Phật?
Đáp: Phá cố chấp, trừ hiểu biết, tâm và Phật vốn không.
Câu trên là nói tức tâm tức Phật, cho người đừng kẹt tìm Phật ở bên ngoài mà phải hướng về tâm để cầu Phật. Câu dưới là nói phi tâm phi Phật, để phá chấp tâm là Phật, chấp cái hiểu biết là Phật. Cốt chỉ cho thấy tâm và Phật đều là giả danh không thật, nên nói vốn không.
Hỏi: Thế nào là ba tâm không thể được?
Đáp: Quá khứ, vị lai, hiện tại, ba tâm xưa nay vốn không tịch. Bỗng vọng khởi ra hoa đốm giữa hư không, làm che khuất cái viên minh chân thật.
Ba tâm không thể được vì ba tâm đó là vọng, nó che lấp tâm chân thật. Nếu chấp cho là thật thì không bao giờ thấy được cái viên minh.
Hỏi: Thế nào gọi là chân không?
Đáp: Chân tâm thể tịch, máy mầu khởi dụng chiếu soi. Tịch và chiếu không hai gọi đó là chân không.
Chân tâm thể vắng lặng gọi là không. Chính nơi cái không đó, thể nó vắng lặng mà khởi ra những diệu dụng chiếu soi khôn lường, tịch và chiếu không lìa nhau, tuy không mà chẳng không, nên gọi là chân không.
Hỏi: Thế nào gọi là diệu hữu?
Đáp: Đồng chiếu soi lẽ hữu vô, phân biệt rõ ràng, nhưng chẳng rơi vào năng sở, gọi là diệu hữu.
Soi biết tất cả mà không mắc kẹt trong tất cả, không thấy có năng và sở, tức là người hay thấy và cảnh bị thấy thì gọi là diệu hữu.
Hỏi: Thế nào nói rằng “chỉ được gốc chớ lo ngọn”?
Đáp: Nếu ngộ được chân tâm vốn không thì muôn pháp tự nhiên tiêu mất.
Nếu ngộ được chân tâm, thấy tất cả vọng tưởng, các thứ hình tướng vốn là không thì muôn pháp tự nhiên tiêu mất, không còn cái gì làm mắc kẹt nữa.
Hỏi: Thế nào gọi là phiền não tức Bồ-đề, vô minh tức Phật tánh?
Đáp: Niệm trước sanh tức là phiền não, niệm sau chẳng trụ tức là Bồ-đề. Niệm trước động tức là vô minh, niệm sau chẳng tiếp tục tức là Phật tánh.
Niệm trước sanh tức là phiền não, niệm sau chẳng trụ tức Bồ-đề. Câu đáp này giống như Lục Tổ nói. Niệm trước chấp thì là phiền não, niệm sau biết cái chấp đó là sai liền xả đi, tức là Bồ-đề. Thí dụ có ai làm gì trái ý mình nổi giận, khi đó liền biết nổi giận là sai nên không giận nữa. Như vậy, ngay nơi phiền não mà biết phiền não, đó là Bồ-đề. Sự tu ở ngay trong tâm, không phải kiếm Bồ-đề ở đâu xa.
Niệm trước động tức là vô minh, niệm sau chẳng tiếp tục tức là Phật tánh. Như mình khi không bỗng dấy lên một niệm nghĩ gì đó, thì gọi là niệm động. Niệm động tức là vô minh. Nếu lúc ấy biết cái động là vọng, tánh nó là không, không theo thì nó liền hết. Niệm sau không tiếp tục, niệm đó phù hợp với Phật tánh. Ngay khi niệm khởi vọng động chúng ta không chấp nhận thì niệm tự lặng, lặng xuống tức là Phật tánh. Được vậy thì hằng ngày chúng ta luôn sống trong Phật tánh, sống trong Bồ-đề, chứ không đi kiếm Phật tánh ở nơi nào hết.
Hỏi: Thế nào là thường chẳng lui?
Đáp: Người ngộ bản tâm, gồm cả giới tu chứng, một đời có thể xong, vĩnh viễn không lui rớt. Kẻ nương văn giải nghĩa, tập khí nặng, tâm trôi nổi, không gồm tu quán và giữ giới, khi gặp duyên tự lui sụt.
Thường chẳng lui hay còn nói là thường bất thối. Thường bất thối là gì? Nghĩa là khi ngộ được bản tâm mà biết giữ giới, tu hành và chứng nhập được, thì một đời có thể tiến lên, công phu không lui sụt. Nếu cứ chấp vào chữ nghĩa, tập khí nặng, tâm cứ chạy theo cảnh mà không chịu tu quán, không giữ giới, gặp duyên thì phải bị lui sụt.
Hỏi: Thế nào gọi là Lục độ?
Đáp: Đốn ngộ chân tâm là đầy đủ Lục độ.
Hỏi: Thế nào ngộ chân tâm đầy đủ Lục độ?
Đáp: Nếu ngộ chân tâm hành Lục độ có căn bản, còn mê chân tâm hành sáu độ như mù. Cớ sao chân tâm bảo là căn bản? Chẳng ngộ chân tâm mà hành bố thí, thì một đời được vinh hiển, sau sẽ chịu họa tai. Chẳng ngộ chân tâm mà trì giới, thì sanh lên cõi trời Dục giới, hết phước trở lại rơi vào ngục nê-lê. Chẳng ngộ chân tâm mà hành nhẫn nhục, thì được quả báo đoan chánh, nhưng chẳng chứng tịch diệt. Chẳng ngộ chân tâm mà tinh tấn, thì luống tăng thêm sự sanh diệt, công phu chẳng đến được lẽ chân. Chẳng ngộ chân tâm mà thiền định, chỉ đi trong cõi trời Sắc giới, chứ chẳng về được pháp giới. Chẳng ngộ chân tâm mà có trí tuệ, thì khéo hiểu ngữ nghĩa, tất cả đều thành hữu lậu. Ngộ chân tâm này thì thành tựu được muôn đức. Mê chân tâm này thì công hạnh bày ra đều rỗng.
Người ngộ được chân tâm thì đầy đủ Lục độ và thực hành Lục độ có căn bản, còn người mê chân tâm thì hành Lục độ như mù. Tại sao?
Bởi vì chẳng ngộ chân tâm mà hành bố thí thì một đời được vinh hiển, sau sẽ chịu họa tai. Nghe nói bố thí có phước rồi cứ đưa ra bố thí, nên có phước vẫn có phước mà không giải thoát được.
Chẳng ngộ chân tâm mà trì giới thanh tịnh thì sanh lên các cõi trời Dục giới, nhưng khi hưởng hết phước rồi phải rơi trở xuống, có tội thì vào ngục nê-lê. Nếu hành nhẫn nhục thì được quả báo đoan chánh đẹp đẽ, nhưng chẳng chứng quả tịch diệt.
Chẳng ngộ chân tâm mà tinh tấn thì cũng chỉ luống tăng thêm sự sanh diệt, vì cái gắng gổ đó không hợp với thể tánh chân tâm, nên cũng là gắng gổ trong sanh diệt mà thôi, công phu không thể đến được chỗ chân thật bất sanh bất diệt.
Chẳng ngộ chân tâm mà thiền định thì đi trong cõi trời Sắc giới, chứ chẳng về được pháp giới. Chỉ chứng được từ Sơ thiền, Nhị thiền, cao lắm là tới Tứ thiền, mà Tứ thiền là quả vị ở trong cõi Sắc giới, chưa phải chứng quả giải thoát.
Chẳng ngộ chân tâm mà có trí tuệ khôn ngoan thì hiểu được chữ nghĩa nhiều, ăn nói lưu loát, nhưng đều nằm trong hữu lậu. Ngộ chân tâm thì thành tựu được muôn đức, mê chân tâm thì công hạnh bày ra đều rỗng, làm gì rồi cũng nằm trong sanh diệt.
Cho nên tu ngộ được chân tâm là điều hết sức quan trọng. Nhận ra bản thể chân tâm bất sanh bất diệt, rồi y cứ vào đó khởi tu mới đạt được quả bất sanh bất diệt, còn lấy cái sanh diệt mà cầu quả bất sanh bất diệt thì chẳng khác nào như trong kinh Lăng-nghiêm nói, nấu cát muốn thành cơm mà thôi.
Hỏi: Thế nào là giới định tuệ, ba môn học vô lậu?
Đáp: Bên ngoài chẳng tìm có, bên trong chẳng giữ không gọi là giới. Một niệm chẳng sanh, muôn duyên không lặng gọi là định. Khéo hay phân biệt mà chẳng sanh yêu ghét gọi là tuệ. Ba môn vô lậu này là sự học của Đại thừa.
Giữ giới là không chấp có, không chấp không. Định là không vọng tưởng, vọng niệm không dấy khởi, tâm an tịnh. Tuệ là đối cảnh duyên vẫn thấy vẫn biết mà không phân biệt, không yêu ghét. Đó là ba môn học vô lậu của Đại thừa.
Hỏi: Thế nào là tam học của Tiểu thừa?
Đáp: Chỉ chấp nơi thân, đoạn tứ trụ bệnh gọi là giới. Thân hình đồng như cây khô, dứt sự hiển hiện oai nghi gọi là định. Chỉ chứng thiên không, mất lý trung đạo gọi là tuệ. Cho nên gọi là pháp nghèo, là vùi lấp định tuệ. Ngài Tịnh Danh quở đó là pháp Tiểu thừa mà thôi.
Đây nói về tam học của Tiểu thừa. Giữ giới là chỉ chấp nơi thân, trừ bệnh tứ trụ. Định là thân hình ngồi yên như cây khô, ai tới cũng không biết, ai làm gì cũng không. Tuệ là chỉ chứng thiên không mà không được lý trung đạo. Cho nên ngài Tịnh Danh mới quở đó là pháp Tiểu thừa.
Như vậy định của Tiểu thừa và định của Đại thừa khác nhau. Một bên nặng về quên thân quên cảnh, chỉ còn một thân yên lặng. Một bên thì trong bốn oai nghi tâm vẫn thanh tịnh, không động không lay. Do có chỗ sai khác nên phân chia thành Tiểu thừa, Đại thừa.
Hỏi: Người mới phát tâm tập định từ đâu mà vào?
Đáp: Kẻ sơ tâm học tam-muội, nên cột tâm vào một duyên, tập lâu được định, chân tuệ tự nhiên phát khởi.
Ban đầu phải cột tâm, mỗi người mỗi cách, tùy theo căn cơ riêng biệt mà dùng một duyên để cột nó, lâu ngày được định, trí tuệ chân thật tự nhiên phát khởi.
Hỏi: Thiền có mấy loại?
Đáp: Thiền có năm loại.
Hỏi: Năm loại thế nào?
Đáp: Một là người khởi kiến chấp khác, thích cõi trên chán cõi dưới mà tu, đấy gọi là thiền ngoại đạo. Hai là người chánh tín nhân quả, cũng lấy tâm hân yểm (thích chán) mà tu, đó là thiền phàm phu. Ba là người liễu ngộ lý sanh không, nghiêng chứng chân đạo mà tu, đấy là thiền Tiểu thừa. Bốn là ngộ được người và pháp đều không, hằng trụ ở lý Trung mà tu, đó là thiền Đại thừa. Năm là người vượt khỏi những dị kiến, các pháp bình đẳng mà chứng, đấy là thiền Như Lai.
Cách giải thích năm loại thiền này đúng theo như ngài Khuê Phong giải thích.
Một là thiền ngoại đạo. Khởi kiến chấp khác, thích cõi trên chán cõi dưới mà tu.
Hai là thiền phàm phu. Chánh tín nhân quả, lấy tâm ưa chán mà tu.
Ba là thiền Tiểu thừa. Liễu ngộ lý sanh không, thấy ngã không thật, nghiêng chứng chân đạo mà tu.
Bốn là thiền Đại thừa. Thấy ngã pháp cả hai đều không thật, hằng trụ ở lý trung đạo mà tu.
Năm là thiền Như Lai. Vượt khỏi những dị kiến, không còn thấy hai, không thấy có không, phải quấy, thật giả v.v... các pháp bình đẳng mà chứng. Hay nói cách khác, là đạt được bản thể chân tâm thanh tịnh, không có một cái riêng biệt sai khác nào, y cứ đó mà tu mà chứng, gọi là thiền Như Lai.
Hỏi: Thế nào gọi Như Lai?
Đáp: Tịch chiếu không hai gọi là Như, bi nguyện chẳng bỏ gọi là Lai. Kẻ phàm phu lai mà chẳng như, Tiểu thừa như mà chẳng lai, chỉ có Phật thừa như mà hay lai.
Tịch là thể, chiếu là dụng, thể và dụng không hai gọi là Như. Đạt được bản thể chân tâm đầy đủ diệu dụng, khởi đại bi nguyện độ chúng sanh, gọi là Lai. Kẻ phàm phu lai mà chẳng như, là sao? Tức bị duyên nghiệp lôi mà sanh ra trong cõi trần nên gọi là lai, nhưng không đạt được thể tịch chiếu cho nên chẳng như. Tiểu thừa như mà chẳng lai, vì tuy đạt được thể tịch chiếu mà không có bi nguyện độ sanh. Chỉ có Phật thừa như mà hay lai, tức là ngộ Phật tánh của mình, đạt thể tịch chiếu không hai, khởi bi nguyện độ chúng sanh, đầy đủ cả hai mới gọi là Như Lai.
Hỏi: Thế nào là ba pháp quán Không Giả Trung?
Đáp: Phản chiếu tự tâm vốn không chỗ khởi, chỗ khởi vốn không gọi là Không quán. Từ chỗ không khởi mà vọng sanh ra các pháp, các pháp chẳng thật, gọi là Giả quán. Không, Giả vốn không, chẳng dừng lại hai đầu, toàn thể là chân tâm, gọi là Trung quán.
Phản chiếu tự tâm, nhìn lại những vọng niệm thấy tột cùng vọng đó là không, không từ đâu sanh, gọi đó là Không quán. Biết vọng niệm gốc là không, do duyên sanh ra các pháp, vì vậy các pháp là hư giả, gọi là Giả quán. Không và giả đó rốt cuộc cũng là đối đãi không thật, nên nói không dừng lại hai đầu; biết như vậy thì lúc đó toàn thể là chân tâm, nên gọi Trung quán.
Hỏi: Thể dụng của chân tâm phân chia như thế nào?
Đáp: Thể của chân tâm thì mênh mang mà không lặng. Dụng của chân tâm thì rõ ràng giác biết. Mênh mang không lặng chẳng đồng với ngoan không, nó lặng mà thường chiếu soi. Rõ ràng giác biết chẳng phải là sự nhiễm trước của thức, nó chiếu soi mà thường lặng, lặng và chiếu chẳng hai gọi là chân tâm.
Thể của chân tâm thì rộng khắp mà lặng lẽ. Dụng của chân tâm thì rõ ràng thường biết. Nói cho dễ hiểu là, ở bên trong lặng lẽ mà thường chiếu soi, tức là hằng biết. Tuy thường biết mà vẫn luôn lặng lẽ. Lặng lẽ thường biết không hai, đó là chân tâm. Thường biết là chiếu, lặng lẽ là tịch.
Hỏi: Thế nào là không nơi chốn, không chỗ nào chẳng nơi chốn?
Đáp: Chân tâm thể nó không, nên nói không nơi chốn. Thể không ấy biến khắp, nên không chỗ nào chẳng nơi chốn.
Chân tâm không có hình dáng tướng mạo, thể của nó rỗng rang. Bởi rỗng rang nên trùm khắp như hư không. Thí dụ cái tách này, khoảng trống trong cái tách là hư không, bây giờ đập nát cái tách ra thì hư không ấy đi về đâu? Thử chỉ ra xem? Không thể chỉ được, vì hư không không có hình tướng cho nên không bị kẹt đây kia. Bây giờ hư không ở trong cái tách thì nói là hư không của cái tách, nếu cái tách rã ra thì hư không là cả bầu trời chứ không còn riêng nữa. Cũng vậy, vì chân tâm thể không, cho nên trùm cả pháp giới. Bởi không hình tướng nên không có nơi chốn, tuy không nơi chốn mà đâu đâu cũng là nơi chốn, biến mãn đầy khắp.
Hỏi: Chân tâm biến khắp không chỗ nào chẳng nơi chốn. Tại sao thân biết mà chỗ khác chẳng biết?
Đáp: Chân tâm thể nó rỗng, pháp giới nhất như, tùy duyên mà khởi hiện, chỗ ứng hợp mới biết.
Câu hỏi này nghe hơi khó hiểu, nói chân tâm trùm khắp không chỗ nào chẳng biết, ở trong thân này ai đánh đập, đốt thiêu gì cũng biết. Trùm khắp thì tại sao nơi thân biết mà ngoài kia thì không biết?
Ngài đáp, chân tâm thể rỗng lặng, tùy duyên khởi hiện, chỗ ứng hợp mới biết. Tôi tạm lấy theo khoa học để nói cho dễ hiểu. Như đài phát thanh, khi phát ra làn sóng điện theo tần số nào đó, nếu người có radio vặn tới tần số ấy thì nghe được âm thanh phát ra đầy đủ, còn người không có radio thì im lìm không thấy không nghe gì hết. Làn sóng điện đó phủ khắp hay chỉ có một lằn chạy thẳng tới cái máy của người kia? Nó phủ khắp, nếu đủ duyên thì có đủ công dụng để phát ra, còn không thì im lìm nên mình tưởng là không có. Mượn làn sóng điện để tạm hiểu, chân tâm cũng vậy, trùm khắp nhưng phải có duyên ứng hợp mới biết.
Hỏi: Thế nào là bốn đảo của phàm phu?
Đáp: Đảo thứ nhất, thân chẳng tịnh mà tưởng là tịnh. Đảo thứ hai, thọ vốn là khổ mà tưởng là vui. Đảo thứ ba, vọng tâm không thường mà tưởng là thường. Đảo thứ tư, vốn trong vô ngã mà tưởng là ngã. Bốn cái tưởng lộn ngược này là phàm phu chấp có.
Hỏi: Thế nào là bốn đảo của Nhị thừa?
Đáp: Thứ nhất, thân không vốn tịnh mà khởi tưởng rằng chẳng tịnh. Thứ hai, thọ vốn không chỗ nơi mà khởi tưởng rằng khổ. Thứ ba, tâm vốn chân thường mà khởi tưởng là vô thường. Thứ tư, vô ngã tức chân ngã mà khởi tưởng là vô ngã. Bốn cái tưởng lộn ngược này, hàng Nhị thừa rơi vào không.
Bốn đảo của hàng phàm phu và Nhị thừa khác nhau. Thứ nhất, phàm phu nơi thân bất tịnh mà thấy là tịnh là đẹp đẽ, còn hàng Nhị thừa thì thấy thân ô uế chẳng tịnh. Sự thật thân đẹp đẽ hay ô uế? Ô uế bất tịnh. Vậy Nhị thừa thấy thân bất tịnh là đúng lẽ thật, tại sao cũng bị gọi là đảo? Bởi Nhị thừa nhìn thân này là thân máu thịt nên thấy nhơ nhớp, còn Bồ-tát nhìn thân này là duyên khởi, thể tánh của nó là rỗng không thì nói gì là nhơ sạch. Cho nên nói thân thật như phàm phu là sai, mà nói nhơ như Nhị thừa cũng sai.
Thứ hai, phàm phu nơi thọ vốn là khổ mà tưởng là vui. Khi lưỡi nếm thức ăn ngon, tai nghe tiếng hát hay, mắt thấy sắc đẹp... phàm phu cho cảm thọ đó là vui. Nhị thừa trái lại, thọ vốn là không mà khởi tưởng rằng khổ. Như lưỡi đang nếm món ngon, nuốt xuống là mất, thọ lạc chỉ có một chút, nó thuộc vô thường, mà vô thường tức là khổ. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi... cũng vậy, thoáng qua rồi mất. Cho nên Nhị thừa thấy tất cả pháp vô thường, sự thọ nhận đều là khổ. Hàng Bồ-tát thì thấy thọ nhận khổ vui chỉ là giả, không thật. Thí dụ tai nghe tiếng khen, tiếng chửi... đều biết nó là duyên hợp huyễn hóa. Vì duyên hợp nên nó không thật. Thọ vốn là không thì làm sao mà khởi tưởng là khổ vui được.
Thứ ba, phàm phu nơi vọng tâm không thường mà tưởng là thường. Nhị thừa thì tâm vốn chân thường mà khởi tưởng là vô thường. Thể của tâm là chân thường, hàng Nhị thừa chỉ thấy cái vọng sanh diệt mà không phân biệt vọng và chân, nên khởi tưởng tâm là vô thường. Chẳng khác nào muốn đổ cát mà đổ luôn cả vàng trong đó. Vọng tâm sanh diệt là vô thường, còn chân tâm thường trụ thì sao nói là vô thường được.
Thứ tư, phàm phu vốn trong vô ngã mà tưởng là ngã, chấp cho thân này thật có cái ta. Hàng Nhị thừa, vô ngã tức là chân ngã mà khởi tưởng là vô ngã, tức thấy thân này do ngũ uẩn giả hợp không có chủ tể nên nói là vô ngã. Đại thừa thì thấy chỗ không có chủ tể lại có Phật tánh thường trụ, trong cái vô ngã vẫn có chân ngã, mà người ta tưởng lầm là vô ngã rồi bỏ quên luôn. Bởi do bốn tưởng lộn ngược này nên hàng Nhị thừa rơi vào không, không nhận được chân tâm thường trụ bất sanh bất diệt.
Hỏi: Thế nào lìa tám cái đảo, được thường lạc ngã tịnh?
Đáp: Tất cả chúng sanh ở trong sanh tử, vọng khởi chấp trước bốn đảo thường lạc ngã tịnh. Hàng Nhị thừa ở trong Niết-bàn, vọng cầu giải thoát đoạn bốn đảo. Chư Phật Như Lai xa lìa tám đảo, được thường lạc ngã tịnh, chứng bốn ba-la-mật.
Chỉ có chư Phật mới xa lìa được tám đảo chứng bốn ba-la-mật, tức là bốn thứ cứu cánh.
Hỏi: Chân tâm vô phân biệt, nếu là vô phân biệt như đi trong đêm đen, mờ tối chẳng biết?
Đáp: Phàm luận về phân biệt có ba loại: Một là căn thức mới sanh tùy niệm phân biệt, hai là ý thức liễu biệt kế độ phân biệt, ba là chân tâm ứng vật như gương chiếu hình tượng, sáng suốt rõ ràng, giống như có phân biệt.
Hỏi, nếu chân tâm vô phân biệt thì như đi trong đêm đen, mờ mờ mịt mịt đâu có biết cái gì?
Ngài đáp, chân tâm ứng vật như gương chiếu soi, giống như có phân biệt mà không phải là phân biệt.
Hỏi: Thầy đã giải bày có ba loại phân biệt. Cái nào là chân, cái nào là vọng?
Đáp: Căn thức, ý thức phân biệt đều là vọng. Chân tâm ứng vật rõ ràng thường biết, tuy giống như phân biệt mà thật thì vô phân biệt.
Thường biết rõ ràng, giống như phân biệt mà không có phân biệt. Lâu nay người học đạo thường lầm lẫn chỗ này, nhận không ra. Lầm một chút là đã lệch qua cái khác rồi.
Hỏi: Thân Phật vô hình, dụ như hư không, do đâu lại có tướng sáu căn?
Đáp: Ngay nơi tướng để sáng tỏ cái chân, nào trái với đại dụng? Thắng nghiệp lợi tha chẳng dứt cửa giáo hóa này. Cổ đức có kệ rằng:
Như hư không vô tướng,
Nhi hiện sắc đẳng tướng,
Pháp thân diệc như thị,
Cụ túc lục căn tướng.
Dịch:
Như hư không không tướng,
Mà hiện các tướng sắc...
Pháp thân cũng như vậy,
Đầy đủ tướng sáu căn.
Nói về phương diện lợi tha thì ngay nơi sáu căn mà hiển bày. Như cổ đức nói, pháp thân không có hình tướng, nhưng chính trong đó hiện ra các thứ hình tướng.
Hỏi: Thế nào là chân giải thoát?
Đáp: Sáu căn chiếu cảnh, không bị cảnh trói buộc, tất cả chẳng trụ gọi là chân giải thoát.
Chiếu cảnh tức là tiếp xúc với cảnh. Sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý, tiếp xúc với sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp, mà không dính mắc, không bị trói buộc đó là chân giải thoát. Thông thường người ta cứ lầm, giải thoát là biết bay lên trời, nhưng không ngờ dù cho biết bay vẫn chưa giải thoát, mà phải sáu căn không dính mắc sáu trần, mới thật sự là giải thoát.
Hỏi: Thế nào là hàng ma?
Đáp: Từ bi nhẫn nhục với kẻ dưới là hàng thế ma. Nhất tâm không hai là hàng phục tâm ma. Chẳng dùng diệu thuật linh phương mà bầy ma trong, ma ngoài tự lui.
Thế nào là hàng ma? Câu hỏi này thật quan trọng. Ngài đáp, từ bi nhẫn nhục với kẻ dưới là hàng thế ma. Tại sao? Thí dụ những người tu đi ra đường gặp mấy đứa con nít ghẹo thầy chùa, lúc đó chỉ cần từ bi nhẫn nhục làm thinh đi thì nó im lặng, nếu rầy nạt nó thì không những ghẹo thôi mà nó còn la chửi lại. Nên nói từ bi nhẫn nhục với kẻ dưới là hàng phục ma thế tục.
Nhất tâm không hai là hàng phục tâm ma. Tâm không dấy vọng tưởng chạy theo cảnh, đó là hàng phục tâm ma. Vọng tưởng là ma tâm, còn những kẻ dưới phá mình là ma thế gian. Như vậy, muốn trị ma thế gian thì dùng từ bi nhẫn nhục, còn muốn trị ma trong tâm thì phải giữ nhất tâm lặng lẽ không sanh, ma sẽ tự hết.
Chẳng dùng diệu thuật linh phương mà bầy ma trong, ma ngoài tự lui. Không dùng bùa chú hay phép lạ gì hết, chỉ dùng hai lối như trên là trị được ma.
Hỏi: Thế nào là tam Như Lai tạng?
Đáp: Chân tâm tròn sáng, thể nó không tịch gọi là Không Như Lai tạng. Không tạng hay phát khởi hằng sa diệu dụng, gọi là Bất không Như Lai tạng. Thể hay phát dụng, dụng chẳng lìa thể gọi là Không bất không Như Lai tạng.
Không Như Lai tạng là chỉ cho chân tâm, thể rỗng rang tròn sáng, vì thể rỗng rang nên mới sáng chiếu. Bất không Như Lai tạng là diệu dụng của chân tâm, dấy khởi nhiều như hằng sa nên gọi là bất không. Không bất không Như Lai tạng là chỉ cho thể và dụng của chân tâm. Không, là đứng về thể. Bất không, là đứng về dụng. Gồm cả dụng và thể, nên gọi là Không bất không. Đây là ngài nói về giáo thừa, tức là giải thích những điều nghi ở trong kinh, để cho người học thông hiểu.
Hỏi: Thế nào là tám thức?
Đáp: Tám thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức.
Hỏi: Xin Thầy phân rõ khả năng và tướng dụng của tám thức.
Đáp: Thức thứ tám gọi là Tâm, gom nhóm những hạt giống của các pháp, rồi nương vào hạt giống ấy làm nhân sanh ra các pháp. Thức thứ bảy gọi là Ý, ý duyên tàng thức và các thức khác, hằng suy xét nghĩ lường làm ngã. Ngoài ra sáu thức kia gọi là Thức, sáu thức kia phân biệt cảnh thô và động, có gián đoạn, phân biệt rõ ràng và chuyển.
Hỏi: Trong kinh Lăng-già nói rõ về ba loại thức là Chân thức, Hiện thức và Phân biệt sự thức. Ba loại thức này thế nào xin phân rõ?
Đáp: Chân thức là thức thứ chín, còn có tên khác là Bạch tịnh thức. Thức thứ tám là Tàng thức, hay hiện ra các pháp (gọi là Hiện thức). Ngoài ra bảy thức kia đều gọi là Phân biệt sự thức. Tuy rằng thức thứ bảy chẳng duyên cảnh trần bên ngoài, mà hay duyên thức thứ tám, nên còn chỗ phân biệt.
Phần nói về tám thức, ngài giải thích rõ ràng dễ hiểu nên không cần phải giải thích thêm nữa.
Ba loại thức trong kinh Lăng-già nói thì Chân thức tương đương Bạch tịnh thức trong Duy thức. Bạch tịnh thức chỗ khác gọi là Như Lai tàng hay là Chân như. Thức thứ tám là Tàng thức. Bảy thức kia đều gọi là Phân biệt sự thức. Như vậy từ thức thứ tám trở về trước, thuộc về thức làm cho chúng sanh ở trong vòng sanh tử, còn thức thứ chín là thoát ly sanh tử.
Hỏi: Thế nào là chuyển tám thức thành bốn trí?
Đáp: Chuyển năm thức đầu làm Thành sở tác trí, chuyển thức thứ sáu làm Diệu quan sát trí, chuyển thức thứ bảy làm Bình đẳng tánh trí, chuyển thức thứ tám làm Đại viên cảnh trí.
Hỏi: Thế nào là Đại viên cảnh trí?
Đáp: Chân tâm không tịch, như gương thường sáng.
Hỏi: Thế nào là Bình đẳng tánh trí?
Đáp: Hay đối với các pháp mà chẳng sanh phân biệt.
Hỏi: Thế nào là Diệu quan sát trí?
Đáp: Hay vào các căn, phân biệt mà chẳng nhiễm.
Hỏi: Thế nào là Thành sở tác trí?
Đáp: Năm căn đối cảnh, chính lúc ấy cảm giác khổ lạc chẳng xâm nhập.
Trở về chân tâm không tịch, như gương thường sáng gọi là Đại viên cảnh trí. Đối với các pháp không sanh phân biệt, là được Bình đẳng tánh trí. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần không nhiễm, đó là Diệu quan sát trí. Năm căn đối cảnh mà không nhận những cảm giác khổ lạc, là Thành sở tác trí. Như vậy, theo lối giải thích này nếu chúng ta khéo tu thì ngay hiện đời có thể chuyển thức thành trí.
Hỏi: Thế nào là gom Bốn trí thành Ba thân?
Đáp: Thành sở tác trí và Diệu quan sát trí gom về hóa thân. Bình đẳng tánh trí gom về báo thân. Đại viên cảnh trí gom về pháp thân.
Hỏi: Thế nào là pháp thân?
Đáp: Một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều không tịch.
Hỏi: Thế nào là báo thân?
Đáp: Khéo đối với các pháp, tất cả đều bình đẳng.
Hỏi: Thế nào là hóa thân?
Đáp: Thành tựu sức bản nguyện mới ứng ra mà làm các việc.
Một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều không tịch, đó là pháp thân. Vua Đường Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung: “Thế nào là pháp thân?” Quốc sư Huệ Trung nói: “Đàn-việt đạp trên đảnh Tỳ-lô.” Đảnh Tỳ-lô tức là pháp thân. Vừa hỏi thế nào là pháp thân thì đã đạp trên đảnh Tỳ-lô rồi. Rõ ràng như vậy. Những câu đáp này nghe nổ lỗ tai, nhưng thật ra chính là ngài đang chỉ thẳng.
Hỏi: Kinh Viên Giác nói: “Đại viên cảnh là già-lam của ta, thân và tâm đều cư ngụ nơi Bình đẳng tánh trí.” Do đâu không chỉ bày Thành sở tác trí và Diệu quan sát trí?
Đáp: Đại viên cảnh trí là lặng lẽ mà chiếu soi. Bình đẳng tánh trí là chiếu soi mà lặng lẽ. Diệu quan và Thành sở chỉ cho pháp thân khi hành động trong mê. Dùng Diệu quan sát thu mười tám giới, tất cả trần lao chuyển làm Thành sở tác rồi gom về Đại viên cảnh.
Chỉ có Đại viên cảnh trí và Bình đẳng tánh trí, thể và dụng cả hai đầy đủ; còn Diệu quan và Thành sở là dụng của pháp thân trong lúc mê mà chuyển, cho nên không cần nói đến.
Kinh Lăng-già nói: “Phật dạy Đại Huệ: Một đêm ba thời, thường dùng Diệu quan sát trí khiến trừ sạch hiện lưu thức. Sáu căn là Thành sở tác trí, như khi bàn tay để ngửa, không nên hỏi rằng bàn tay úp chỗ nào? Cũng như khi băng tan ra thành nước, băng và nước chẳng có sự khác nhau.”
Ngài dẫn đây để chứng minh, Thành sở tác trí và Diệu quan sát trí chỉ là cái dụng nhỏ của Bình đẳng tánh trí mà thôi, không có riêng biệt, vì nó từ thể Đại viên cảnh trí lưu xuất.
Trong môn lợi tha, nương vào sức bi nguyện, dùng Diệu quan và Thành sở mà làm lợi khắp hàm linh. Cổ đức nói: “Chúng sanh chẳng biết, nên chấp cái tên của tám thức. Chư Phật chứng đắc nên hay thành được cái dụng của bốn trí.”
Khi có thân để lợi ích cho chúng sanh thì Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí, trở thành hai thứ diệu dụng. Chúng sanh không biết, nên mắc kẹt tên của tám thức, còn chư Phật biết rồi thì chuyển tám thức thành bốn trí.
Nếu mê muội thì thức thứ tám khởi lên cái tên là Báo tàng. Thức thứ bảy được cái tên là Nhiễm ô. Thức thứ sáu khởi lên cái tình Biến kế. Tiền ngũ thức chạy theo tướng của căn trần. Nếu ngộ thì A-lại-da thành cái thể của viên cảnh, là cái cửa giữ gìn công đức. Mạt-na là nguồn của bình đẳng, tánh tự tha chỉ có một. Thức thứ sáu là cái diệu của sự quan sát, hay chuyển vành xe chánh pháp. Tiền ngũ thức là hưng khởi công đức đã làm, rủ theo dấu vết của ứng thân và hóa thân. Nhất tâm chẳng động, thức trí tự phân, chẳng đổi cái thể của tám thức, chỉ đổi cái tên của tám thức mà thôi.
A-lại-da khi mê là kho để chứa quả báo của mình, ngộ thì nó là cửa giữ gìn công đức. Mạt-na khi mê là nhiễm ô, còn ngộ là nguồn bình đẳng không hai. Thức thứ sáu khi mê biến kế ra đủ thứ tình, chấp chuyện này chuyện kia, ngộ rồi trở thành Diệu quan sát trí hay chuyển bánh xe chánh pháp. Tiền ngũ thức là hưng khởi công đức đã làm, rủ theo dấu vết của ứng hóa thân. Nếu khi tu chuyển được thì từ dở biến thành hay, không chuyển được thì từ hay sanh ra dở, chứ không có cái gì là vô dụng. Nhất tâm chẳng động, thức trí tự phân, chẳng đổi cái thể của tám thức mà chỉ đổi cái tên của tám thức, tức là chỉ đổi tên mê hoặc thành tên tỉnh giác mà thôi.
Hỏi: Người ngộ lý chuyển thức thành trí, kẻ còn trong mê theo thức mà lên xuống, chưa biết tám thức có lớn nhỏ chăng?
Đáp: Thức tâm vi diệu, không thể nghĩ bàn, theo nghiệp thọ thân lớn nhỏ chẳng đồng. Kinh Hiển Thức nói: “Phật bảo Đại Dược! Như gió không hình không chất, dừng ở trong hang tối, hoặc trong lỗ hở, gió xuất hiện rất dữ tợn, hoặc làm ngã núi Tu-di nát thành bụi nhỏ. Gió vi diệu không hình không chất, thức cũng như vậy.”
Đây là chỗ nghi, Phật nói luân hồi vậy tám thức cũng theo đó mà luân hồi lên xuống, không biết tám thức có lớn nhỏ chăng? Như chúng ta hiện giờ làm thân người cao lớn, nặng năm sáu chục ký; giả sử mai kia làm thân con gà chỉ có một ký mấy, như vậy cái thức của mình có theo đó mà lớn ra hoặc nhỏ lại hay không?
Ngài đáp, thức tâm vi diệu, không thể nghĩ bàn, theo nghiệp thọ thân lớn nhỏ chẳng đồng, như gió không hình tướng, tùy theo công dụng, tùy theo duyên mà thể có lớn nhỏ. Có khi vô trong hang tối hoặc ở khe hở nhỏ, có khi làm ngã cả ngọn núi lớn... Diệu dụng của nó khôn lường, không cố định là pháp nhỏ hay lớn, tùy ứng theo duyên mà hiện ra lớn nhỏ, thức tâm cũng vậy.
Hỏi: Lấy gì làm nhân chìm đắm trong bốn loài sanh?
Đáp: Tình là nhân của sự sanh bằng thai. Tưởng là nhân của sự sanh bằng trứng. Tình và tưởng hợp lại làm nhân sanh từ nơi ẩm ướt. Tình và tưởng lìa là nhân của hóa sanh. Tất cả sự sanh ở trên đều do ý thức tạo nghiệp, rồi tùy nghiệp mà có sự thăng trầm. Nếu ý thức đốn không thì sự luân hồi vĩnh viễn dứt.
Tình là tình ái, là nhân của thai sanh. Tưởng là nhân của noãn sanh. Tình và tưởng hợp là nhân của thấp sanh. Lìa tình tưởng là nhân của hóa sanh. Như vậy, tất cả sự sanh đều do ý thức tạo nghiệp, nếu dẹp sạch ý thức, rỗng suốt một cách mau chóng thì sự luân hồi cũng theo đó hết.
Hỏi: Thế nào là Ngũ nhãn?
Đáp: Bên ngoài chẳng trụ có là Nhục nhãn. Bên trong chẳng trụ không là Thiên nhãn. Không và có đều dứt là Pháp nhãn. Chiếu soi cả hai mà không nhiễm là Tuệ nhãn. Lìa tất cả tướng là Phật nhãn.
Thế nào là ngũ nhãn? Không chấp cái có ở bên ngoài là được Nhục nhãn. Không chấp cái không ở bên trong là được Thiên nhãn. Dứt cả chấp có và chấp không là được Pháp nhãn. Chiếu soi cả hai, không và hữu, mà không nhiễm là Tuệ nhãn. Không chấp trước một tướng nào hết là Phật nhãn.
Ở đây ngài giải thích danh từ mỗi mỗi đều hướng về tự tâm, để người học không mắc kẹt bên ngoài.
Hỏi: Thế nào là Lục thông?
Đáp: Sáu căn đối cảnh tới lui không chướng ngại là Lục thông.
Sáu căn tiếp xúc với sáu cảnh mà không chướng ngại, không sanh phiền não là Lục thông, chứ không phải đợi nghe tới mấy ngàn dặm mới gọi là được Nhĩ thông, thấy bao nhiêu cõi trời mới gọi là được Thiên nhãn thông...
Hỏi: Thế nào là Đẳng giác và thế nào là Diệu giác?
Đáp: Đẳng giác là tịch và chiếu không hai, các pháp bình đẳng. Diệu giác là tịch và chiếu dứt cả hai, thể chân thường tỏa sáng một mình.
Tịch là thể, chiếu là dụng. Thấy thể dụng không hai gọi là Đẳng giác, tức là các pháp bình đẳng. Diệu giác là không còn thấy hai, tịch và chiếu, thể chân thường tỏa sáng một mình, lúc này gọi là độc lộ toàn thân. Bởi vì Đẳng giác là tịch và chiếu không hai, nhưng còn thấy có tịch và chiếu. Còn hàng Diệu giác thì dứt cả hai, tức là không thấy có tịch và chiếu nữa.
Hỏi: Thế nào là Biến dịch sanh tử và thế nào là Phần đoạn sanh tử?
Đáp: Biến dịch sanh tử là khi Bồ-tát thành tựu bi nguyện, làm lợi ích cho loài hữu tình. Tuy ở trong sanh tử mà không đồng với phàm phu còn nghiệp hữu lậu thấm nhuần. Phần đoạn sanh tử là do vọng tâm của phàm phu tạo ra, niệm niệm đều đam mê chấp trước, lại thêm phiền não chướng, nên cuốn vào vành xe khổ lớn không lúc dừng nghỉ.
Trong kinh nói biến dịch sanh tử là đổi giai vị, như Tu-đà-hoàn tiến lên Tư-đà-hàm là một phen biến dịch sanh tử. Ở đây ngài giải thích, biến dịch sanh tử là khi Bồ-tát vì bi nguyện làm lợi ích chúng sanh, cho nên ở trong sanh tử mà không do nghiệp; còn phần đoạn sanh tử là sự luân hồi của phàm phu do bị nghiệp lôi kéo.
Hỏi: Thế nào là “Đầu sào trăm trượng phải tiến bước, mười phương thế giới lộ toàn thân”?
Đáp: Tâm Như Lai tạng vốn từ một tinh minh mà theo trần trôi chảy, phân làm sáu công dụng rồi chuyển xoay theo vật, trôi nổi trong sanh tử. Nếu như biết quay về, căn trần không giao nhau, trở lại dòng toàn có một. Sáu công dụng chẳng hiện hành thì trạm nhiên thuần tịnh như gương thường sáng.
Trước kia chúng ta chỉ có tâm Như Lai tạng, tâm đó vốn từ một tinh minh mà do chạy theo trần cảnh nên chia thành sáu công dụng, mắt tai mũi lưỡi thân ý, chuyển xoay theo vật trôi nổi trong sanh tử. Nếu biết quay trở về, căn trần tiếp xúc mà không nhiễm không dính, thì lúc đó không còn kẹt mắc trong sáu công dụng, mà chỉ có một tinh minh. Khi sáu công dụng chẳng hiện hành thì trạm nhiên thuần tịnh như gương thường sáng.
Như khi mắt thấy cây cối, chúng ta phân biệt cây này tốt, cây kia xấu, đó là dụng của con mắt. Nghe tiếng hát ca véo von, lắng nghe hát bài gì, đó là dụng của lỗ tai. Mùi chiên xào ở đâu phất lại, ngửi thử mùi nước tương hay nước mắm, đó là dụng của mũi v.v... sáu căn có sáu công dụng riêng. Bây giờ mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi... mà không phân biệt cũng không chú tâm vào, thì lúc ấy chỉ có một tinh minh. Sáu căn vẫn thấy nghe hiểu biết mà không có sáu dụng riêng. Đó là chỗ đặc biệt của người tu, gọi là trở về dòng.
Nếu giữ tâm này có thể gọi đảnh đọa, lại có tên là hầm sâu giải thoát. Đây là cái tri kiến nghiêng về không, lại phải tiến bước thì mười phương thế giới mới lộ toàn thân. Đập nát chiếc gương đi, sơn hà đại địa toàn bày pháp thể.
Khi chỉ còn thuần một tinh minh, không bị nghiêng trong sáu dụng riêng biệt, rồi cứ giữ mãi cái tinh minh không dấy lên diệu dụng, chỗ đó gọi là đầu sào trăm trượng. Nghĩa là lên tới tột đầu sào, nhưng còn kẹt ngang đó chưa bước ra khỏi đầu sào, nên gọi là “đảnh đọa”; “giải thoát thâm khanh” là bị kẹt ở hầm sâu giải thoát. Giải thoát nhưng còn kẹt trong thể tịch tĩnh, phải tiến thêm một bước nữa, mới lộ toàn thân. Giải thoát mà sao gọi là hầm sâu? Bởi vì còn ở trong chỗ như như bất động, chỉ là thể mà chưa được dụng, cho nên phải vươn lên đạt tới diệu dụng. Nên nói, đầu sào trăm trượng cần phải bước qua, mới thấy thế giới hiện toàn thân.
Hỏi: Thế nào chẳng trụ vô vi, không tận hữu vi?
Đáp: Tuy chứng pháp thân mà chẳng giữ thật tế, bi nguyện tiếp vật nên tùy loài lợi sanh. Tào Sơn nói:
Mạc hành tâm xứ lộ,
Bất quải bản lai y,
Hà tu chánh nhậm ma,
Thiết kỵ vị sanh thời.
Dịch:
Chớ đi đường tâm ấy,
Chẳng mặc áo bản lai,
Đâu cần Chánh như thế,
Thiết kỵ lúc chưa sanh.
Hàng Đại thừa Bồ-tát làm lợi ích và dẫn dắt chúng sanh, chẳng dừng ở vô vi mà phương tiện mặc áo nhơ, chẳng dứt hữu vi mà đi trong phi đạo, để tùy loài đồng sự, độ thoát cho các loài hữu tình, nên chỉ bày cái nhiễm, tu cái tịnh, thông đạt đến Phật đạo.
Tuy đạt pháp thân thanh tịnh đến chỗ thật tế, nhưng không tự mãn trong đó mà phải phát nguyện độ chúng sanh. Không trụ ở trong pháp thân là chẳng trụ vô vi, phát bi nguyện độ sanh là không tận hữu vi. Vì vậy các thiền sư khi đạt tới chỗ cứu cánh đó rồi, thì buông thõng tay vào chợ, tùy vật lợi sanh. Được rồi mà không trụ, đó là hạnh của Bồ-tát. Ngài Tào Sơn nói:
Chớ đi đường tâm ấy,
Chẳng mặc áo bản lai.
Khi đạt được pháp thân rồi, không nên giữ mãi chỗ thanh tịnh vô vi đó, nếu chấp chỗ này thì kẹt vào Tiểu thừa.
Đâu cần Chánh như thế,
Thiết kỵ lúc chưa sanh.
Phải khởi bi nguyện làm lợi ích chúng sanh. Vì vậy hàng Bồ-tát chẳng dừng ở vô vi, mà phương tiện mặc áo nhơ để hóa độ chúng sanh. Nên nói, chẳng dứt hữu vi mà đi trong phi đạo, tức là đi vào những chỗ sanh tử, tùy chúng sanh mà độ họ.
Hỏi: Thế nào là sám hối chân thật?
Đáp: Người đời tạo đủ bốn tội trọng, mười điều ác, nghiệp nhân đã cùng cực sẽ đọa vào tam đồ; chợt sanh lòng hổ thẹn, phát đại dũng mãnh, gần bậc thiện tri thức, đốn ngộ bản tâm. Những ác nghiệp từ bao kiếp trước và những tội lỗi hiện đời, như nước sôi làm chảy tuyết, như lửa cháy củi khô, nghiệp hết phúc sanh, trí tuệ phát hiện. Trở lại đem những sở đắc của mình mà chỉ thẳng cho người sau, được đốn ngộ tâm tánh để cùng thành Chánh giác. Gặt hái được phúc vô lượng, công đức còn hơn cát sông Hằng.
Sám hối chân thật là nỗ lực tu hành, đốn ngộ bản tâm. Xưa mình chưa biết đạo nên tạo bao nhiêu tội ác, bây giờ biết đạo rồi sanh lòng hổ thẹn, dũng mãnh tu hành, gần thầy lành bạn tốt để tỏ ngộ được bản tâm. Ngộ bản tâm rồi thì bao nhiêu nghiệp trước từ từ tiêu mòn, chẳng khác nào như nước sôi đổ trên tuyết, tuyết từ từ tan. Cũng như đám củi lớn mà mình châm lửa vô thì một hồi nó cũng cháy tiêu hết.
Chúng ta cố gắng nỗ lực tu cho hết nghiệp, trí tuệ phát sanh, rồi sau đem trí tuệ đó dạy lại chúng sanh để họ đồng giác ngộ như mình. Sám hối như vậy mới là sám hối chân thật, còn lạy sám hối mà lòng không hổ thẹn, cứ tạo nghiệp hoài thì chưa phải là chân thật sám hối.
CHƯƠNG VI
DUY TÂM TỊNH ĐỘ
Tăng hỏi: Tông môn dạy tham thiền để minh tâm kiến tánh, pháp môn Tịnh độ dạy niệm Phật cầu vãng sanh. Hai pháp môn này độ khắp tất cả chúng sanh, do đâu hàng học giả bên Thiền tông lại tự quý Duy tâm tịnh độ?
Đáp: Tông chỉ của thiền môn là liễu ngộ tự tâm. Một niệm tâm tịnh tức là Phật độ tịnh, chẳng bàn đông tây mà chỉ tự tịnh tâm mình thôi.
Đây là thuyết Duy tâm tịnh độ, tức là tịnh độ ở tại tâm. Tông chỉ của thiền môn là liễu ngộ tự tâm, vì vậy thiền tông lúc nào cũng chủ trương Duy tâm tịnh độ, cho nên không nói sanh về Tây phương, mà chỉ nói tâm tịnh thì cõi nước tịnh. Chỉ lo tâm mình tịnh, đó là cái gốc. Khi tâm tịnh rồi muốn về Tây phương đâu ai ngăn cản mình. Như trong kinh Lăng-nghiêm nói, ba nghiệp thanh tịnh thì cõi Cực lạc hiện tiền.
Thí dụ có hai người dạy con. Người này nói: Con nên ăn hiền ở lành đừng sanh tâm gian tham trộm cướp, vì tâm đó sẽ dẫn con tới những cảnh khổ não, bị tra tấn tù đày, tất cả cảnh khổ là do gốc từ tâm mà ra. Đó là nói bên trong. Còn người kia thì nói: Con đừng tham lam trộm cướp, nếu tham lam trộm cướp thì bị người bắt giam vào khám Chí Hòa. Đó là nói ở bên ngoài. Hai người dạy con có khác nhau, nhưng rốt lại chỉ đồng một điểm, muốn con đừng gian tham trộm cướp. Nhưng một bên thì chú trọng về tâm, chỉ thẳng cái nhân, nhân là tâm gian tham nên quả bị tù đày. Một bên thì nói về sự, nhìn vào cái quả, quả bị tù đày là do nhân tâm gian tham mà ra.
Người trí thì ngay nhân mà tránh, còn người thường thì sợ quả mà tránh. Như có người ăn ở hung dữ, mình nói coi chừng hung dữ sẽ đọa địa ngục, nghe đọa địa ngục họ sợ không dám hung dữ. Hoặc nếu họ là người trí thì mình chỉ cần nói, coi chừng tâm anh, tâm hung dữ sẽ biến thành địa ngục, nghe vậy thì họ biết liền dừng.
Chỗ này chúng ta phải hiểu rõ ràng không nên thiên chấp. Nói trên nhân hay trên quả gì cũng đều là gốc từ tâm sanh, đó là lẽ thật. Không một hành động thiện hay ác nào mà không do tâm khởi. Đối với người trí thì chỉ thẳng nhân khỏi cần nói quả, còn người không rõ được nhân thì phải nói tới quả để họ nương điều thiện mà làm phước, sợ đau khổ mà tránh ác.
Lối nói của Thiền tông chú trọng về tâm, bởi vì mọi hành động phát khởi đều do tâm làm chủ. Chế phục được tâm thì tất cả hành động đều thuần, cho nên các ngài chỉ thẳng vào nhân cho tu. Ngược lại, lối nói của Tịnh độ là nghe kinh Pháp, niệm Phật cầu vãng sanh về cõi Cực lạc. Chỉ ra cái quả như vậy, để mình ham thích mà cố gắng niệm Phật cho tâm thanh tịnh. Một bên là từ quả trở về tu nhân, còn một bên là tu nhân thì quả tự thành. Hai lối nói tuy khác nhau, lối nhắm vào nhân, lối trọng về quả, nhưng kỳ thật không hai.
Hỏi: Khai thị như thế thì không có Tịnh độ sao?
Đáp: Ông lại chẳng nghe kinh Lăng-nghiêm nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật và niệm Phật thì hiện giờ và về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện tự được tâm khai.” Như có người học, sáu căn đều nhiếp, một niệm thuần chân, tâm tịnh sáng suốt một mình, tức là hiện tại thấy Phật, cho nên nói cách Phật chẳng xa. Kinh nói: “Chẳng nhờ phương tiện tự được tâm khai.” Hai chữ tâm khai này có thể hiểu là Duy tâm vậy.
Do tâm mình khai ngộ liền thấy Phật, hiện giờ cũng thấy, sau này cũng thấy, bởi vì Phật từ tâm mà ra chứ không đâu xa.
Hỏi: Có người niệm Phật khi lâm chung được đức Di-đà tiếp dẫn, việc này không hư ngụy chứ?
Đáp: Người niệm Phật nhất tâm chẳng loạn, chuyên giữ Phật hiệu, thuần chân không vọng. Như nước lóng trong, trăng Phật tự hiện. Trăng vốn chẳng đến, nhân nước trong nên thấy hiện. Khi lâm chung Phật nghinh tiếp là tâm hiện Phật.
Đây nói vừa pháp vừa dụ. Nhờ niệm Phật mà tâm thanh tịnh, nên khi lâm chung thấy Phật hiện tiếp dẫn mình. Như hồ nước lóng trong, nhìn thấy mặt trăng ở trong không rọi bóng xuống; mặt trăng không đến đáy hồ, nhờ hồ nước trong nên thấy trăng hiện. Cũng vậy, do tâm mình thanh tịnh nên thấy Phật hiện, chứ sự thật Phật không có đến đi. Cho nên chúng ta phải hiểu rằng Phật không đến đi, nhưng tâm mình thanh tịnh thì thấy có Phật hiện đến rước. Tâm mình thanh tịnh thì Phật pháp thân hiện, như trăng hiện dưới hồ, rõ ràng có thấy nhưng chỉ là bóng.
Hỏi: Nếu là Phật do tự tâm mình hiện thì bản nguyện của A-di-đà chẳng thật sao?
Đáp: Thân Phật trạm nhiên không có đến có đi, niệm Phật cơ cảm, nương nguyện lực của Phật, do tự tâm biến hóa, Phật đến tiếp dẫn. Như nước hiện trăng, chẳng có chẳng không. Thế nên biết, sự thật thì chẳng có Phật đến. Tất cả đều do thời cơ, đúng hợp với tịnh nghiệp đã thuần thục thì mắt thấy thân Phật.
Nói có Phật cũng không được, nói không Phật cũng không được. Gọi là cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Phật tuy không đến mình, mình cũng không đến Phật, nhưng Phật đã có nguyện độ chúng sanh, cho nên tâm mình tịnh thì liền thấy Phật, đó gọi là cơ cảm. Con đường cảm ứng giữa mình và Phật không thể nghĩ bàn được.
Như ở đời quả ác sắp thành, tâm hiện ra địa ngục để chịu khổ. Há chẳng nghe người có phước nắm gạch thành vàng, còn kẻ mang nghiệp bần hàn thì biến vàng thành gạch. Cho nên sự thiện ác chỉ có tâm, khổ vui do tâm biến hóa. Những kẻ ôm lòng nghi làm sao hiểu được ý chỉ này?
Nói rằng Phật không đến rước, mà do tự tâm mình hiện, điều này ít ai nhận ra, nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì quả cảm theo nghiệp thuần thục của mình. Nghiệp ác thuần, thấy quả ác hiện; nghiệp thiện thuần, thấy cảnh thiện hiện; nghiệp tịnh độ thuần thì thấy Phật hiện. Tất cả đều do tự tâm mình ra. Như người có phước thì nắm gạch thành vàng, còn người vô phước thì biến vàng thành gạch.
Nắm gạch thành vàng, biến vàng thành gạch chúng ta ít thấy, nhưng theo kinh nghiệm riêng thì tôi thấy rõ ràng. Cùng một cuộc đất mà người có phước làm ăn phát đạt giàu có, còn người vô phước thì làm ăn thất bại phá sản. Hoặc có người, ngay chỗ người ta làm ăn thất bại phá sản bán, họ mua lại làm ăn phát tài giàu có. Như vậy cũng cùng chỗ mà người làm giàu, người nghèo mạt, đó là gốc tại có phước hay vô phước. Có phước ở đâu cảnh cũng chuyển theo phước, vô phước ở trong cảnh tốt cũng biến thành xấu. Hiểu được lý này rồi, đừng nặng về hình thức bên ngoài, chỉ cần tạo phước không cần phải lo nhiều, khỏi tìm tới mấy ông địa lý, ít bữa thì coi hướng đó ra sao mà trong nhà rầy rà hoài, ít bữa lại coi cất nhà nhằm ngày gì mà cứ xào xáo... Lo nghĩ như vậy chỉ thêm phiền, nhờ thầy coi hoài thế nào cũng có chuyện. Bởi vì phước của mình làm sao đọc được như tấm bản đồ. Xây cửa tới lui, đổi hướng qua lại, hôm nay chỗ này không được, ngày mai hướng kia không tốt... rốt cuộc tốn tiền vô ích. Hao tiền tốn bạc gốc tại ai? Tại mình. Vậy mà không ai chịu tìm cái gốc cứ chạy theo ngọn, rồi đổ thừa đủ thứ.
Người tu Phật phải có chánh tín, tôi thật tình mà nói, nhất là bên phái nữ, các vị ráng tin giùm vấn đề này. Chỉ lo mình có phước chứ đừng lo coi địa lý. Địa lý có tốt bằng trời đi nữa, mà mình cứ phiền não hoài thì địa lý cũng không cứu được, trong nhà có an ổn hay không gốc tại chính mình. Nếu mỗi người đều lấy hòa kính làm trên thì tự nhiên sẽ an ổn, muôn pháp đều từ tự tâm. Chỗ đó mình thích thì cứ ở, thích tức là nó phù hợp với phước hay nghiệp của mình. Như mình có mặt ở đây là tại vì hợp với nghiệp duyên của mình. Nếu chỗ đó mình không thích mà thầy địa lý lựa giùm, thì một thời gian cũng buồn chán dọn đi chỗ khác.
Đây nói về lý duy tâm rất rõ ràng, nhưng có nhiều người học Phật, tu Phật gần cả đời cũng không chịu tin, cứ tin thầy địa lý hoài, thật là đáng buồn! Gốc mê tín không biết bao giờ mới hết, nó ăn quá sâu trong xương tủy, là căn bệnh rất lâu đời.
Hỏi: Kinh nói: “Qua khỏi mười muôn ức cõi Phật về phương Tây có thế giới của Phật tên là Cực lạc.” Lời nói này là hư là thật?
Đáp: Sự tuy như thế, nhưng mà lý vốn ở trước mắt. Chẳng làm mười việc ác, thẳng vượt mười vạn ức. Ba nghiệp thanh tịnh, Cực lạc ở trước mắt.
Sự tuy như vậy không phủ nhận được, nhưng lý vốn ở trước mắt, gốc tự tâm mình. Chư tổ không cực đoan mà mình phần nhiều rơi vào cực đoan. Người thì nặng về sự mà bỏ lý, người thì chấp lý mà quên sự, chúng ta không nên cực đoan như thế.
Chẳng làm mười việc ác, thẳng vượt mười vạn ức. Không làm mười việc ác tức là làm mười việc lành. Ba nghiệp thanh tịnh thì Cực lạc ở trước mắt, nếu cứ tưởng cõi Cực lạc ở bên kia mà điều ác vẫn làm, ba nghiệp không thanh tịnh thì dù có tưởng cũng không tới được.
Hỏi: Cảnh thánh nơi Tây phương nào là vàng bạc trải khắp mặt đất, lầu gác bao lơn, trang sức đẹp đẽ đầy bảy báu, hoa sen năm màu, nước tám công đức, chim lạ nhã xướng, cây báu diễn pháp, sự ăn mặc nhà cửa, tùy ý hóa thành, tất cả nhân dân được niềm vui lớn. Như những điều thù thắng và kỳ lạ này quả thật có vậy chăng?
Đáp: Phật lúc tu nhân hành đạo Bồ-tát, phát nguyện lực lớn, thành tựu chúng sanh, không sao tính hết sự nhọc nhằn, làm lợi ích nhiều cho mọi loài. Trải qua bao kiếp xa, rộng tu phúc tuệ, công đức đầy tròn chứng vào Phật vị. Kẻ học đời sau thành tín niệm Phật, nương vào bi nguyện của Phật, lặng niệm hợp cơ, tâm hiện cảnh thù thắng, chẳng phải từ ngoài đến.
Trong kinh tả cảnh đẹp đẽ ở Tây phương quyết định có, là do công phu tu nhân hành đạo Bồ-tát của Phật, trải qua nhiều kiếp làm lợi ích chúng sanh cho đến thành tựu quả Phật, nên mới ứng hiện cảnh giới như thế. Chúng ta là kẻ hậu học, nếu kính thành niệm Phật, nương vào bi nguyện của Phật, niệm lặng hợp cơ thì nhất định cảnh thù thắng từ tâm ứng hiện.
Hỏi: Cảnh thánh ở Tây phương vốn từ tâm mình hiện, như vậy việc vãng sanh thật là có lý này hay không?
Đáp: Sanh nhất định là có sanh, đi vốn không đi.
Hỏi: Thế nào là sanh nhất định có sanh, đi vốn không đi?
Đáp: Sanh ấy là niệm sanh, tâm hiện ra nước Phật. Đi ấy là không đi, vì tánh vốn chẳng động.
Vãng sanh, vãng là đi, mà sao ngài chấp nhận có sanh, không chấp nhận có đi? Bởi vì sanh là do tâm mình thanh tịnh mà cõi Phật hiện ra, chứ không có đi đâu. Hai quan niệm khác nhau. Người niệm Phật nặng về sự thì quan niệm rằng, thần thức mình lúc đó được Phật rước đi về Tây phương, cách qua bao nhiêu cõi. Còn người quan niệm duy tâm tịnh độ thì nói rằng, cảnh Cực lạc ấy là do tâm mình hiện ra, gọi là sanh. Do tâm hiện ra nên nói không đi.
Hỏi: Tôi thấy người niệm Phật, dự biết được đến lúc, ngồi thoát đứng chết, mùi hương lạ đầy nhà. Việc này đâu phải là tâm hiện?
Đáp: Trời Đế-thích chẳng tu nghiệp trời, cung điện làm sao mà theo bên mình được? Vua Chuyển Luân không gieo nhân vua, thất bảo do đâu mà tụ tập? Người niệm Phật, tịnh nghiệp thuần thục, cảm được thắng duyên bên ngoài, do tâm biến hiện.
Người niệm Phật tâm thuần thục thì cảm được thắng duyên bên ngoài, cảnh hiện tiền đẹp đẽ tự hiện, chứ không phải từ ngoài mà có.
Hỏi: Phật và tâm không hai, ngoài tâm không Phật, tại sao lại lập pháp môn niệm Phật?
Đáp: Chỉ vì chúng sanh căn cơ bậc trung, bậc hạ chẳng tin tự tâm mình là Phật, nên phương tiện khiến niệm Phật tu quán, cột tâm vào một duyên, niệm lặng thuần chân thì tự tâm Phật hiện, hợp nhất với ánh sáng của Phật. Nếu là bậc thượng trí chẳng hướng bên ngoài mà cầu, quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy.
Chúng ta quán thân này không thật, tướng Phật cũng không thật, tự tánh là không tịch, thì lúc đó mình và Phật có sự cảm ứng.
Hỏi: Pháp môn Tịnh độ khẳng định là có hay là không?
Đáp: Nếu nói là không, thì thế giới Cực lạc, Di-đà thuyết pháp, nhiếp thọ chúng sanh; điều này từ kim khẩu đức Phật Thích-ca truyền ra, chư tổ từ Ấn Độ đến Trung Hoa đều xiển dương. Nếu nói là có, thì pháp thân chư Phật thể như thái hư, chẳng có chẳng không; tự tâm chúng sanh xưa nay là không tịch, đồng một thể với Phật, không thiếu cũng không thừa. Phải ngộ được lý sự viên dung mới có thể phân biệt được tịnh và uế.
Nếu nói thật không, tức cõi Cực lạc là không, Phật Di-đà là không v.v... mà đức Phật Thích-ca nói có, chư tổ cũng xiển dương, vậy là Phật tổ nói gạt hay sao? Nếu nói thật có, thì Phật là pháp thân, pháp thân tròn đầy thái hư, chẳng có chẳng không, tự tâm của chúng sanh đồng thể với chư Phật là sao? Nói có là lầm, nói không cũng không đúng. Cho nên phải ngộ được sự lý viên dung, mới có thể nhận hiểu được.
Phật tự tâm là lý, cảnh Cực lạc là sự. Vì vậy phải nhận rõ lý sự viên dung, thể không rời dụng, dụng không rời thể. Chấp vào sự tức là chỉ biết dụng mà không biết thể, chấp vào lý là chỉ biết thể mà không biết dụng. Thiên lệch một bên là bệnh, là không phân biệt được tịnh uế.
Hỏi: Lại có những tăng sĩ và cư sĩ niệm Phật một đời, khi lâm chung không Phật đến tiếp dẫn là sao?
Đáp: Bản tâm của chúng sanh đồng một thể với Phật, miệng tuy niệm Phật mà tâm ý tán loạn, như nước dơ động nên ánh sáng trăng không đứng, chứ chẳng phải trăng không đến, ấy là do nước không lặng. Nếu một niệm thuần chân thì tâm Phật tự hiện, dụ như nước đứng trăng hiện. Thế nên biết, chẳng phải từ bên ngoài vào. Nếu ngộ lý này, lý duy tâm chẳng lầm.
Hỏi: Ngài đã khai thị tâm yếu như thế thì tham thiền và niệm Phật không hai?
Đáp: Vốn không hai lý.
Hỏi: Thế nào là lý không hai?
Đáp: Tham thiền cốt yếu phải như mèo bắt chuột, niệm Phật quyết phải nhất tâm bất loạn. Nếu nhất tâm chẳng loạn, dù bỏ tham thiền cũng lo gì chẳng ngộ? Nếu như mèo bắt chuột, dù bỏ niệm Phật, tâm Phật cũng tự hiện.
Cổ đức có kệ rằng:
Tham thiền niệm Phật bản lai đồng,
Khán phá phân minh tổng thị không,
Công đáo tự nhiên toàn thể hiện,
Xuân lai y cựu bách hoa hồng.
Dịch:
Tham thiền niệm Phật lý vốn đồng,
Rõ ràng xem kỹ thảy đều không,
Công đến tự nhiên toàn thể hiện,
Xuân về như trước trăm hoa hồng.
Nếu nhận được tâm yếu thì thấy tham thiền và niệm Phật trên lý không hai, còn không hiểu thì thấy như có hai. Thế nào là lý không hai?
Tham thiền cốt yếu phải như mèo bắt chuột, mắt dòm lom lom, có chú chuột nào ở trong hang ló đầu ra là chụp liền, không bỏ sót; nếu bỏ sót chuột chạy mất thì biết con mèo đó không giỏi. Niệm Phật thì quyết phải đến chỗ nhất tâm bất loạn.
Nếu như mèo bắt chuột, dù bỏ niệm Phật, tâm Phật cũng tự hiện. Người niệm Phật được nhất tâm, khỏi cần tham thiền cũng ngộ. Người tham thiền được như mèo rình chuột, dù không muốn về Cực lạc cũng được về.
Cổ đức có kệ rằng:
Tham thiền niệm Phật bản lai đồng,
Khán phá phân minh tổng thị không.
Tham thiền niệm Phật xưa nay đồng. Nếu xét tường tận, khám phá rõ ràng rồi thì niệm Phật và tham thiền cũng chỉ là giả lập.
Công đáo tự nhiên toàn thể hiện,
Xuân lai y cựu bách hoa hồng.
Áp dụng công phu tu tập đến nơi đến chốn, tự nhiên toàn thể hiện bày. Xuân đến, như xưa trăm hoa nở. Tham thiền và niệm Phật đến tột lý không hai.
CHƯƠNG VII
NĂM TÔNG PHÁI THIỀN
Tăng hỏi: Ngài Đạt-ma từ Ấn sang chỉ thẳng nhất tâm, do đâu từ đời Lục Tổ về sau lại chia làm năm phái, mỗi nhà riêng lập môn đình và bày ra những tướng lạ sai khác nhau?
Đáp: Như vàng làm ra đồ vật, mỗi vật đều là vàng. Giống như lửa chia các đèn, nhưng mỗi đèn đều là lửa. Tuy cành sung lá thạnh, nhưng mà rễ nó vốn một thể. Nếu mắt trí ông rỗng sáng thì tự nhiên rõ pháp không hai.
Phần này là toát yếu năm tông phái thiền. Năm tông là: Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn.
Thiền tông chia nhiều tông phái, có hai mặt dở và hay. Mặt dở là làm cho cái chính yếu bị chia chẻ vụn vặt, mặt hay là chính sự phân chia tông phái làm cho Phật giáo thịnh hành.
Mỗi tông phái có sở trường riêng, cái khéo đó được chia ra nhiều chừng nào thì mở mang rộng chừng nấy, cho nên lúc chia ra nhiều tông phái cũng là lúc Phật giáo được truyền bá rộng rãi. Nhưng do mỗi người lập theo tông phái riêng của mình cho nên lâu dần thành tệ, thành mất gốc. Vì vậy, lợi thì lợi lớn mà hại cũng hại to. Đối với người đạt thì thấy không hai không khác, còn với người chấp thì thấy cái này khác cái kia, rồi chống đối nhau thành bệnh.
1. TÔNG LÂM TẾ
Hỏi: Chủ trương tông Lâm Tế như thế nào?
Đáp: Lâm Tế gia phong,
Bạch niêm thủ đoạn.
Thế như sơn băng,
Cơ tự điện quyển.
Xích thủ sát nhân,
Độc quyền truy mạng.
Bổng hát giao trì,
Chiếu dụng tề hành.
Tân chủ lịch nhiên,
Nhân cảnh tung đoạt.
Nhất thiết sai biệt danh tướng,
Bất ly hướng thượng nhất trước.
Dịch:
Thói nhà Lâm Tế,
Thủ đoạn tài tình.
Thế như núi lở,
Cơ như điện chớp.
Tay không giết người,
Tay độc tìm mạng.
Gậy hét lẫn dùng,
Chiếu dụng đều hành.
Chủ khách rõ ràng,
Người cảnh đều dẹp.
Tất cả danh tướng sai khác,
Không lìa một lối hướng thượng.
Lâm Tế gia phong, bạch niêm thủ đoạn. Thế như sơn băng, cơ tợ điện quyển. Gia phong của Lâm Tế, thủ đoạn tài tình, căn cơ lanh lẹ giống như núi lở, điện chớp.
Xích thủ sát nhân, độc quyền truy mạng. Xích thủ là tay không, giết người bằng tay không, chứ không cần gươm đao. Độc quyền là tay độc, tát một quyền là giết được mạng.
Bổng hát giao trì, chiếu dụng tề hành. Bổng là gậy, hát là hét. Vừa gậy vừa hét, hai thứ xen nhau. Chiếu và dụng đồng hành.
Tân chủ lịch nhiên, nhân cảnh tung đoạt. Khách chủ rõ ràng, người cảnh đều trừ.
Nhất thiết sai biệt danh tướng, bất ly hướng thượng nhất trước. Tất cả sự sai biệt về danh và tướng không lìa một đường hướng thượng, tức là những phương tiện đó đều nhằm đưa người tiến lên.
Đó là nói tổng quát, kế đến mới đặt ra từng câu hỏi về tám loại gậy của tông Lâm Tế.
Hỏi: Thế nào là tám loại gậy?
Đáp: Gậy thưởng, gậy phạt, gậy tung, gậy đoạt, gậy ngu si, gậy hàng ma, gậy tảo tích, gậy vô tình.
Hỏi: Thế nào là gậy thưởng?
Đáp: Khi người học hỏi một câu, lời rất thân thiết và khế hợp với đạo, sư liền đánh, gọi là gậy thưởng.
Khi người học tới ngài hỏi một câu, người học đáp đúng ngài đánh cho một gậy, gọi là gậy thưởng. Ăn gậy mà là gậy thưởng. Cho nên nhiều khi nói đúng mà vẫn ăn gậy, mình lấy làm lạ. Không biết tại sao mà ăn gậy, không dè đó chính là gậy thưởng.
Hỏi: Thế nào là gậy phạt?
Đáp: Khi người học cùng thầy hỏi đáp, tùy ý nói loạn, xúc phạm người, sư liền đánh gọi là gậy phạt.
Người học tùy ý nói loạn, không trúng đâu hết cho nên đánh phạt.
Hỏi: Thế nào là gậy tung?
Đáp: Người học được “nhất tri bán giải”. Nói một câu có một chút tương ưng, sư liền đánh gọi là gậy tung.
Người học biết được chút phần, trong câu nói có chút tương ưng, sư liền đánh gọi là gậy tung, tức là mở tung ra.
Hỏi: Thế nào là gậy đoạt?
Đáp: Người học bị “tạp độc nhập tâm”, nói câu hợp đầu, cho là đắc ý, sư liền đánh, gọi là gậy đoạt.
Tạp độc nhập tâm, tức là tâm bị nhiễm độc, nói ra có vẻ phù hợp rồi đắc ý cho mình ngộ đạo, sư liền đánh, gọi là gậy đoạt.
Hỏi: Thế nào là gậy ngu si?
Đáp: Người học chủ khách không phân, tà chánh không rõ, mở miệng nói bướng, sư liền đánh, gọi là gậy ngu si.
Người học không phân biệt được chủ khách tà chánh, nói năng càn bướng sư đánh cho một gậy, gọi là gậy ngu si.
Hỏi: Thế nào gọi là gậy hàng ma?
Đáp: Người học nhận cảnh giới ma, nói lời ma quỷ điên cuồng cho là chứng đạo, sư liền đánh mạnh, gọi là gậy hàng ma.
Hỏi: Thế nào gọi là gậy tảo tích?
Đáp: Người học chẳng rơi vào phàm tình mà kẹt vào thánh giải, chẳng lìa hang ổ, sư liền đánh, gọi là gậy tảo tích.
Gậy tảo tích là gậy quét dấu vết. Đúng ra ở mỗi câu này đều phải dẫn ra một thí dụ cho dễ hiểu, nhưng tông Lâm Tế có nhiều thứ quá, tôi không nhớ hết.
Hỏi: Thế nào là gậy vô tình?
Đáp: Nói phải cũng đánh, nói chẳng phải cũng đánh, mở miệng cũng đánh, không mở miệng cũng đánh, tất cả đều chẳng còn, gọi là gậy vô tình.
Đến hỏi là đánh, không hỏi đứng đó cũng đánh, phải quấy gì đều đánh. Như ngài Đức Sơn nói, hỏi hay không hỏi cũng cho ăn ba mươi gậy. Người hỏi bị đánh phải rồi, còn người chưa hỏi vì sao ngài cũng đánh? Đợi hỏi là đã muộn rồi. Lối đánh đó gọi là gậy vô tình.
Hỏi: Dưới gậy chuyển thân được đạo lý gì?
Đáp: Bổ ngay đầu một gậy toàn thân rơi thoát, ý thức tan tành, chân thường bày lộ một mình. Hàng lợi cơ thì chuyển thân, kẻ căn độn thì điểm trán. Vừa trải qua sự suy nghĩ, liền thành một loạt ma mị.
Lợi cơ chuyển thân là sao? Tức là người học đạo đến, sư đánh cho một gậy bao nhiêu ý thức chấp trước đều tan rã hết, liền nhận ra chân thường hiện bày, là chuyển thân. Còn bị đánh mà chỉ khổ sở thôi chứ không hiểu gì hết, tức bị điểm trán.
Đánh mà không cho suy nghĩ, cho nên ăn gậy mới có hiệu dụng. Tổ Lâm Tế nhờ ăn gậy nơi Hoàng Bá mà ngộ, nên sau này ngài chủ trương gậy hét. Chúng ta thấy lối giáo hóa trong nhà thiền dữ dằn như vậy, nhưng chính nhờ đánh hét đó mà Phật giáo Thiền tông thịnh hành.
Hỏi: Thế nào là bốn loại hét?
Đáp: Một hét như bảo kiếm Kim Cang Vương. Một hét như sư tử ngồi xổm. Một hét như sào dò, bóng cỏ. Một hét mà không có công dụng của hét.
Hỏi: Thế nào là bảo kiếm vua Kim Cang?
Đáp: Hay chém ý thức, tình phàm thánh đều hết, lẽ chân thường riêng chiếu.
Hết gậy rồi bây giờ tới hét, trước đánh sau nạt, toàn là thứ dữ.
Người học do tình thức cố chấp đến hỏi, ngài hét cho một cái, tình thức rã rời nhận được lý chân thường, đó là hét như bảo kiếm Kim Cang Vương.
Hỏi: Thế nào là sư tử ngồi xổm?
Đáp: Hai kiến chấp đoạn thường cùng tất cả sấm lậu, ngồi rống một tiếng làm cho ngói bể băng tiêu.
Người hỏi có tánh cách chấp đoạn chấp thường, hoặc toàn những thứ huyễn hoặc, ngài hét cho một tiếng, bao nhiêu chấp trước rã hết, như ngói bể băng tiêu.
Hỏi: Thế nào là sào dò, bóng cỏ?
Đáp: Như gương chiếu hình tượng đẹp xấu, chân ngụy, tự nhiên bày mặt thật.
Sào dò bóng cỏ là tiếng hét để dọ coi người hỏi hiểu chưa, nên nói như gương chiếu hình tượng đẹp xấu, chân ngụy tự nhiên bày mặt thật. Hét một tiếng, thấy ngẩn ngơ không hiểu thì biết là chưa có gì, còn hét một tiếng mà có phản ứng lại thì biết là đã hiểu.
Hỏi: Thế nào là không công dụng của tiếng hét?
Đáp: Ý thức vừa khởi động, một tiếng hét làm cho tan nát. Chuyển tìm lại tiếng hét, tiếng hét cũng chẳng dùng.
Đó là hét mà không có công dụng của tiếng hét.
Hỏi: Dưới tiếng hét lãnh ngộ được ý chỉ gì?
Đáp: Ra oai hét một tiếng chẳng có chẳng không, khởi vốn không khởi, rơi vốn không rơi, hội được như vậy, gượng gọi là Chánh giác.
Diệu dụng của tiếng hét có lợi ích cho người như thế nào? Ra oai hét một tiếng chẳng có chẳng không, tức là hét một tiếng người học không còn mắc kẹt bên có bên không, đang khởi hay đang không khởi, ngay đó hội được lý trung đạo, tạm gọi là thành bậc Chánh giác. Chỉ là tiếng hét mà có thể làm cho người thành Phật.
Đó là bốn loại hét, tới đây hỏi về chiếu và dụng.
Hỏi: Thế nào là bốn loại chiếu dụng?
Đáp: Một là trước chiếu sau dụng. Hai trước dụng sau chiếu. Ba là chiếu dụng đồng thời. Bốn chiếu dụng chẳng đồng thời.
Hỏi: Thế nào là trước chiếu sau dụng?
Đáp: Trong tự chứng phần, dùng trí ứng vật, dùng tuệ phân biệt tà chánh. Trước bảo “nói mau!” Đợi suy nghĩ liền hét.
Trong tự chứng phần, tức là trong phần tự chứng của mình, dùng trí ứng vật là chiếu, dùng tuệ phân biệt tà chánh là dụng, đó gọi là trước chiếu sau dụng. Trí là chiếu, tuệ là dụng.
Như trước bảo “nói mau!” Đợi suy nghĩ liền hét. Bảo nói mau là dùng trí, nghe bảo nói mau vừa đứng suy nghĩ để nói, liền hét lên một tiếng, đó là dụng, tức là dùng tuệ.
Khi nào chúng ta có đến các thiền viện của tông Lâm Tế, nghe các ngài bảo “nói mau!” thì biết đó là trước chiếu sau dụng.
Hỏi: Thế nào là trước dụng sau chiếu?
Đáp: Trong tự chứng phần, trước dùng tuệ phân biệt, sau dùng trí dứt hết. Trước dựng lên một ngón tay, lại hỏi hội không?
Trước dùng tuệ, nên gọi là trước dụng; sau dùng trí dứt hết, gọi là sau chiếu. Thí dụ dựng một ngón tay, lại hỏi hội chăng? Ngón tay là dụng, đưa lên ngón tay rồi sau mới hỏi lại, hội không? Đó là trí. Như vậy đưa ngón tay hay tiếng hét, đều là dụng. Còn câu nói, “nói mau” hay là “hội không?” là thuộc về trí.
Hỏi: Thế nào là chiếu dụng đồng thời?
Đáp: Trong tự chứng phần, trí chẳng lìa tuệ, tuệ chẳng lìa trí. Đánh cho một gậy lại hỏi: Biết đau nhức chăng?
Đánh một gậy đó là dụng, hỏi biết đau nhức chăng là trí. Đây là chiếu dụng đồng thời.
Hỏi: Thế nào là chiếu dụng chẳng đồng thời?
Đáp: Trong tự chứng phần, trí là trí giám, tuệ là tuệ dụng. Sư yên lặng giây lâu, tăng suy nghĩ, sư bèn trở về phương trượng.
Chiếu dụng chẳng đồng thời. Trước hết sư im lặng giây lâu, tăng suy nghĩ, sư bèn trở về phương trượng. Đó là trước chiếu sau dụng, hai cái không đồng thời, gọi là chiếu dụng chẳng đồng thời.
Đó là nói qua về bốn thứ chiếu dụng, bây giờ là nói về bốn loại chủ khách của tông Lâm Tế.
Hỏi: Thế nào là bốn loại chủ khách?
Đáp: Một là khách trong khách, hai là chủ trong khách, ba là khách trong chủ, bốn là chủ trong chủ.
Hỏi: Thế nào là khách trong khách?
Đáp: Hướng vào sự, trái lại với lý, tự mê muội bản chân.
Hỏi: Thế nào là chủ trong khách?
Đáp: Sự chẳng lìa lý, nhậm vận toàn chân.
Hỏi: Thế nào là khách trong chủ?
Đáp: Lý hay thành sự, chẳng rơi vào thiên không.
Hỏi: Thế nào là chủ trong chủ?
Đáp: Bỏ sự hướng lý, chỉ nhắm vào bổn chân.
Chủ là chỉ cho lý, khách là chỉ cho sự. Người nặng về sự bỏ quên lý, tự mê muội bản chân, gọi là khách trong khách.
Nhận rõ sự không rời lý, nhậm vận bình thường mà trọn hiện bày chân thể, gọi là chủ trong khách.
Do lý làm thành việc, chẳng rơi vào thiên không, gọi là khách trong chủ.
Không kẹt nơi sự, nhắm thẳng vào lý để thể nhập bản chân, gọi là chủ trong chủ.
Hỏi: Thế nào là chủ khách gặp nhau, phân biệt chánh tà.
Đáp: Thầy cùng người học, thêm một lớp khóa vàng. Người học khen thiện gọi là khách xem khách. Nếu làm thầy người, mắt mình chẳng trong, bị người hiểu khinh lờn, gọi là khách xem chủ. Mắt thầy trong sáng hay cướp món ăn của người đói, cùng nhổ gốc bệnh cho người, gọi là chủ xem khách. Thầy nghiệm xét người, người học nêu cảnh, chủ biện rõ bất động, gọi là chủ xem chủ.
Thầy, tức chỉ cho thiền sư. Khi thiền sinh lại hỏi, thầy trò thêm một lớp mù mịt không biết gì mà người học trò lại khen. Thầy trò cả hai đều không thông đạt đạo lý, đó gọi là khách xem khách.
Làm thầy người mà mắt mình chẳng trong, bị người tới hỏi thông hiểu hơn nên họ khinh lờn, gọi là khách xem chủ.
Nếu thầy giỏi, gặp người học tới hỏi gì, thầy cũng làm cho người đó dứt hết những suy tư, để đạt được chân thường, như vậy gọi là chủ xem khách.
Thầy nghiệm xét, người học nêu cảnh, thầy biện rõ bất động. Đây là thầy trò cân xứng nhau, gọi là chủ xem chủ.
Đó là nói về bốn loại chủ khách, tiếp đến là Tứ liệu giản, tức là bốn pháp tu của các trình độ sai biệt.
Hỏi: Thế nào là Bốn liệu giản?
Đáp: Một là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Hai là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Ba là nhân cảnh đoạt cả hai. Bốn là nhân cảnh đều chẳng đoạt.
Hỏi: Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
Đáp: Chỉ tự tâm mình không, ngại gì ngoại cảnh. Kẻ hạ căn bậc hạ đến, đoạt pháp chẳng đoạt cảnh.
Chỉ cần giữ tâm rộng khắp, không cần quán ngoại cảnh. Những người căn cơ bậc thấp nên áp dụng pháp này tu, đoạt pháp chẳng đoạt cảnh, hay đoạt nhân chẳng đoạt cảnh.
Hỏi: Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
Đáp: Chẳng trụ vào cảnh bên ngoài, chỉ tâm chiếu soi một mình. Kẻ hạ căn bậc trung đến, đoạt cảnh chẳng đoạt pháp.
Hai lối này phần nhiều chúng ta tu đều áp dụng. Như khi đi đứng nằm ngồi, cảnh sờ sờ trước mắt mà không cần quán chiếu, chỉ vọng khởi lên liền biết không theo, đó là đoạt nhân không đoạt cảnh. Hoặc có người không cần để ý đến vọng niệm, khi gặp cảnh, vọng dấy lên thì liền quán cảnh đó không thật, tâm rỗng rang không còn dính mắc, đó gọi là đoạt cảnh không đoạt nhân.
Hỏi: Thế nào là nhân cảnh đoạt cả hai?
Đáp: Tâm và cảnh đều không thì vọng từ đâu mà có? Hàng trung căn bậc thượng đến, cảnh pháp nhân đều đoạt.
Nhìn thấy ngoại cảnh biết là duyên khởi, tự tánh là không; nội tâm vọng niệm dấy khởi cũng biết là huyễn hóa không thật. Tâm cảnh đều không, đó là nhân cảnh đều đoạt. Hàng trung căn bậc thượng, cảnh pháp và nhân đều đoạt.
Hỏi: Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt?
Đáp: Tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh. Hàng thượng căn bậc thượng đến, cảnh pháp đều chẳng đoạt.
Tâm cảnh như như. Tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh, không dính mắc vào cái nào nên không còn đoạt nữa, đó là hàng thượng căn bậc thượng, cảnh pháp đều chẳng đoạt.
Hỏi: Thế nào là câu thứ nhất tiến được, kham làm thầy Phật tổ?
Đáp: Một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều không lặng.
Hỏi: Thế nào là câu thứ hai tiến được, kham làm thầy trời người?
Đáp: Một niệm do duyên mà khởi lên, chẳng tiếp tục hai niệm.
Hỏi: Thế nào là câu thứ ba tiến được tự cứu chẳng xong?
Đáp: Niệm phân biệt vừa sanh khởi, tánh tròn sáng tự mờ.
Sao gọi là câu thứ nhất tiến được là làm thầy Phật tổ? Đó là một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều không lặng.
Câu thứ hai tiến được làm thầy trời người, là sao? Một niệm dấy lên không cho suy nghĩ tiếp, mà dừng ngang đó. Nếu dừng được niệm thứ hai thì làm thầy trời người. Câu thứ nhất mình làm không nổi rồi, đến câu thứ hai này chắc mình có thể dùng được.
Câu thứ ba tiến được tự cứu chẳng xong, là sao? Niệm cứ sanh khởi hoài làm cho tánh tròn sáng bị mờ, đó là tự cứu không xong.
Hỏi: Thế nào gọi là đệ nhất huyền?
Đáp: Bản tánh rỗng lặng.
Hỏi: Thế nào là đệ nhị huyền?
Đáp: Chơn trí lặng lẽ mà chiếu soi.
Hỏi: Thế nào là đệ tam huyền?
Đáp: Diệu dụng không ngại.
Phần này là nói về Tam huyền Tam yếu của tông Lâm Tế.
Tam huyền chỉ cho thể, tướng, dụng. Bản tánh không lặng, là thể. Chơn trí lặng lẽ mà chiếu soi, là tướng. Diệu dụng không ngại, là dụng.
Hỏi: Thế nào là thể trung huyền, cú trung huyền, huyền trung huyền?
Đáp: Thể trung huyền là bản tánh rỗng lặng. Cú trung huyền là trong lời mà không lời. Huyền trung huyền là vượt ngoài mọi suy nghĩ.
Trong lời mà không lời, tức là nói mà không để cho suy nghĩ.
Hỏi: Thế nào là đệ nhất yếu?
Đáp: Chân thể dứt tuyệt dấu vết.
Hỏi: Thế nào là đệ nhị yếu?
Đáp: Dụng lớn không ngằn.
Hỏi: Thế nào là đệ tam yếu?
Đáp: Một bên cùng ở giữa đều chẳng lập.
Tam yếu tức không còn mắc kẹt ba chỗ, bên này, bên kia và chặng giữa.
Hỏi: Thế nào là Mười trí đồng chân?
Sư ra oai hét một tiếng, hỏi rằng: Đấy là trí thứ mấy?
Thập trí đồng chân là do cháu chắt của tông Lâm Tế lập ra. Khi hỏi về mười trí đồng chân, thầy hét một tiếng, hỏi là trí thứ mấy? Đó là đáp bằng tiếng hét.
Hỏi: Thế nào là một, đồng nhất chất?
Đáp: Tất cả sum la vạn tượng do sự ấn định của một pháp.
Hỏi: Thế nào là hai, đồng đại sự?
Đáp: Trong ánh sáng của tịch chiếu không thiếu cũng không thừa.
Hỏi: Thế nào là ba, tổng đồng tham?
Đáp: Loài hữu tình, loài vô tình đều đồng một pháp giới.
Hỏi: Thế nào là bốn, đồng chân trí?
Đáp: Các pháp đều bình đẳng, vật và ngã đều nhất như.
Hỏi: Thế nào là năm, đồng biến phổ?
Đáp: Lớn thì bao trùm pháp giới, nhỏ thì chẳng chứa mũi kim.
Hỏi: Thế nào là sáu, đồng cụ túc?
Đáp: Trăm ngàn pháp môn chẳng lìa tấc vuông.
Hỏi: Thế nào là bảy, đồng đắc thất?
Đáp: Nơi thánh chẳng được, ở phàm chẳng mất.
Hỏi: Thế nào là tám, đồng sanh sát?
Đáp: Rải ra muôn vật đều phát sanh. Thu vào thì lấp cảnh bít hang.
Hỏi: Thế nào là chín, đồng âm hẩu?
Đáp: Nói khéo hay nói vụng đều trở về đệ nhất nghĩa.
Hỏi: Thế nào là mười, đồng đắc nhập?
Đáp: Muôn pháp nhất tâm, đồng trở về bất nhị.
Tiếp theo đó ngài xòe hai tay ra nói: Một trí này cùng cái mâm kia bưng ra.
Trong câu hỏi chín, thế nào là đồng âm hẩu? Ngài đáp, nói khéo hay nói vụng đều trở về đệ nhất nghĩa. Tức là, dù cho lời nói bay bướm hay lời nói vụng về, cùng để hiển bày đệ nhất nghĩa. Cho nên khi cần, các ngài cũng nói những câu hết sức thô tục.
Câu thứ mười, đồng đắc nhập. Ngài xòe tay nghĩa là sao? Xòe hai tay ra tức là đủ mười ngón, là thập trí đồng chơn. Một trí này cùng cái mâm kia bưng ra, tức muôn pháp nhất tâm đồng về chỗ không hai.
Hỏi: Thế nào là đệ nhất quyết của Phần Dương?
Đáp: Tánh thể vốn lặng.
Hỏi: Thế nào là đệ nhị quyết?
Đáp: Trí dụng riêng chiếu.
Hỏi: Thế nào là đệ tam quyết?
Đáp: Tịch chiếu không hai.
Các ngài lập ra những phương tiện nói đi nói lại cũng không ngoài thể, tướng, dụng.
Hỏi: Thế nào là cửu đới của Phù Sơn?
Đáp: Đới là cột, bó lại, nghĩa là bao gồm.
Hỏi: Thế nào là Chánh pháp nhãn tạng đới?
Đáp: Pháp hội Linh Sơn Phật chưa nói một chữ, cuối cùng Phật đưa cành hoa, ngài Ca-diếp nhận gánh vác.
Hỏi: Thế nào là Phật pháp tạng đới?
Đáp: Ba tạng giáo điển cùng năm tông phái thiền, đều phát xuất từ nhất tâm.
Hỏi: Thế nào là Lý quán đới?
Đáp: Không kiếp trở về trước, mượn gọi là chánh vị.
Hỏi: Thế nào là Sự quán đới?
Đáp: Theo dòng đời được diệu, ứng với muôn vật mà được toàn chơn.
Hỏi: Thế nào là Lý sự tung hoành đới?
Đáp: Tùy duyên mà không hề biến đổi, chẳng biến đổi mà tùy duyên.
Đưa một cành hoa lên mà ngộ đạo, lãnh trách nhiệm hoằng dương, gọi là Chánh pháp nhãn tạng đới.
Ba tạng kinh cùng năm tông phái thiền, đều phát xuất từ nhất tâm, gọi là Phật pháp tạng đới?
Chánh vị là thể bất sanh bất diệt trước không kiếp, cũng gọi là Lý quán đới.
Tùy duyên giáo hóa chúng sanh, lợi ích muôn vật mà không nhiễm, gọi là Sự quán đới.
Chẳng biến đổi chỉ cho lý, tùy duyên chỉ cho sự. Lý sự dung thông không kẹt, gọi là Lý sự tung hoành đới.
Hỏi: Thế nào là Khuất khúc thùy đới?
Đáp: Chẳng trụ vô vi, chẳng bỏ hết hữu vi, đi trong phi đạo mà thông đạt Phật đạo.
Không kẹt vô vi, không mắc hữu vi, hai bên đều thông suốt. Đi trong phi đạo mà thông đạt Phật đạo, như hòa thượng Bố Đại, hoặc các vị thiền sư, họ ngao du ở đời làm những chuyện giống kẻ điên, nhưng mỗi mỗi hành động đều hiển bày lý đạo.
Hỏi: Thế nào là Diệu hiệp kiêm đới?
Đáp: Đại dụng hiện tiền, chẳng câu chấp nơi tiểu tiết, muôn sự muôn vật đều là diệu trí.
Hỏi: Thế nào là Kim châm song tỏa đới?
Đáp: Mở mang Phật sự mà chẳng nhờ tạo tác, tự tại vô ngại chẳng ràng chẳng buộc.
Diệu hiệp kiêm đới, tức là được diệu dụng hiện tiền, làm việc gì cũng phù hợp với đạo, không câu nệ vụng vặt. Kim châm song tỏa đới, là làm tất cả Phật sự đều từ nhất tâm khởi, không nhờ tạo tác bên ngoài.
Hỏi: Thế nào là Bình hoài thường thật đới?
Đáp: Không thánh có thể cầu, không phàm có thể xả. Một tâm thản nhiên lặng lẽ tự hết.
Sư dựng một ngón tay lên nói: “Một đới này xem mặt trình nhau.”
Bình hoài thường thật đới, tức là tâm bình thường lặng lẽ, dứt cả thánh phàm. Nên nói, không thánh có thể cầu, không phàm có thể xả. Sư dựng một ngón tay lên nói: “Một đới này xem mặt trình nhau.” Đó là những thủ thuật trong nhà thiền, cốt gây sự nhận định không bao giờ quên nơi người.
2. TÔNG TÀO ĐỘNG
Hỏi: Chủ trương tông Tào Động như thế nào?
Đáp: Tào Động gia phong,
Đạo xu miên mật.
Ứng cơ tiếp vật,
Ngữ kỵ thập thành.
Kim châm song tỏa,
Ngọc tuyến ám xuyên.
Chánh thiên hồi hỗ,
Ngũ vị công huân.
Nội ngoại thiệu đẳng,
Tam chủng sấm lậu.
Nhất thiết sai biệt,
Bất ly bổn phận.
Dịch:
Thói nhà Tào Động,
Then đạo khít khao.
Ứng cơ tiếp vật,
Rất kiêng nói hết.
Kim vàng hai khóa,
Chỉ ngọc thầm xuyên.
Chánh thiên hồi hỗ,
Năm vị công huân.
Trong ngoài tiếp nối,
Ba loại sấm lậu.
Hết thảy sai biệt,
Chẳng lìa bổn phận.
Đây là những danh từ chuyên môn của tông Tào Động, chúng ta nghe lạ tai. Nếu không nhờ giải thích ở đây thì khi đọc vào, chúng ta cũng không hiểu nổi.
Tào động gia phong, đạo khu miên mật. Ứng cơ tiếp vật, ngữ kỵ thập thành. Gia phong của tông Tào Động, mé đạo nghiêm mật, khít khao lắm. Khi gặp người thì ứng cơ tiếp vật một cách lanh lẹ. Ngữ kỵ thập thành là không được nói trắng ra.
Kim châm song tỏa, ngọc tuyến ám xuyên. Chánh thiên hồi hỗ, ngũ vị công huân. Kim châm song tỏa, ngọc tuyến ám xuyên, là kim vàng xỏ qua hai khoen, chỉ ngọc thầm xuyên theo. Chánh thiên hồi hỗ, ngũ vị công huân. Đây là những danh từ chuyên môn của tông Tào Động.
Nội ngoại thiệu đẳng, tam chủng sấm lậu. Nhất thiết sai biệt, bất ly bổn phận. Trong ngoài đồng tiếp nối, ba thứ sấm lậu, tất cả sai biệt không lìa bổn phận, tức là không lìa chân tâm.
Lối nói của tông Lâm Tế ở trước, kết luận lại cũng không rời hướng thượng. Tông Tào Động thì chẳng lìa bổn phận, đều là quy về một gốc, nhưng phương tiện lập ra có khác nhau.
Hỏi: Thế nào là Chánh trung thiên?
Đáp: Lý hay thành sự.
Hỏi: Thế nào là Thiên trung chánh?
Đáp: Sự chẳng lìa lý.
Hỏi: Thế nào là Chánh trung lai?
Đáp: Lý vốn không tịch.
Hỏi: Thế nào là Thiên trung chí?
Đáp: Sự dụng không dấu vết.
Hỏi: Thế nào là Kiêm trung đáo?
Đáp: Sự lý đều mất.
Chánh chỉ cho lý, thiên chỉ cho sự. Chánh trung thiên là lý mà hay thành sự. Thiên trung chánh là sự chẳng lìa lý. Chánh trung lai là lý vốn không tịch. Thiên trung chí là sự và dụng không còn dấu vết. Kiêm trung đáo là vị chót, đến đây thì sự và lý đều bặt. Lý là chỉ cho thể tánh, sự là chỉ cho sự vật hiện có hình tướng. Khi còn dụng công tu thì lập sự lập lý, nương nơi sự vật hoặc nương nơi lý tánh nên thấy có hai, đến lúc ngộ rốt ráo rồi thì sự và lý đều bặt.
Hỏi: Năm vị công huân như thế nào?
Đáp: Năm vị công huân là Hướng, Phụng, Công, Cộng công, Công công.
Hỏi: Thế nào là Hướng?
Đáp: Hướng đến việc này không cho gián đoạn.
Hỏi: Thế nào là Phụng?
Đáp: Như kính bậc trưởng thượng, thừa sự phụng hành không lúc nào dừng.
Năm vị công huân là nói về sự tu.
Hướng là hướng đến việc này không cho gián đoạn. Việc này là việc gì? Nói theo Khởi Tín luận là giữ chân như không cho gián đoạn, gọi là chân như tam-muội.
Phụng là lúc nào cũng cung kính, tin theo cái đó không lúc nào dừng.
Hỏi: Thế nào là Công?
Đáp: Có dụng hay không dụng đều gọi là công huân cả.
Hỏi: Thế nào là Cộng công?
Đáp: Khi dụng thì không dụng, không dụng tức là dụng.
Hỏi: Thế nào là Công công?
Đáp: Đã không công dụng được đại giải thoát.
Đến đây tuy dụng công mà không thấy có dụng công, cho nên được đại giải thoát.
Hỏi: Thế nào là chuyển công tựu vị?
Đáp: Dụng chẳng lìa thể gọi là chuyển công tựu vị.
Vị là chỉ cho thể, công là chỉ cho dụng. Chuyển công tựu vị tức là chuyển cái dụng trở về thể, nên nói dụng chẳng lìa thể.
Hỏi: Thế nào là chuyển vị tựu công?
Đáp: Thể hay phát dụng.
Hỏi: Thế nào là công vị tề thí?
Đáp: Thể dụng đều bày.
Hỏi: Thế nào là công vị câu ẩn?
Đáp: Thể dụng đều mất.
Đây nói Vị Công giống như tông Lâm Tế nói Chánh Thiên. Chánh thì đây dùng là chữ Vị, Thiên đây dùng chữ Công. Lối lập chữ có khác, còn về ý thì năm thứ công huân này, cũng giống như năm thứ hồi hỗ ở trên.
Hỏi: Thế nào là Đản sanh vương tử?
Đáp: Căn bản đại trí vốn tự hiện thành.
Đản sanh vương tử là như ngài Văn-thù giáo hóa Thiện Tài.
Hỏi: Thế nào là Triêu sanh vương tử?
Đáp: Không nhờ tu chứng, làm sao về gốc?
Phải nhờ tới công tu, như Đồng tử Thiện Tài bắt đầu đi tham vấn.
Hỏi: Thế nào là Mạt sanh vương tử?
Đáp: Có tu có chứng chẳng phạm công huân.
Thiện Tài sắp bước vào lâu đài của ngài Di-lặc.
Hỏi: Thế nào là Hóa sanh vương tử?
Đáp: Đại dụng hiện tiền ai dám đương đầu?
Thiện Tài thể nhập vào hạnh Phổ Hiền, chun vào trong lỗ chân lông của ngài Phổ Hiền.
Hỏi: Thế nào là Nội sanh vương tử?
Đáp: Đạt bản hoàn nguyên, chân như pháp giới.
Chúng ta thấy lối giải thích này lạ, mà thật ra là chỉ cho từng giai đoạn tu hành từ thủy đến chung.
Hỏi: Thế nào gọi là ba thứ đọa?
Đáp: Một là mang lông đội sừng, gọi là Loại đọa. Hai là chẳng đoạn thanh sắc, gọi là Tùy đọa. Ba là chẳng thọ thực, gọi Tôn quý đọa.
Thông thường nghe nói đọa, chúng ta tưởng là rơi xuống địa ngục hay đọa làm súc sanh. Nhưng đây không phải ý đó, ba loại đọa này rất lạ lùng, sẽ giải thích.
Hỏi: Thế nào là mang lông đội sừng đọa?
Đáp: Chẳng mặc áo bản lai, cần đi trong dị loại.
Nghe nói mang lông đội sừng đọa, đừng tưởng là xuống địa ngục, mà là không an trú nơi pháp thân thanh tịnh, khởi bi nguyện độ sanh.
Hỏi: Thế nào là chẳng đoạn thanh sắc đọa?
Đáp: Sáu trần không chán, vẫn đồng Chánh giác.
Tâm cảnh như như.
Hỏi: Thế nào là chẳng thọ thực?
Đáp: Lý còn chẳng giữ, huống là việc khác.
Lý còn không giữ, tức là không chấp vào lý; cái thanh tịnh bản nhiên còn không giữ thì những cái khác đâu dính dáng. Lý sự đều buông.
Hỏi: Thế nào gọi là ba loại sấm lậu?
Đáp: Một là Kiến sấm lậu, hai là Tình sấm lậu, ba là Ngữ sấm lậu.
Sấm lậu là rỉ chảy. Ba thứ sấm lậu tức là ba thứ bệnh, còn ba thứ đọa ở trên là phần lợi ích chúng sanh của bậc giác ngộ.
Hỏi: Thế nào là Kiến sấm lậu?
Đáp: Không đổi chánh vị, rơi tại nhất sắc.
Không đổi chánh vị là không chuyển được thể mà lại kẹt trên dụng, trên sự. Nhất sắc là chỉ cho dụng hay sự. Kiến sấm lậu tức là mắc kẹt một bên.
Hỏi: Thế nào là Tình sấm lậu?
Đáp: Mắc kẹt hai bên, sóng thức trôi đi.
Tình sấm lậu là kẹt cả hai bên, nên bị sóng thức trôi đi trong luân hồi.
Hỏi: Thế nào là Ngữ sấm lậu?
Đáp: Thể diệu chẳng tròn, thốt ra lời ám muội.
Không ngộ nên nói ra lời gì cũng không đến đâu, đây gọi là Ngữ sấm lậu.
Hỏi: Thế nào là ba đường tiếp người?
Đáp: Ba đường tiếp người là Điểu đạo, Huyền lộ và Triển thủ.
Hỏi: Thế nào là Điểu đạo?
Đáp: Hư không không vui không giận.
Hỏi: Thế nào là Huyền lộ?
Đáp: Chữ bát thiếu hai phết.
Hỏi: Thế nào là Triển thủ?
Đáp: Chữ nhất hai đầu rũ.
Ba con đường tiếp người của tông Tào Động là Điểu đạo, Huyền lộ và Triển thủ.
Điểu đạo là đường chim. Đi đường chim là chỉ chỗ tâm rỗng rang không dấy niệm vui buồn thương ghét.
Huyền lộ là gì? Chữ bát thiếu hai phết. Chữ bát mà thiếu hai phết thì thành chữ gì? Chữ bát gồm hai nét, bên đây một nét, bên kia một nét hợp lại thành chữ bát, nếu mất hai nét thì không thể thành chữ bát. Cho nên nói là Huyền lộ, tức là không còn hình dáng để chấp trước kẹt mắc.
Thế nào là triển thủ? Chữ nhất hai đầu rũ, tức là rũ tay mà đi. Như vậy, huyền lộ là thể nhập được bản thể pháp thân, còn triển thủ là khởi dụng để độ sanh.
Ba con đường tiếp người của tông Tào Động thật là cao siêu. Đường thứ nhất Điểu đạo, là không vui không giận, tâm rỗng rang như hư không. Đường thứ hai Huyền lộ, tức là thể nhập được pháp tánh chân không. Đường thứ ba Triển thủ, là khởi lên diệu hữu, nhập thế lợi ích chúng sanh.
Hỏi: Thế nào là Chánh vị nhất sắc?
Đáp: Diệu thể vô hình.
Hỏi: Thế nào là Đại công nhất sắc?
Đáp: Chân trí không phân.
Hỏi: Thế nào là Kim thời nhất sắc?
Đáp: Dụng lớn không ngằn.
Chánh vị là chỉ cho lý. Lý thể đó không hình tướng, nên gọi là Chánh vị nhất sắc.
Đại công nhất sắc, tức là trí chân thật không có phân chia.
Kim thời nhất sắc là chỉ cho dụng lớn không có ngằn mé.
Hỏi: Thế nào là Tá công minh vị?
Đáp: Sóng vốn là nước.
Hỏi: Thế nào là Tá vị minh công?
Đáp: Nước hay dậy sóng.
Hỏi: Thế nào là Tá tá bất tá tá?
Đáp: Sóng và nước chẳng hai.
Hỏi: Thế nào là Toàn siêu bất tá tá?
Đáp: Sóng và nước đều là trong lặng.
Công là sự, vị là lý. Tá công minh vị là từ nơi sự mà rõ được lý, nên nói sóng vốn là nước. Nước dụ cho lý, vị. Sóng dụ cho sự, công.
Tá vị minh công là nương nơi vị mà rõ được công, nương nơi thể mà rõ được dụng.
Tá tá bất tá tá là nương nương mà chẳng nương nương. Đến đây là nương mà không nương, biết sóng và nước thể không hai, ngay sóng mà biết nước, ngay nước mà biết sóng.
Toàn siêu bất tá tá là hoàn toàn không còn nương, sóng và nước đều trong lặng.
Những chủ trương này cao siêu vô cùng, mà dùng chữ thật là khó hiểu, cho nên chỉ đọc mà không được giải thích. Vì ở đây với tính cách học để tu, cho nên tôi cũng làm biếng nghiên cứu, chỉ nói đại khái cho hiểu tu mà thôi, chứ đúng ra dạy học thì mỗi câu là phải dẫn một câu chuyện. Như ở trước nói về gậy thưởng, gậy phạt của ngài Lâm Tế, thì phải dẫn chuyện các vị đến hỏi câu gì và ngài đánh thế nào, để biết rằng đó là gậy thưởng hay gậy phạt. Nhưng tôi đang cố tình quên không muốn kiếm nhiều chuyện, làm đầu óc lộn xộn. Buông mà, nên rồi thôi kệ. Sau này nếu ai đọc hành trạng hay trong sử các thiền sư, gặp những sự việc như đây thì sẽ tự biết đó là trường hợp nào.
3. TÔNG VÂN MÔN
Hỏi: Chủ trương tông Vân Môn như thế nào?
Đáp: Vân Môn gia phong,
Cô nguy tủng tuấn.
Cách ngoại đề tê,
Tiễn trừ tình kiến.
Tam cú quan kiện,
Nhất tự cơ phong.
Bắc đẩu tàng thân,
Kim phong thể lộ.
Trụ trượng bột khiêu,
Phật tổ thoái hậu.
Trản tử thuyết pháp,
Ma ngoại tiềm hình.
Nhất thiết ngữ ngôn,
Tổng quy hướng thượng.
Dịch:
Thói nhà Vân Môn,
Vòi vọi cao vót.
Dạy người xuất cách,
Cắt trừ tình kiến.
Ba câu then chốt,
Cơ phong một chữ.
Bắc Đẩu ẩn thân,
Thể lộ gió thu.
Trụ trượng nhảy vọt,
Phật tổ lui sau.
Chung trà nói pháp,
Ma ngoại ẩn hình.
Hết thảy ngôn ngữ,
Gồm về hướng thượng.
Vân Môn gia phong, cô nguy tủng tuấn. Cách ngoại đề tê, tiễn trừ tình kiến. Gia phong Vân Môn vòi vọi mà cao vót. Dạy người xuất cách, dẹp sạch những tình kiến.
Tam cú quan kiện, nhất tự cơ phong. Bắc đẩu tàng thân, kim phong thể lộ. Ba câu then chốt, cơ phong một chữ. Thông thường có người đến hỏi, ngài đều đáp một chữ, không nói thêm tiếng thứ hai. Đó gọi là nhất tự cơ phong, còn những câu bắc đẩu lý tàng thân, kim phong thể lộ... ngài rất hay dùng, ở sau có giải thích.
Trụ trượng bột khiêu, Phật tổ thoái hậu. Trản tử thuyết pháp, ma ngoại tiềm hình. Nhất thiết ngữ ngôn, tổng quy hướng thượng. Trụ trượng bột khiêu là cây gậy nhảy vọt. Phật tổ thoái hậu là Phật tổ thối lui. Trản tử là chung trà, đưa chung trà lên nói pháp. Ma ngoại tiềm hình là chúng ma và ngoại đạo đều ẩn mình. Rốt ráo tất cả ngữ ngôn thảy trở về hướng thượng.
Đó là nói toát yếu về tông môn, kế đây là hỏi về ba câu.
Hỏi: Thế nào là câu bao trùm càn khôn.
Đáp: Bao trùm thái hư, ngang suốt ba mé.
Ba câu này cũng tương tự như Tam huyền, Tam yếu của ngài Lâm Tế nói.
Câu bao trùm càn khôn, tức là Hàm cái càn khôn cú. Bao trùm thái hư, ngang suốt ba mé, chỉ cho thể của pháp thân.
Hỏi: Thế nào là câu cắt đứt các dòng?
Đáp: Một niệm chẳng sanh, muôn pháp tự dứt.
Câu cắt đứt các dòng, tức là tiệt đoạn chúng lưu cú. Một niệm chẳng sanh, muôn pháp tự dứt. Nếu trong tâm mình dứt hết không còn một niệm thì các pháp cũng theo đó mà dứt.
Hỏi: Thế nào là câu theo nước đuổi sóng?
Đáp: Theo dòng được diệu, ứng vật toàn chân.
Câu theo nước đuổi sóng, tức là tùy ba trục lãng cú. Theo dòng được diệu, ứng vật toàn chân. Khởi ra diệu dụng từ thô cho tế, mà luôn luôn không rời bản thể chân thật.
Như vậy trong ba câu, câu trước là nói về thể trùm khắp mười phương, suốt cả ba đời. Câu thứ hai là chỉ cho lúc tâm cảnh nhất như, một niệm không sanh các pháp đều dứt. Câu thứ ba là khởi diệu dụng để tùy cơ ứng hóa, nhưng không mất cái chân thật.
Hỏi: Thế nào là nhất tự quan.
Đáp rằng: Vượt ngoài sự suy nghĩ chẳng rơi ào hang ổ.
Nhất tự quan là cửa một chữ. Tại sao ngài chỉ đáp có một chữ? Bởi vì ngài nói mà không để cho mình suy nghĩ được. Thí dụ có người hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Ngài đáp: “Quan.” Câu đáp này đâu khác gì tiếng hét của Lâm Tế, đó là chỗ bặt suy nghĩ, vừa khởi suy nghĩ là trật rồi.
Hỏi: Thế nào là tông Đề-bà?
Đáp: Hiện bày trâu trắng, đông xúc tây chạm.
Tông Đề-bà là để chỉ cho các pháp không cố định, tùy theo chỗ dùng. Hỏi thế nào tông Đề-bà? Ngài đáp, hiện bày trâu trắng, đông xúc tây chạm. Tức là khi tâm thể đã hiện bày, dù xúc bên đông hay chạm bên tây gì, cũng không ngăn ngại.
Hỏi: Thế nào là Xuy mao kiếm?
Đáp: Muôn sự muôn vật, ngói bể băng tiêu.
Xuy mao kiếm là cây kiếm rất bén, thổi sợi lông qua là đứt liền. Nên khi hỏi về Xuy mao kiếm, ngài nói muôn sự muôn vật, ngói bể băng tiêu. Đối với muôn sự vật đều tan hết tình chấp, chẳng khác nào như ngói bể băng tiêu vậy.
Hỏi: Ý tổ, ý kinh là đồng hay khác?
Ngài đáp: Chạm chẳng được mà trái cũng chẳng được.
Chạm chẳng được tức là không phải một, trái chẳng được là không phải hai. Không phải một vì kinh khác, tổ khác. Tổ chỉ thẳng tâm, còn kinh thì nói rõ ràng có thứ lớp theo văn tự, nên nói chạm chẳng được. Tất cả kinh đều chỉ cho tâm, chư tổ cũng chỉ thẳng tâm, thành ra không hai, nên nói trái chẳng được. Ngôn ngữ trong nhà thiền dùng chúng ta phải khéo hiểu.
Hỏi: Thế nào là Bắc đẩu lý tàng thân?
Đáp: Không dấu vết.
Bắc đẩu lý tàng thân, tức là ẩn thân trong sao bắc đẩu. Ẩn thân trong sao bắc đẩu thì đâu còn thấy hình tướng gì nữa. Đó là chỉ cho khi xét lại tâm mình, thì thấy tướng của nó là không, không có dấu vết.
Hỏi: Thế nào là Thể lộ gió thu?
Ngài đáp: Toàn thân hiện.
Thể lộ gió thu, tức là thể lộ kim phong. Đây chỉ cho thể không hình tướng, không dấu vết nhưng lúc nào tánh giác cũng bày rõ trước mắt, nên nói toàn thân hiện.
Tóm lại, câu Bắc đẩu lý tàng thân, hay câu Thể lộ kim phong của ngài Vân Môn, cũng không gì khác hơn là chỉ cho thấy tâm không có hình dáng, không có tông tích; nhưng tánh giác sờ sờ không bao giờ mất, cho nên toàn thân hiện.
4. TÔNG QUY NGƯỠNG
Hỏi: Chủ trương tông Quy Ngưỡng thế nào?
Đáp: Quy ngưỡng gia phong,
Cơ dụng viên dung.
Thất trung nghiệm nhân,
Cú năng hãm hổ.
Viên tướng sai biệt,
Minh lai ám hợp.
Cảnh xuất tam sanh,
Lưỡng khẩu nhất thiệt.
Phụ tử hòa xướng,
Đạo truyền thiên cổ.
Dịch:
Thói nhà Quy Ngưỡng,
Cơ dụng viên dung.
Trong thất nghiệm người,
Câu hay hãm hổ.
Tướng tròn sai khác,
Sáng đến hợp tối.
Gương hiện ba sanh,
Một lưỡi hai miệng.
Cha con đồng xướng,
Đạo truyền thiên cổ.
Quy ngưỡng gia phong, cơ dụng viên dung. Thất trung nghiệm nhân, cú năng hãm hổ. Gia phong của tông Quy Ngưỡng, cơ dụng viên dung, ở trong thất hay nghiệm người, một câu có thể giam cọp.
Viên tướng sai biệt, minh lai ám hợp. Cảnh xuất tam sanh, lưỡng khẩu nhất thiệt. Phụ tử hòa xướng, đạo truyền thiên cổ. Tam sanh là ba loại sanh, ở sau sẽ nói. Lưỡng khẩu nhất thiệt là chỉ cho ngài Quy Sơn và Ngưỡng Sơn, hai thầy trò mà cùng một lưỡi. Cha con cùng hòa xướng, đạo truyền đến muôn đời.
Hỏi: Thế nào là ba loại sanh?
Đáp: Ba loại sanh là Tưởng sanh, Tướng sanh và Lưu chú sanh.
Hỏi: Thế nào là Tưởng sanh?
Đáp: Ý thức bên trong.
Hỏi: Thế nào là Tướng sanh?
Đáp: Trần cảnh bên ngoài.
Hỏi: Thế nào là Lưu chú sanh?
Đáp: Không gián đoạn.
Ba loại sanh: Tưởng sanh, Tướng sanh và Lưu chú sanh, là riêng của tông Quy Ngưỡng.
Tưởng sanh là đang sống với ý thức. Tướng sanh là còn thấy có tướng bên ngoài. Lưu chú sanh là bên trong vọng tâm nối nhau liên miên không dứt. Ba thứ này là gốc của luân hồi.
Hỏi: Sao gọi là mật nghĩa của viên tướng?
Đáp: Mật nghĩa của viên tướng có sáu loại.
Hỏi: Thế nào là sáu loại?
Đáp: Một là viên tướng, hai là ám cơ, ba là nghĩa hải, bốn là tự hải, năm là ý hải, sáu là mặc luận.
Viên tướng là tướng tròn. Ám cơ là thầm hợp với căn cơ. Nghĩa hải là nghĩa rộng như biển. Tự hải là trùm hết những văn tự. Ý hải là gồm hết các ý. Mặc luận là thầm bàn luận.
Hỏi: Lấy gì làm thể?
Đáp: Vẽ một hình tròn, đấy là thể.
Khi nào hỏi mà ngài vẽ một vòng tròn để đáp, tức là dùng thể mà đáp.
Hỏi: Lấy gì làm dụng?
Đáp: Vẽ một hình tròn, vẽ xuống một đường thẳng từ trên xuống dưới, đấy là dụng.
Hỏi câu gì mà ngài vẽ vòng tròn, rồi gạch một đường thẳng từ trên xuống, thì biết đó là dụng. Thí dụ thầy vẽ một vòng tròn, trò đáp lại phải gạch một gạch giữa, tức là thầy nói thể thì trò phải lấy dụng mà đáp, gọi là ám cơ thầm mật.
Hỏi: Lấy gì làm trí?
Đáp: Vẽ hình tròn ở giữa có chữ sơn, đấy là trí.
Thầy trò nói chuyện nhau toàn bằng hình. Đối đáp bằng hình vẽ gọi là ám cơ. Trong này có rất nhiều hình, mà vì ngài Huệ Trung Nghĩa Sư truyền có một cuốn sách, nên ở đây chỉ có những hình vẽ đơn giản và ít chữ mà thôi.
Hỏi: Trong tướng tròn viết chữ ngưu, chữ Phật, chữ nhân, chữ tiên, chữ thập, chữ vạn, một điểm, một nét, bán nguyệt, khuyết nguyệt v.v... chẳng nhất định, đấy là ý chỉ gì?
Đáp: Đưa tay tiếp người, nêu rõ hay ngầm, chẳng lìa thể dụng, lý sự chủ khách, sanh sát buông hay nắm, quyền thật ẩn hiển, đồng dị tổng biệt, ngầm ấn bản tâm, đấy gọi là mật nghĩa của tam-muội ẩn thân. Phải là người thật tỏ ngộ mới hiểu suốt được cái cơ này, bọn môn đồ của nghĩa giải khó mà hiểu được liền.
Đây chỉ những người tỏ ngộ mới hiểu nhau, cho nên thầy vẽ cái gì đó, thì trò đáp lại cái gì đó, nghĩa là thầy trò thầm hiểu nhau. Chúng ta thấy những hình vẽ này giống như mấy đứa trẻ nhỏ ưa chơi vậy. Đứa đưa tay ra dấu làm cái kéo, đứa xòe tay ra làm cái bao... để đối lại. Các ngài muốn dùng những hình ảnh để đối đáp nhau, chứ không nói ra lời.
Hỏi: Thế nào là mở mắt ngước nhìn?
Đáp: Chạm chẳng được mà trái chẳng được.
Mở mắt ngước nhìn đó là chỗ chạm chẳng được, trái chẳng được, tức không phải một cũng chẳng phải hai.
Hỏi: Thế nào một lưỡi hai miệng?
Đáp: Chẳng được có lời, chẳng được không lời.
Bởi vì có lời và không lời là thành hai rồi.
Hỏi: Thế nào là trước Nhiên Đăng?
Đáp: Thể tịch.
Hỏi: Thế nào là sau Nhiên Đăng?
Đáp: Dụng chiếu.
Hỏi: Thế nào là chánh Nhiên Đăng?
Đáp: Tịch chiếu.
Trước đức Phật Nhiên Đăng là chỉ cho bản thể tịch nhiên, sau Nhiên Đăng là dụng chiếu soi, chánh Nhiên Đăng là bản thể không tịch mà hiện ra chiếu soi, tức là từ thể khởi dụng. Tịch là thể, chiếu là dụng. Những câu nói của các ngài đều có hàm ý trong đó.
5. TÔNG PHÁP NHÃN
Hỏi: Chủ trương của tông Pháp Nhãn thế nào?
Đáp: Pháp Nhãn gia phong,
Đối chứng thí dược.
Thùy cơ tấn lợi,
Tảo trừ tình giải.
Lục tướng nghĩa môn,
Hội quy tánh địa.
Vạn tượng chi trung,
Toàn thân độc lộ.
Tam giới duy tâm,
Vạn pháp duy thức.
Trực siêu dị kiến,
Viên dung chân tế.
Dịch:
Thói nhà Pháp Nhãn,
Đối bệnh cho thuốc.
Phương tiện bén nhạy,
Quét sạch tình giải.
Sáu tướng nghĩa môn,
Gom về tánh địa.
Ở trong muôn tượng,
Toàn thân một đường.
Ba cõi duy tâm,
Muôn pháp duy thức.
Vượt thẳng dị kiến,
Chan hòa chân tế.
Pháp Nhãn gia phong, đối chứng thí dược. Thùy cơ tấn lợi, tảo trừ tình giải. Gia phong của tông Pháp Nhãn là đối bệnh mà cho thuốc. Lập bày những phương tiện nhanh lẹ để dẹp sạch hết hiểu biết của tình chấp.
Lục tướng nghĩa môn, hội quy tánh địa. Vạn tượng chi trung, toàn thân độc lộ. Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Trực siêu dị kiến, viên dung chân tế. Sáu tướng của nghĩa môn, đều trở về đất tánh. Đến chỗ đó rồi vượt khỏi các dị kiến, viên dung được chân tế. Vạn tượng chi trung, toàn thân độc lộ. Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Đó là những câu mà ngài Pháp Nhãn ngộ, nên ngài thường dùng làm sở trường của ngài.
Hỏi: Thế nào là nghĩa sáu tướng?
Đáp: Tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại.
Đây là nghĩa sáu tướng của tông Pháp Nhãn.
Sáu tướng là: Tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng và hoại tướng.
Hỏi: Thế nào là tổng?
Đáp: Nhất tâm chân như gồm nhiếp các pháp.
Hỏi: Thế nào là biệt?
Đáp: Tâm sanh các pháp nhưng các pháp không phải một.
Hỏi: Thế nào là đồng?
Đáp: Pháp do tâm sanh, tâm pháp không hai.
Hỏi: Thế nào là dị?
Đáp: Pháp là pháp tướng, tâm là tâm lý.
Hỏi: Thế nào là thành?
Đáp: Tâm sanh các pháp, pháp hay thành sự.
Hỏi: Thế nào là hoại tướng?
Đáp: Gom pháp về tâm, tâm không pháp mất.
Biệt tướng, tức nhiều tướng sai khác. Đồng tướng, tuy các pháp có muôn ngàn sai biệt, nhưng gốc đều từ tâm. Dị tướng, chia ra pháp ở bên ngoài, tâm ở bên trong, nên gọi là dị. Thành tướng, do tâm tạo ra các pháp, rồi các pháp ấy lại làm thành hình của sự vật. Hoại tướng, các pháp đều trở về tâm, khi các pháp trở về tâm rồi, tâm không còn tướng của tâm, pháp cũng không còn tướng của pháp, đều là không tịch.
Hỏi: Tứ liệu giản của Thiều quốc sư như thế nào?
Đáp: Văn văn, văn bất văn, bất văn văn, bất văn bất văn.
Tứ liệu giản của tông Pháp Nhãn là do quốc sư Đức Thiều đặt ra, nên gọi Tứ liệu giản của Thiều quốc sư, ngài là đệ tử của thiền sư Pháp Nhãn.
Hỏi: Thế nào là văn văn?
Đáp: Lặng lẽ nhưng mà thường hay chiếu soi.
Hỏi: Thế nào là văn bất văn?
Đáp: Chiếu soi nhưng mà thường lặng lẽ.
Hỏi: Thế nào là bất văn văn?
Đáp: Tịch chiếu không hai, gọi là bất văn văn.
Hỏi: Thế nào là bất văn bất văn?
Đáp: Tịch chiếu đều mất.
Văn văn, thể của tâm là thanh tịnh lặng lẽ mà tướng của nó thường chiếu soi.
Văn bất văn, tướng hằng chiếu soi nhưng thể luôn lặng lẽ.
Bất văn văn, thể và dụng không rời nhau.
Bất văn bất văn, không còn chia thể và dụng riêng biệt.
Sư nói thêm, giáo ngoại biệt truyền. Tông chỉ hướng thượng, quả như vậy ư? Nếu chỉ như thế, có thể gọi là khẩu truyền, có gì kỳ đặc? Nếu chẳng như thế lại làm sao sanh? Hãy tham!
Từ trước đến đây ngài giải thích như vậy là thuộc về khẩu truyền rồi, có gì là kỳ đặc? Cái gì là giáo ngoại biệt truyền, tông chỉ hướng thượng? Thử tìm xem, đó là cái gì?
CHƯƠNG VIII
MƯỜI LOẠI MA LÀM LOẠN CHÁNH ĐỊNH
Sư nói: Ngộ đạo tu thiền chẳng phải là việc nhỏ. Những loại ma trong, ma ngoài làm não loạn chánh định, một chút không chủ tể, liền tham trước cảnh ái. Do cảnh kích động mà rơi vào lưới ma, vốn là nhân lành mà trở lại chuốc quả ác. Kẻ sơ học đời sau hãy cẩn thận và đề phòng vậy.
Ngộ đạo tu thiền là đại sự chứ không phải tiểu sự. Những loại ma trong, ma ngoài làm não loạn chánh định, nếu việc lạ hiện ra mà mình không làm chủ được một chút nào thì có thể sanh tham trước cảnh ái. Do cảnh đó lôi rơi vào trong lưới ma, vốn là nhân lành mà trở lại chuốc quả ác.
Trước đây tôi có viết bài “nhân hoa mà quả cỏ” cũng với ý này. Nhiều người dốc lòng tu nhưng không khéo nên lạc vào ma, bị ma dẫn đi. Như vậy, nhân lành mà quả dữ. Ngài nhắc, kẻ sơ học đời sau hãy cẩn thận và đề phòng, phải cố gìn giữ đừng cho lơi lỏng. Mười thứ ma làm loạn chánh định này, chúng ta thử kiểm điểm lại coi mình có mấy thứ, nếu có thứ nào thì ráng nỗ lực mà trừ dẹp.
Tôi xin nêu ra mười điều để biện biệt về nghĩa ma. Tự soi tự xét về thiên ma và tâm ma. Dùng tuệ quán chiếu tiêu diệt ma nghiệp. Tâm cấu nếu tịnh các chướng tự nhiên dứt, sợ gì thiên ma nào dám làm loạn chánh định?
Nay đem mười loại ma mà thuật rõ ràng ở sau: Một là ma túc oan, hai là ma ngoại hoặc, ba là ma phiền não, bốn là ma sở tri, năm là ma tà kiến, sáu là ma vọng tưởng, bảy là ma khẩu nghiệp, tám là ma bệnh khổ, chín là ma hôn trầm, mười là thiên ma.
Mười loại ma chướng này hay làm nhiễu loạn người tu hành chân chánh, người mộ đạo nên thận trọng đó.
Nếu những trần cấu trong tâm hết thì các ma chướng cũng tự nhiên dứt, không đáng sợ.
Hỏi: Thế nào là ma túc oan?
Đáp: Ma túc oan gọi là nghiệp chướng. Từ những kiếp lâu xa cho đến đời này, sanh ra trong kiếp phàm phu, bất trung bất hiếu, bất nhân bất nghĩa, sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, tham lam, giận dữ và si ái. Kết nhiều oan gia ngày nay gặp gỡ, muốn học đạo lớn bị chúng xâm nhiễu chẳng an, hay làm chướng việc thánh, chẳng được thành tựu. Phải sanh tàm quý, chí thành sám hối, tha thiết cầu Tam bảo đem sức thần gia hộ. Tất cả những nghiệp từ trước tự tiêu tự diệt, tất cả oan gia tự lui hay tan mất. Lại phát bốn thệ nguyện lớn, làm lợi ích khắp chúng sanh, mau được vô lậu, chóng chứng Bồ-đề.
Người tham thiền phải tự sám hối đó.
Ma túc oan là nghiệp chướng oan trái của thuở quá khứ. Muốn làm việc đạo thì bị nghiệp chướng, mắc cái này, kẹt cái kia, làm cho hư hỏng Phật sự. Thí dụ chúng ta dự định ba tháng nữa nhập thất tu, tới lúc gần nhập thất thì bị đau, nằm ỳ đó tu không được. Hoặc như bữa nay là ngày học đạo mà có chuyện nhà làm chướng, đi không được. Đó là ma túc oan làm cho chướng ngại, nên việc tu học không suông sẻ như người khác. Người tu mà gặp chướng nhiều thì biết đó là ma túc oan làm trở ngại mình.
Biết thì phải làm sao? Phải sanh tàm quý, chí thành sám hối, chứ đừng giận, đừng tức. Hổ thẹn xưa sao mình làm nhiều việc ác, bây giờ gặp nhiều nghiệp chướng tu hành không được. Trong tâm hổ thẹn sám hối, ngoài thì tha thiết đảnh lễ Tam bảo cầu gia hộ cho nghiệp chướng được tiêu trừ.
Chí thành sám hối cho nghiệp chướng tiêu trừ rồi, còn phải phát bốn thệ nguyện lớn, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Nguyện làm lợi ích khắp chúng sanh, mau được vô lậu, chóng chứng Bồ-đề.
Hỏi: Thế nào là ma ngoại hoặc?
Đáp: Ma ngoại hoặc gọi là nhân chướng. Kẻ tiểu nhân không có căn lành, sang hèn chẳng đồng, làm não loạn định tâm chẳng được an ổn.
Ma ngoại hoặc là nhân chướng, tức là ở bên ngoài làm chướng ngại mình. Như kẻ tiểu nhân khi thấy mình sang họ hèn, đâm ra tức ghét kiếm chuyện làm cho não loạn. Hoặc họ sang mình hèn, họ ỷ thế lấn hiếp mình v.v... Những việc đó đều là chướng làm cho không được an ổn.
Việc này không riêng một cớ nào, tất cả đều do thiếu quyền biến, hoặc kém lễ nghi, hoặc do tự cao, hoặc tự ngã mạn, hoặc nói thẳng, hoặc hạnh thô, hoặc nương thế lực, hoặc khoe tài, hoặc nói ác, hoặc khen mình, hoặc chê người, hoặc thiếu vẻ ôn hòa, hoặc không cung kính, hoặc độ lượng không rộng rãi, hoặc thiếu nhẫn nại. Cho nên chuốc cái chẳng tin mà hoặc loạn sự tu hành, sanh tâm động niệm, che lấp bản minh. Kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải thấp xuống mà lui về nuôi đức, mới khỏi được nhân chướng.
Kẻ hậu học đời sau phải khoan tâm và nhẫn nại đó.
Sở dĩ người khác làm chướng mình là tại vì mình không khéo quyền biến, hoặc thiếu lễ độ, tự cao ngã mạn khiến người tức ghét. Hoặc vì nói thẳng, việc đó người ta không ưa mà mình nói thẳng vô mặt người ta. Hoặc do hạnh của mình thô làm cho người ta khi dễ. Hoặc mình nương thế lực bà con dòng họ làm quan quyền, rồi lấn hiếp người. Hoặc chê người, khoe tài, cho mình là hay khiến họ đố kỵ. Hoặc nói lời ác, lời dữ cho người ta phát tức nên họ chướng lại, làm mình phiền não.
Nói tóm lại, tất cả việc người ta làm cho phiền não, gốc tại nơi mình. Do mình có những tánh xấu, làm cho người ta không tin. Cho nên họ làm hoặc loạn sự tu hành, khiến mình sanh tâm động niệm, phải buồn phiền, phải giận tức v.v... Bởi sanh tâm động niệm nên che lấp bản minh của mình. Cho nên kẻ hậu học đời sau phải khoan tâm, mở tâm rộng rãi ra. Lỡ có làm cho người khác phiền não họ gây chướng lại, phải mở tâm ra và ráng nhẫn nhịn. Nếu chống cự lại thì chướng càng thêm chướng.
Loại ma chướng ngoại hoặc này chắc nhiều người bị lắm, cả tôi cũng bị chướng này. Tôi thấy rõ ràng, tất cả ma chướng đều gốc từ mình mà ra. Tại mình khinh thường người, tại vì không hài lòng, rồi ỷ mình làm thầy là trên thiên hạ, nên cái gì cũng rầy được, tới chừng người ta tức quá họ chướng lên cự lại thì phiền não. Nếu chúng ta biết suy nghĩ, ăn nói hiền hòa, lúc nào cũng nhẫn nại, rộng rãi, cung kính mọi người... thì đâu đến nỗi nào, chắc không bị ai ghét. Tại mình có những bệnh này bệnh kia, làm người bất mãn nên họ mới ghét, mới làm chướng ngại lại.
Vì vậy kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải hạ thấp xuống, thấp chừng nào là càng hay chừng nấy. Lui về nuôi đức, im giữ cái đức của mình mới khỏi bị người khác làm chướng ngại. Nếu cứ hiu hiu tự đắc, nói năng như tạt nước lạnh vô mặt người ta, tất nhiên thiên hạ chướng, rồi sanh ra chuyện này chuyện nọ, làm mình tu không được.
Đó là ma chướng thuộc về ngoại hoặc.
Hỏi: Thế nào gọi là ma phiền não?
Đáp: Ma phiền não gọi là sự chướng. Sự chướng nếu chẳng trừ hay làm lộn xộn việc chánh tu. Thế nào là phiền? Thế nào là não? Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, não thì sanh ở nội tâm. Người tu thiền nhất định phải đoạn phiền não, phiền não chẳng trừ sạch, tánh định khó hiện.
Thấy người nữ mà sanh tâm, là dâm tâm phiền não. Thấy sự giết hại mà sanh tâm, là ác tâm phiền não. Thấy tài lợi mà sanh tâm, là đạo tâm phiền não. Thấy vật mà sanh tâm, là tham tâm phiền não. Thấy người sanh khinh thường, là ngã tướng phiền não. Thấy kẻ thấp sanh kiêu ngạo, là tự đại phiền não. Thấy nghịch cảnh sanh sân, là khuể tâm phiền não. Thấy thuận cảnh sanh vui, là tùy hỷ phiền não. Thấy kẻ oán sanh tâm ghét, là hận tâm phiền não. Thấy người thân sanh thương, là tư tâm phiền não.
Tất cả những cái thấy bên ngoài, mà bên trong sanh thủ xả, đều là phiền não, không thể nào mà nói ra cho hết được. Kẻ tham thiền nhất định phải trừ sự chướng. Sự chướng nếu chẳng không, làm não loạn chánh định. Người học đời sau tại sao không đoạn nó?
Ma phiền não là sự chướng. Sự chướng nếu chẳng trừ hay làm lộn xộn việc chánh tu. Phiền não là sao? Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, nên bứt rứt, rối rắm. Não thì sanh ở nội tâm, nên trong tâm lộn xộn. Người tu thiền nhất định phải đoạn phiền não, nếu không thì tánh định khó hiện.
Ngài kể qua những loại phiền não đơn giản, như thấy người nữ mà sanh tâm là dâm tâm phiền não. Do thấy sắc bên ngoài mà trong tâm dấy động, gọi là dâm tâm phiền não.
Thấy sự giết hại mà sanh tâm gọi là ác tâm phiền não. Thí dụ mình đi ra bãi biển, thấy người ta kéo lưới được con cá lớn nó giãy đành đạch, mình vui thích chạy lại coi, đó thuộc về ác tâm phiền não.
Thấy tài lợi mà sanh tâm gọi là đạo tâm phiền não. Thấy người nào đó nhiều của mình ham thích, hoặc thấy lợi lộc đến mình sanh tâm tham muốn, là phiền não do tâm trộm v.v...
Những thứ phiền não này rất nhiều, không thể nào mà nói ra cho hết được. Cho nên người tu thiền, làm sao khi đối cảnh mà tâm được như như, được mất hay dở gì cũng vậy, thì mới dứt được phiền não chướng.
Hỏi: Thế nào gọi là ma sở tri?
Đáp: Ma sở tri gọi là lý chướng. Lý chướng nếu chẳng trừ hay làm loạn chánh định.
Ma phiền não là sự chướng, vì cảnh bên ngoài làm cho động tâm, nên gọi là sự chướng. Còn ma sở tri là lý chướng, vì chấp ngay trên sự đắc đạo và ngộ lý nơi mình. Lý chướng nếu chẳng trừ hay làm loạn chánh định. Cho rằng mình ngộ rồi khinh thường người khác, đó là chướng rồi.
Sở tri là thế nào mà lỗi như thế? Biết ta được ngộ, biết ta thông thiền, biết ta rõ giáo, biết ta hội lý, biết ta học nhiều, biết ta hiểu nhiều, biết ta trì giới nghiêm túc, biết ta được định, biết ta phát tuệ, biết ta chứng không, biết ta tự tại, biết ta vô ngại, biết ta được thần thông, biết ta được lẽ mầu, biết ta chứng đạo, biết ta thành Phật, muôn ngàn điều biết gọi là lý chướng.
Ma sở tri chỗ khác gọi là sở tri chướng. Trong kinh Viên Giác nói rất rõ việc này. Nếu thấy mình có chứng đắc, có liễu đạt là bệnh. Thấy mình được cái gì cũng là bệnh hết. Tại sao? Bởi vì nếu bám vào chỗ chứng của mình để coi thường kẻ khác, đó là bệnh ngã mạn. Cho nên chứng mà không chấp mình chứng, biết mà không chấp cái biết của mình hơn người, tâm vẫn như như thì không bệnh.
Biết ta được ngộ, biết ta thông thiền, biết ta rõ giáo, biết ta hội lý... Chia chẻ bệnh chấp tế nhị như vậy, huống nữa là tự xưng mình chứng thánh. Chấp có chứng là đã bị ma rồi, vậy mà bây giờ có nhiều người xưng mình là Di-lặc, hoặc chứng thế này thế kia, thiên hạ kéo nhau đến lạy. Nên biết, đó là ma lừa ma, thảy đều là yêu quái, không phải đạo lý. Tôi thường nói, ai xưng chứng thánh hay thành Phật thì mình bái ba bái rồi chạy đi, chứ đừng đến gần nguy hiểm.
Lý chướng nếu chẳng trừ pháp chấp chẳng quên. Pháp chấp chẳng quên thì chân tâm chẳng hiện. Người tu thiền định nhất định phải dứt trừ lý chướng.
Thấy mình chứng được quả gì rồi cố bám vào đó, là bị pháp chấp. Pháp chấp còn thì chân tâm chẳng hiện, cho nên phải dứt trừ lý chướng. Lý chướng rất là tế nhị.
Hỏi: Thế nào là ma tà kiến?
Đáp: Ma tà kiến là chấp chướng, chấp chướng chẳng trừ ắt rơi vào định tà. Tà kiến như thế nào mà loạn chánh định như vậy? Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến. Chấp tánh vốn không, gọi sự chấp ấy là vô kiến. Chấp vốn không chết, gọi sự chấp ấy là thường kiến. Chấp theo khí mà diệt, gọi sự chấp ấy là đoạn kiến. Chấp từ không sanh ra có, là tự nhiên kiến. Chấp từ khí hóa ra hình, là tà nhân kiến.
Ma tà kiến là chấp chướng, chấp chướng thì rơi vào định tà. Tà kiến như thế nào?
Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến. Hữu kiến tức là chấp có. Thế nào là chấp tánh chẳng hoại? Như nói, Phật tánh thường còn bất hoại, có phải là chấp tánh chẳng hoại không? Điểm này phải giản trạch cho kỹ, không khéo dễ lầm.
Chấp tánh chẳng hoại là lối chấp có thần ngã bất sanh bất diệt, còn nói Phật tánh không hoại là vì ánh đó không có hình tướng. Tuy không hoại mà tùy duyên ứng hiện. Khi ứng hiện là có hình tướng, mà hình tướng thì có hoại, còn cái không hình tướng thì không hoại, nên không thể chấp thiên lệch một bên. Nói Phật tánh bất sanh bất diệt đó, không phải nằm trong kiến chấp này.
Chấp tánh vốn không, gọi sự chấp ấy là vô kiến. Chấp tự tánh của mình là không có, chết rồi là mất hẳn không còn gì. Chấp như vậy gọi là vô kiến. Trên là chấp hữu, đây là chấp vô.
Chấp vốn không chết, gọi sự chấp ấy là thường kiến. Chấp mình tu thành tiên thì không còn chết, đó là thường kiến.
Chấp theo khí mà diệt là sự chấp, ấy là đoạn kiến. Nghĩa là chấp con người do tinh khí mà thành, khi chết rồi thì khí theo gió mà mất, người không còn gì, đó thuộc về đoạn kiến.
Chấp từ không sanh ra có, là tự nhiên kiến. Chấp có đó là bỗng dưng mà có, không do nhân nào làm thành, ấy là tự nhiên kiến.
Chấp từ khí hóa ra hình, là tà nhân kiến. Do hơi mà sanh ra, như nói hà hơi sanh ra con người v.v…
Tự như như chẳng có chẳng không, tức có tức không. Tất cả những tà chấp, tà kiến nhân duyên tự nhiên... đều chẳng lìa không hữu, đoạn thường hai đầu. Tự chướng bản lý đến rơi vào đường tẽ. Người tham thiền phải biết mà ngộ lẽ này.
Nói tóm lại, tất cả những chấp thuộc về hai bên đều là tà chấp. Người tu theo Phật giáo không thấy hai bên, cũng không thiên lệch một bên. Nghĩa là không thấy thường, không thấy đoạn... Nếu thấy có thường, có đoạn đều là bệnh. Như nói chết rồi hết, là đoạn kiến. Nói linh hồn còn hoài, là thường kiến...
Chúng ta tu phải thấy cho tường tận. Căn cứ vào bản thể thì bất sanh bất diệt, nên không mắc vào đoạn kiến. Trên diệu dụng thì sanh diệt vô thường, nên không mắc vào thường kiến. Thường hay đoạn đều nằm sẵn trong đó, không có riêng một bên. Nên nói, sự vật tánh là không mà duyên khởi huyễn có. Cái huyễn có là vô thường, mà tánh không là thường. Như vậy, trong vô thường có thường, trong thường có vô thường, chứ không phải bên này khác, bên kia khác.
Hỏi: Thế nào là ma vọng tưởng?
Đáp: Ma vọng tưởng gọi là tự chướng. Tự chướng chẳng không thì sanh diệt chẳng dừng, điên đảo tán loạn, che chướng bản tâm. Người tham thiền cần phải làm cho rỗng không cái chướng này. Nay nêu ra một hai điều, để làm sáng tỏ cái vọng chướng như: Vọng tưởng ngộ đạo, vọng tưởng đắc định, vọng tưởng phát tuệ, vọng tưởng nhiều hiểu biết, vọng tưởng hay làm văn, vọng tưởng về danh đạt, vọng tưởng về sự cúng dường nhiều, vọng tưởng làm thầy, vọng tưởng chư tăng quy hướng, vọng tưởng tiếp nối tổ vị, vọng tưởng trụ một ngôi chùa, vọng tưởng hoằng đạo, vọng tưởng về tác phẩm lưu truyền, vọng tưởng về kẻ nối dòng, vọng tưởng về sự nhập tháp, vọng tưởng về thần thông, vọng tưởng về huyền diệu, vọng tưởng về kỳ đặc, vọng tưởng về quái lạ, vọng tưởng trường sanh, vọng tưởng hoàn đồng, vọng tưởng bay lên, vọng tưởng thành Phật...
Các vọng chẳng không, động niệm làm trái với lẽ chân. Người mới học mộ đạo, dứt vọng làm gốc.
Ma vọng tưởng gọi là tự chướng, tức là tự mình làm chướng cho mình. Tự chướng như thế nào?
Ngồi lại vọng tưởng mong mình ngộ đạo. Vọng tưởng tu sao cho mau chứng. Ngồi thiền chừng nào đắc định. Vọng tưởng mong mau phát tuệ. Vọng tưởng được biết nhiều. Vọng tưởng viết văn sao cho hay. Vọng tưởng mình được nổi tiếng. Vọng tưởng trông Phật tử đem tới cúng dường nhiều. Vọng tưởng làm thầy thiên hạ, có đồ chúng đông đảo, hết lớp này tới lớp kia quy hướng. Vọng tưởng mình được kế vị tổ. Vọng tưởng làm trụ trì. Vọng tưởng mai kia ra hoằng hóa phải làm sao, tổ chức cách nào? Vọng tưởng viết những tác phẩm để lại cho đời sau. Vọng tưởng lựa chọn người nào kế vị? Vọng tưởng mai kia mình già phải xây tháp ra sao, nhập tháp thế nào? Vọng tưởng tu cho có thần thông, biết bay hoặc nghe được tiếng ở xa, vọng tưởng những điều huyền diệu. Vọng tưởng có những thứ kỳ đặc, quái lạ. Vọng tưởng trường sanh, ước được sống lâu. Vọng tưởng phản lão hoàn đồng. Vọng tưởng thành Phật. Vọng tưởng thế này thế kia v.v...
Tất cả những niệm đó đều là vọng tưởng, cho đến mong thành Phật cũng thuộc về vọng tưởng. Có người nào không mắc mấy thứ vọng tưởng này không? Nếu không mắc hết, chắc cũng có phân nửa. Phải vậy không? Thí dụ như tôi có mấy tác phẩm, cũng là vọng tưởng. Rồi nghĩ khóa tới chư tăng đông, phải có người cúng dường nhiều chứ ít ăn không đủ... cũng là vọng tưởng, đều làm chướng động tâm thức. Tuy nó thuộc về thiện, nhưng với người thường thì được, còn với người muốn cho bản tánh được sáng rỡ thì vọng tưởng nào cũng là chướng cho sự tu. Nên nói, ác cũng bỏ mà thiện cũng phải dứt là vậy. Thành ra trong chúng ta đây, người nào cũng bị ma, hoặc bị nhiều hoặc bị ít, chứ không ai là hoàn toàn không có. Bởi có vọng tưởng tức là trái với lẽ chân thật, cho nên người mới học đạo phải cố mà dứt vọng.
Hỏi: Thế nào là ma khẩu nghiệp?
Đáp: Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng. Nếu chẳng dè dặt lời nói mà buông ý lắm mồm, thì tán tâm loạn niệm chẳng được định tâm. Khẩu nghiệp do đâu mà lỗi nó quá nhiều? Bởi ưa bàn huyền nói diệu, giảng kinh nói thiền. Tự khoe rằng đã được ngộ, chê kẻ khác ngu mê. Luận về sở trường sở đoản của người, nói sự phải quấy của người. Ngâm thơ vịnh phú, mở miệng xướng càn. Bình luận chuyện xưa nay, bàn chuyện đất nước hưng phế, xưa kia là người hiền kẻ ngu, nay là kẻ ác người thiện. Chẳng quan hệ đến việc ta mà rống lời tranh luận chuyện được mất của người, vô cớ chê khen. Nói những cảnh dục khiến người sanh yêu, nói những chuyện bất bình khiến người sanh giận, chê sau lưng khen trước mặt. Tất cả những lời nói lợi hại khiến người quên mất chánh niệm.
Người tham thiền cần yếu phải gắng gìn giữ, chẳng những ít lời nuôi đức mà lại khiến tâm chẳng loạn. Kẻ sơ cơ tu hành cẩn thận và kiêng giữ việc này.
Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng, tức là điên cuồng. Nếu chẳng dè dặt lời nói, buông ý lắm mồm thì tán tâm loạn niệm, chẳng được định tâm. Bởi ngồi lại thì ưa bàn huyền nói diệu, cái này hay cái kia cao, giảng kinh nói thiền, tự cho rằng đã được ngộ, chê kẻ khác ngu mê. Luận sở trường sở đoản, nói việc phải quấy của người. Ngâm thơ vịnh phú, mở miệng xướng càn, bình luận chuyện xưa nay v.v... Chúng ta cứ đem chuyện thiên hạ ra bàn, thành ra mình ngu si quá đỗi, toàn là những lời nói bậy, làm cho mất chánh niệm. Vì vậy ngài Nham Đầu bảo “bịt lỗ đít lại”. Đây là chỗ phải khéo cẩn thận, vì đó là chướng lớn.
Đúng tinh thần tu thiền là ít nói chừng nào tốt chừng nấy, ngoại trừ cần nói đạo lý thì ráng nói, còn bàn luận hay dở, khen chê, phải quấy của thiên hạ có ích lợi gì? Mình đâu phải bình luận gia, đâu ai mời mình? Vậy mà ăn ở không cứ bàn nói hoài, thật là tội lỗi, phải nên hổ thẹn!
Người tu thiền phải nên im lặng như cái bình đậy nút không có kẽ hở, không ai biết trong đó chứa cái gì, được vậy thì tốt. Chúng ta lâu nay quen tật lắm mồm, như tôi xưa kia tập nghiệp giảng sư lắm mồm quen rồi, bây giờ kìm lại thật khó. Người nào chưa từng nói thì ráng tập ít nói, nói nhiều chỉ tổn đức lao thần, hai cái đều bất lợi. Cho nên người muốn tu tiến nên ngồi riêng một mình, để không có cơ hội bàn nói. Nếu đến chỗ đông thì bàn chuyện này nói chuyện kia, khui chuyện nọ. Không khui ra thì thôi, mà khui ra rồi thì chuyện kéo dài mấy tiếng đồng hồ, bình qua luận lại. Lúc đầu nói chuyện đạo, một hồi thành chuyện đời, mất biết bao thời giờ, lại còn làm cho tâm mình tâm người rối loạn nữa. Vì vậy người tu phải ráng mà cố gắng!
Hỏi: Thế nào là ma bệnh khổ?
Đáp: Ma bệnh khổ gọi là khổ chướng. Thân nhiều tật bệnh đều do nghiệp đời trước, hoặc do mất sự điều hòa mà biến sanh trăm thứ bệnh, chẳng được thọ dụng, làm cho người học đạo có sự chướng ngại. Nay tôi nêu lên mấy điều phải tự đề phòng.
Ma bệnh khổ gọi là khổ chướng. Thân nhiều bệnh hoạn do túc nghiệp, hoặc do không điều hòa mà sanh bệnh, làm chướng ngại việc tu đạo. Ở đây ngài nêu ra những việc để chúng ta biết mà tự điều hòa.
Điều hòa tỳ vị, tiết chế và chọn thức ăn uống, ít đắm mùi vị nồng hậu, lại phải cữ vật sống và lạnh. Khi đói chớ đọc tụng, lúc no chớ gánh vác nặng. Sau khi ăn chớ ngủ, tối cữ ăn no. Thích ăn đồ thối nát, ưa ăn đồ chiên xào, thích ăn ngũ vị, dùng nhiều vật quấy.
Tỳ vị tức là bao tử và ruột. Cần tiết chế sự ăn uống cho phù hợp, phải bớt những thức ăn sống và lạnh. Khi đói chớ đọc tụng, nhiều chùa chiều không cho ăn, tối còn phải tụng kinh, dễ khiến cho bị bệnh. Khi no đừng gánh vác nặng, buổi sáng chúng ta thường làm công tác nên ăn vừa vừa thôi, ăn no quá ra làm công tác bụng bị phát ách. Sau khi ăn chớ ngủ, ăn rồi nằm ngủ liền hay bị chướng bụng. Nhất là buổi tối đừng ăn no, những đồ hư thúi rồi mà ăn cũng không tốt. Những thức ăn chiên xào nên bớt đi, đừng xào thường, tri khố lâu lâu nên thay bằng món luộc thì tốt hơn. Đừng thích ăn ngũ vị tân và những món ăn bậy bạ. Đó là điều hòa về việc ăn uống.
Tọa thiền nơi đất ẩm, ngủ nơi chỗ gió, đang ra mồ hôi mà nhảy vào nước, thích ấm tham mát, đang lúc gió mà tắm rửa, nằm trần ngoài trời, đói quá no quá, vui quá giận quá, lạnh quá nóng quá, mưa lớn sương nhiều.
Bệnh nội thương ngoại cảm, tất cả đều do mất sự điều hòa, nên sanh những bệnh hoạn, làm cho thân chẳng được yên. Kẻ hậu học phải biết mà dự phòng và tránh bệnh.
Đó là những việc không tốt cho sức khỏe. Nếu biết đề phòng thì ít bệnh.
Hỏi: Thế nào là ma hôn trầm?
Đáp: Ma hôn trầm gọi là thùy chướng. Thùy chướng chẳng luyện trừ, hôn trầm quá nặng, chân tâm chẳng sáng, tuệ tánh chẳng phát khởi, rơi vào chỗ mờ tối của núi đen và hang ma.
Nguyên nhân của bệnh hôn trầm kia như thế nào? Sự hôn chướng này phần lớn do ăn nhiều, tham nhiều vị ngon, nói nhiều làm tán khí, hình lao tỳ yếu, tinh thần chẳng trong lặng, trược khí hỗn loạn, ngu si nhiều giận tức, lười biếng buông lung, chẳng nhớ nghĩ việc sanh tử chỉ tham an lạc. Kẻ hậu học khi dụng công nên phát tinh tấn, mang dùi chích thịt, cho đầu chạm vào cột, lễ Phật đốt đèn, đứng nơi nguy hiểm đi kinh hành, khổ thân mài luyện ma ngủ mới nhẹ.
Nếu chẳng như vậy mặc tình ngủ nghỉ thì chân tâm chẳng sáng. Người tham thiền nên dũng mãnh hàng phục ma ngủ.
Ma hôn trầm gọi là thùy chướng, là chướng do sự ngủ nghỉ. Bởi vì lúc hôn trầm mờ mờ không sáng, cho nên trong nhà thiền thường gọi là núi đen, là hang ma.
Nguyên nhân của bệnh hôn trầm, phần lớn là do ăn nhiều. Nếu buổi chiều mà ăn nhiều thì ngồi thiền ngủ mê. Hoặc khi nào nói nhiều quá, mệt tối ngồi cũng bị hôn trầm. Việc này tôi có kinh nghiệm cụ thể, hôm nào tôi giảng nhiều, tối ngồi thiền dễ bị gục, đó là do tán khí. Khi thân thể nhọc nhằn người yếu, tinh thần lờ mờ chẳng sáng, trược khí xông lên làm cho hỗn loạn dễ bị hôn trầm. Hoặc ngu si, giận tức, lười biếng, chỉ thích nằm chường ra ngủ cho ngon, mà không nhớ việc sanh tử...
Đó là những nguyên nhân gây ra hôn trầm, làm chướng ngại việc tu. Vì vậy kẻ hậu học khi dụng công phải phát đại tinh tấn, dùng đủ phương tiện để trị hôn trầm, hàng phục ma ngủ.
Hỏi: Thế nào là đại thiên ma?
Đáp: Đại thiên ma chẳng đồng với các chướng. Bởi do tu hành đúng đắn, sắp chứng đạo quả, tâm tinh thuần thông suốt, lặng yên chẳng động, làm kinh động thiên ma và cung điện của quỷ thần đều sụp đổ, cõi đất rung động, ma chúa kinh hãi, loài yêu quái ở cây, ở đá cũng hoảng sợ. Tất cả loài ma mị đều có ngũ thông đồng đến não loạn, chẳng cho người vào thánh vị. Chúng biến ra những điều quái lạ, hóa ra những cảnh dục để làm loạn thiền định của người tu. Người tu nếu tâm sanh ra thủ hay xả, ma liền được tiện lợi mà người tu thì thọ hại, tự phát điên cuồng, cho là đã thành Phật. Còn sống thì bị hãm vào nạn vua, lúc chết đọa vào vô gián ngục.
Thông thường chúng ta hay nghĩ, tại sao người tu mà bị ma phá? Ma phá người tu hành là đại thiên ma, chứ không phải những loại ma thường. Bởi vì khi có người gần đắc đạo thì các cung điện của ma rung động, nên ma hoảng kinh tới để ngăn trở. Chúng biến ra những điều quái lạ, hoặc biến các cảnh dục để làm loạn thiền định.
Người tu nếu tâm sanh ra thủ hay xả, ma liền được tiện lợi mà người tu thì thọ hại. Thí dụ chúng kéo cả bầy, mang cung tên, gươm giáo, súng ống... đứng bao quanh mình, thì lúc đó mình làm gì? Thủ xả đều là bệnh. Thấy như vậy rồi hoảng kinh lên, hay đứng dậy chạy là thua rồi. Lúc đó vẫn giữ tâm nhất như, hoặc là quán thân không cảnh không, thì ma không hại được. Nó không thấy mình đâu nữa, tự nhiên nó lui. Chỗ này thiền sư Hương Hải có gặp, sau này học kỹ sẽ thấy.
Kẻ sĩ tham thiền chánh niệm rõ ràng, trí tuệ chiếu sáng, một lòng chẳng động, mặc tình chúng tác quái ta chẳng thèm thấy nghe, dùng chánh định hàng phục, ma tự nhiên tiêu diệt. Kẻ tu học đời sau phải cẩn thận và tự phân biệt cho rành rõ ma sự này.
Mặc cho ma muốn làm gì thì làm, mình vẫn thấy thân này là không, dù chúng làm cho chết mình cũng không sợ, tâm vẫn an nhiên trong định. Đây là dùng chánh định hàng phục, ma tự nhiên tiêu diệt. Kẻ tu học đời sau phải biết cho thật tường tận ma sự này.
Ở trên đã lược nêu lên mấy điều ma sự, nếu muốn hiểu cho khúc chiết rõ ràng, nên xem kinh Lăng-nghiêm nói về ma nghiệt trong ngoài. Tất cả những dị kiến mỗi mỗi đều rõ ràng, khi hạ thủ dụng công chẳng rơi vào lưới ma mà chứng thẳng quả Phật.
Việc tu không phải khó, cũng chẳng phải không khó. Nếu nỗ lực tu hành tâm được nhất như thì không ma chướng nào làm hại được. Tâm còn thủ xả, trong khi tu nhiều ma chướng nổi dậy, không thắng được nó thì bị nó xỏ mũi. Như hiện giờ có người tu năm bảy năm rồi phát điên, nói gặp linh khí Phật, đó là bị ma xỏ mũi. Cho nên người biết tu, khi ngồi thiền thấy cảnh gì hiện ra cũng vẫn coi thường, không sợ sệt. Biết thân này là huyễn, cảnh đó là huyễn, tất cả cái huyễn đều không thật, tâm nhất như bất động, ma làm gì mặc nó. Kinh nói: “Kiến quái bất kiến quái, kỳ quái tự hoại”, gặp ma quái mà không khởi tâm kinh sợ thì ma tự lui. Đó là chỗ thiết yếu.
CHƯƠNG IX
DẪN CHỨNG LỜI KINH
Muôn pháp về tâm hỏi đáp rõ ràng. Bậc thượng căn vừa xem qua liền ngộ bản tâm, kẻ trung hạ căn ngu độn nghi ngờ bài báng chẳng tin, nên dẫn lời kinh của Phật để chứng minh, hầu đoạn trừ những nghi hoặc, tin một cách thành thật chẳng lầm. Hoặc có người được ngộ, y lời dạy mà vâng làm, vào thẳng tòng lâm của cổ Phật, vượt thẳng qua lãnh vực then chốt của tổ sư. Có thể bảo, ngay nơi nhục nhãn mà viên thông Phật nhãn, ngay nơi tâm phàm mà hiển chân tâm. Nay thuật lời trong kinh Phật và lời của tổ sư để ấn chứng chánh lý quy tâm.
Kinh Bát-nhã nói: “Hết thảy chư Phật đồng ở một chỗ, gom về cảnh giới vô lậu và tự tánh thanh tịnh.”
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Ngôn từ thuyết pháp, kẻ tiểu trí vọng phân biệt nên sanh chướng ngại, chẳng rõ ở tự tâm. Không rõ tự tâm làm sao biết chánh đạo? Kẻ kia dùng tư tưởng điên đảo, nên tăng trưởng tất cả điều ác.”
Kinh Lăng-già nói: “Đệ nhất nghĩa đế chỉ là tâm. Vô vàn tướng bên ngoài, tất cả đều không có. Kẻ ngu phu kia chấp trước vào ác kiến, khi dối tự tha, không thấy rõ được chỗ trụ như thật của hết thảy các pháp. Đại Huệ! Hết thảy các pháp như thật, ấy nghĩa là hay liễu đạt lý duy tâm sở hiện.”
Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Người xuất gia làm Sa-môn, phải đoạn dứt ham muốn, khử trừ khát ái, biết được nguồn tâm của mình, đạt được lý gốc của Phật, ngộ pháp vô vi, bên trong không sở đắc, bên ngoài không sở cầu, tâm không hạn cuộc nơi đạo, cũng không tạo nghiệp, vô niệm vô tác, phi tu phi chứng, chẳng trải qua các ngôi thứ mà tự cao tột, đó gọi là đạo.”
Kinh Bảo Vân nói: “Hết thảy các pháp, tâm là trên hết. Nếu biết tâm thì có thể biết được tất cả pháp.”
Bài kệ trong kinh Nhân Quả nói:
Nhất thiết tạo thiện ác,
Giai tùng tâm tưởng sanh,
Thị cố chân xuất gia,
Giai minh tâm vi bổn.
Dịch:
Tất cả thiện ác tạo,
Đều từ tâm tưởng sanh,
Người xuất gia chân chánh,
Lấy minh tâm làm gốc.
Kinh Niệm Phật Tam-muội nói: “Tâm như kim cang, vì căn lành hay xuyên thấu tất cả pháp. Tâm như áo Ca-lân-đề, vì mềm dịu căn lành. Tâm như bể cả, vì căn lành nhiếp các giới tụ. Tâm như đá bằng phẳng, vì căn lành gìn giữ tất cả sự nghiệp. Tâm như núi chúa, vì căn lành hay phát sanh tất cả pháp lành. Tâm như cõi đất, vì căn lành hay gánh vác và gìn giữ sự nghiệp cho chúng sanh.”
Kinh Định Ý nói: “Trong thiền định chẳng dính mắc trong ngoài, cũng không ở giữa, đó gọi là nhất tâm.”
Kinh Bảo Khiếp nói: “Văn-thù-sư-lợi bảo Xá-lợi-phất rằng, như hỏa tai bùng cháy trong hằng sa kiếp, rốt lại cũng không đốt được hư không. Xá-lợi-phất! Cũng như vậy, mỗi mỗi chúng sanh tạo tội ngũ nghịch, cùng nghiệp chẳng lành trong hằng sa kiếp, nhưng mà tâm tánh họ rốt lại cũng chẳng thể nhơ.”
Bài kệ trong kinh Đại Hư Không Tạng Bồ-tát Sở Vấn nói:
Hư không ly sanh diệt,
Pháp giới vô khứ lai.
Chúng sắc hiện ư không,
Chư pháp y tâm trụ.
Không vô sắc phi sắc,
Tâm tánh diệc phục nhiên.
Hư không duy giả danh,
Tâm ý thức như thị.
Dịch:
Hư không lìa sanh diệt,
Pháp giới không tới lui.
Các sắc hiện trong không,
Các pháp nương tâm trụ.
Không, không sắc phi sắc,
Tâm tánh cũng như vậy.
Hư không chỉ giả danh,
Tâm ý thức cũng vậy.
Bài kệ kinh Lăng-già nói:
Chư pháp vô pháp thể,
Nhi thuyết duy thị tâm,
Bất kiến ư tự tâm,
Nhi khởi ư phân biệt.
Dịch:
Các pháp không pháp thể,
Mà nói chỉ là tâm,
Chẳng thấy được tự tâm,
Mà khởi ra phân biệt.
Kinh Xuất Diệu nói: “Người thân mặc giáp giới luật, mà tâm không có gươm trí tuệ thì không làm tan hoại được bọn đầu sỏ kiết sử. Cho nên biết, nếu chẳng quán tâm cho diệu tuệ thành tựu thì không thể chặt đứt được căn bản vô minh.”
Kinh Niết-bàn nói: “Sư tử rống, ấy là nói một cách quyết định rằng, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nếu biết tự tâm mình Phật tánh đầy đủ thì ngoài tánh lại có pháp đáng cầu ư?”
Kinh Pháp Hoa Tam-muội nói: “Không dính mắc, không chỗ nương, không hệ lụy vào tâm tịch diệt, bản tánh như hư không, đó gọi là vô thượng đạo.”
Ngài dẫn những câu kinh để chứng minh “tất cả pháp đều về tâm”. Lời kinh rõ ràng rồi, không cần phải giải thích thêm. Trước ngài dẫn kinh, kế dẫn kệ của bảy đức Phật, sau cùng là dẫn lời chư tổ.
KỆ CỦA BẢY ĐỨC PHẬT
Bài kệ của Phật Tỳ-bà-thi nói:
Thân tùng vô tướng trung thọ sanh,
Du như huyễn xuất chư hình tượng,
Huyễn nhân tâm thức bản lai vô,
Tội phước giai không vô sở trụ.
Dịch:
Thân từ trong vô tướng thọ sanh,
Dụ như huyễn, xuất các hình tượng.
Người huyễn, tâm thức xưa nay không,
Tội phước đều không, không chỗ trụ.
Thân này từ trong tánh không, do duyên hợp mà thành có, nên nói từ trong vô tướng thọ sanh. Bởi duyên hợp nên nó là huyễn hóa, như hình tượng trong gương, không thật. Thân đã là giả huyễn thì tâm thức hư vọng xưa nay cũng giả huyễn. Thân và tâm thức đều huyễn thì tội phước đâu thật có, vì tội phước là thuộc về nghiệp thiện ác, mà nghiệp đó gốc từ thân tâm tạo, nên nói tội phước đều không, không chỗ trụ. Nói như vậy là có tội phước hay không? Nếu mê thì rõ ràng trước mắt, ngộ rồi tự tánh nó là không, nói có nói không đều sai.
Chúng ta có bệnh, nói có hoặc nói không. Cho nên nghe nói có tội phước thì cho là quyết định có, nghe nói không thì chấp là không tội phước, rồi muốn làm gì cứ làm, như vậy rất nguy hiểm. Nên nhớ, quyết định có hay quyết định không đều là chấp một bên. Tội phước có là có với người mê, mà không là không với người ngộ.
Bài kệ của Phật Thi-khí nói:
Khởi chư thiện pháp bổn thị huyễn,
Tạo chư ác nghiệp diệc thị huyễn,
Thân như tụ mạt tâm như phong,
Huyễn xuất vô căn vô thật tánh.
Dịch:
Tạo các pháp lành vốn là huyễn,
Tạo các nghiệp ác cũng là huyễn.
Thân như hòn bọt, tâm như gió,
Huyễn hiện không nguồn, không thật tánh.
Chư Phật nói pháp như nhau, bài kệ này cũng không khác bài kệ của đức Phật Tỳ-bà-thi, nên nói Phật Phật đều trao một pháp. Nghiệp lành là huyễn thì nghiệp ác cũng là huyễn. Tại sao? Bởi vì thân như hòn bọt, tâm như gió. Hòn bọt chợt có chợt tan, gió thoảng qua rồi mất, không có gì là thật cả.
Bài kệ của Phật Tỳ-xá-phù nói:
Giả tá tứ đại dĩ vi thân,
Tâm bổn vô sanh nhân cảnh hữu,
Tiền cảnh nhược vô tâm diệc vô,
Tội phước như huyễn khởi diệc diệt.
Dịch:
Vay mượn bốn đại ngỡ là thân,
Tâm vốn không sanh nhân cảnh có.
Cảnh trước nếu không, tâm cũng không.
Tội phước như huyễn khởi rồi diệt.
Chữ tâm ở đây là chỉ cho vọng thức, vọng tâm, chứ không phải chân tâm. Thân do vay mượn bốn đại mà có, rồi cứ tưởng nó là thật mình. Tâm cũng vậy, vốn là hư vọng không thật, bởi duyên với cảnh mà dấy lên, nương nơi cảnh mà có, rồi cho đó là tâm mình. Nếu thấy cảnh trước mắt không thật thì tâm vọng duyên theo cảnh cũng là không, khởi lên như huyễn, diệt cũng như huyễn, tội phước cũng như huyễn.
Bài kệ của Phật Câu-lưu-tôn nói:
Kiến thân vô thật thị Phật kiến,
Liễu tâm như huyễn thị Phật liễu.
Liễu đắc thân tâm bản tánh không,
Tư nhân dữ Phật hà thù biệt.
Dịch:
Thấy thân không thật là Phật thấy,
Rõ tâm như huyễn là Phật rõ.
Rõ được thân tâm bản tánh không,
Người này cùng Phật có gì khác?
Chúng ta tu thành Phật đâu cần gì nhiều, chỉ cần bao nhiêu đây thôi. Ngay thân thấy nó không thật thì nhiễm ô trần tục hết, đó là cái thấy của Phật. Rõ tâm vọng thức như huyễn hóa, rõ biết đó giống như Phật rõ rồi. Đơn giản như vậy. Biết thân vay mượn, biết tâm hư vọng, đó là cái thấy biết của Phật. Nếu rõ được thân tâm mình bản tánh là không thì cùng Phật không khác, tức đã giác ngộ.
Bài kệ của Phật Câu-na-hàm-mâu-ni nói:
Phật bất kiến thân tri thị Phật,
Nhược thật hữu tri biệt vô Phật.
Trí giả năng tri tội tánh không,
Thản nhiên bất cụ ư sanh tử.
Dịch:
Phật chẳng thấy thân, biết là Phật,
Nếu thật có biết, chẳng có Phật.
Người trí hay biết tội tánh không,
Thản nhiên chẳng sợ việc sanh tử.
Không thấy có thân thật, biết đó là Phật. Nếu còn chấp, có cái biết là thân mình, biết mình là Phật, thì không phải là Phật. Thấy mình chứng đạo, thành Phật, cái thấy đó thuộc về sở tri chướng. Vì vậy người trí biết tánh tội là không, tánh phước cũng là không. Chúng ta thường lầm, nghe nói tánh tội là không, lại tưởng tánh phước là có, vậy cũng là kẹt. Biết tánh của thân tâm là không, thì tánh của nghiệp thiện nghiệp ác cũng không, an nhiên hết sợ sanh tử.
Bài kệ của Phật Ca-diếp nói:
Nhất thiết chúng sanh tánh thanh tịnh,
Tùng bản vô sanh vô khả diệt.
Tức thử thân tâm thị huyễn sanh,
Huyễn hóa chi trung vô tội phước.
Dịch:
Hết thảy chúng sanh tánh thanh tịnh,
Từ xưa không sanh, không thể diệt.
Ngay thân tâm này là huyễn sanh,
Trong huyễn hóa không tội, không phước.
Tất cả chúng ta đều sẵn có Phật tánh thanh tịnh, từ xưa tới nay không sanh cũng không diệt. Thân tâm này đã là từ huyễn hóa sanh ra, cho nên nghiệp tội hay nghiệp phước cũng là huyễn hóa không thật.
Bài kệ đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
Huyễn hóa vô nhân diệc vô sanh,
Giai tức tự nhiên kiến như thị.
Chư pháp vô phi tự hóa sanh,
Huyễn hóa vô sanh vô sở úy.
Dịch:
Huyễn hóa không nhân cũng không sanh,
Đều là tự nhiên thấy như vậy.
Các pháp thảy đều tự hóa sanh,
Huyễn hóa không sanh, không chỗ sợ.
Bởi đã là huyễn hóa nên không có nhân nào thật, cũng không có cái sanh nào thật. Thấy rõ ràng như vậy, chứ không phải tìm cách để chia chẻ ra mà thấy. Các pháp đều do nhân duyên mà hóa sanh ra, không có cái gì là thật, không sanh không diệt cũng không có gì đáng sợ. iết là huyễn hóa thì còn gì nữa mà phải sợ.
Như vậy kệ của bảy đức Phật đều gồm chung một ý, chỉ cho thân tứ đại và vọng tâm của chúng ta hiện nay, đều huyễn hóa không thật. Cho đến nghiệp thiện, nghiệp ác cũng không thật, gốc từ bản thể chân tâm mà ra, nên nói vạn pháp quy tâm.
LỜI CHƯ TỔ
Bài kệ của Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma nói:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tâm hề xuất độ,
Bất dữ phàm thánh đồng triền,
Siêu nhiên danh chi viết tổ.
Dịch:
Chớ thấy ác mà sanh chán,
Chớ thấy thiện mà sanh ưa.
Chẳng bỏ trí mà gần ngu,
Chẳng bỏ mê mà đến ngộ.
Đạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô số.
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Siêu nhiên gọi đó là Tổ.
Nhị Tổ nói: “Tâm này là Phật, tâm này là pháp. Pháp và Phật không hai, Tăng bảo cũng vậy.” Tam Tổ nói:
Nhãn nhược bất thụy,
Chư mộng tự trừ,
Tâm nhược bất dị,
Vạn pháp nhất như.
Nhất như thể huyền,
Ngột nhĩ vong duyên,
Vạn pháp tề quán,
Quy phục tự nhiên.
Dịch:
Mắt nếu chẳng ngủ,
Các mộng tự trừ.
Tâm nếu không khác,
Muôn pháp nhất như.
Nhất như thể mầu,
Lặng lẽ quên duyên,
Muôn pháp đều quán,
Trở về tự nhiên.
Tứ Tổ nói với Ngưu Đầu Pháp Dung rằng: “Trăm ngàn cửa diệu đồng về gang tấc (tự tánh), hằng sa công đức gom ở nguồn tâm. Tất cả định môn, tuệ môn và hạnh môn đều đầy đủ, thần thông diệu dụng đều ở nơi tâm ông.”
Ngũ Tổ nói: “Muốn biết pháp yếu, tâm là căn bản của mười hai bộ kinh. Chỉ có pháp nhất thừa, pháp nhất thừa là nhất tâm vậy. Chỉ giữ nhất tâm tức là tâm chân như môn. Hết thảy các pháp chẳng ra ngoài tự tâm, chỉ tự tâm biết tâm không hình sắc. Chư tổ chỉ lấy tâm truyền tâm, bậc liễu đạt ấn khả, không pháp gì khác.”
Lục Tổ nói: “Hết thảy các ngươi tự tâm là Phật, chớ có hồ nghi. Ngoài tâm không có một pháp có thể dựng lập, đều là tự tâm sanh muôn thứ pháp. Kinh nói: “Tâm sanh muôn ngàn pháp sanh.” Pháp kia không hai, tâm kia cũng vậy. Đạo kia thanh tịnh, không có các tướng. Ông chớ quán tịnh và chớ rỗng không tâm kia. Tâm này không hai, không thể thủ xả. Đi đứng nằm ngồi đều một trực tâm, tức là Tịnh độ. Y lời nói ta nhất định ông sẽ được Bồ-đề.”
Trong lời của chư tổ, tôi chỉ giải thích một bài kệ của tổ Bồ-đề-đạt-ma, còn lại thì dễ hiểu nên không cần giải thích hết.
Chớ thấy ác mà sanh chán,
Chớ thấy thiện mà sanh ưa.
Chẳng bỏ trí mà gần ngu,
Chẳng bỏ mê mà đến ngộ.
Người tu không nên chấp một bên. Đừng chấp ngu chấp trí, đừng chấp mê cũng đừng chấp ngộ.
Đạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô số.
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Siêu nhiên gọi đó là Tổ.
Người được như vậy là đạt đạo lớn, là thông được tâm của Phật. Người ấy không đồng hành với phàm và thánh mà được gọi là Tổ. Tóm lại, Tổ là người dứt tất cả các chấp hai bên.
TUYỆT QUÁN LUẬN
(Đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung)
Hỏi: Thế nào là tâm?
Đáp: Chỗ quan sát của sáu căn đều là tâm.
Hỏi: Tâm chỗ nào?
Đáp: Tâm ngay chỗ diệt.
Phương pháp này, nói theo trong nguồn thiền là thu vào hay là loại ra. Cho nên khi hỏi, thế nào là tâm? Ngài nói chỗ quan sát của sáu căn đều là tâm. Tức là những thức phân biệt nhận xét đều gốc từ tâm mà ra. Muốn biết tâm ở chỗ nào, ngay chỗ vọng niệm lặng mà nhận, chứ không đâu xa.
Hỏi: Gì là thể?
Đáp: Tâm là thể.
Hỏi: Gì là tông?
Đáp: Tâm là tông.
Hỏi: Gì là gốc?
Đáp: Tâm là gốc.
Hỏi: Thế nào là định tuệ đồng hành?
Đáp: Tâm tánh lặng lẽ là định, thường hiểu rõ cái lặng lẽ ấy là tuệ.
Khi tâm lặng lẽ an nhiên, lúc đó vẫn có cái thấy biết mà không phải khởi nghĩ rằng tôi đang lặng lẽ. Nếu khởi nghĩ tôi đang lặng lẽ là bệnh, mà biết mình lặng lẽ thì là tuệ.
Hỏi: Gì là trí?
Đáp: Cảnh dấy lên mà hiểu rõ là trí.
Hỏi: Gì là cảnh?
Đáp: Tự thân tâm tánh là cảnh.
Đối cảnh mà biết rõ cảnh không thật, đó là trí. Ngay tự thân tâm tánh là cảnh.
Hỏi: Gì là thư?
Đáp: Dụng chiếu soi là thư.
Hỏi: Gì là quyện?
Đáp: Tâm lặng lẽ không đến đi là quyện. Trải ra thì đầy khắp pháp giới, cuốn lại thì dấu vết khó tìm.
Thư tức là trải ra. Dùng diệu dụng mà chiếu soi gọi là trải ra. Quyện là cuốn lại, nghĩa là thu vào một thể. Trải ra là khởi diệu dụng, thu vào là trở về thể. Khởi diệu dụng thì hằng chiếu soi, về thể thì lặng lẽ không có hình dáng.
Hỏi: Gì là pháp giới?
Đáp: Không bờ mé để chỉ bày được, gọi là pháp giới.
Nói pháp giới là chỉ cho cái không thể chỉ bày, không có bờ mé, để cho người ta biết chừng hạn của nó.
Thiền sư Trù nói: “Hết thảy duyên bên ngoài gọi là tướng định, sự phải quấy sanh diệt, tất cả đều do tự tâm. Nếu tự tâm mà vô tâm, ai ngại gì phải quấy? Năng sở đều không, tức các tướng đều lặng.”
Bài kệ của Bàng cư sĩ nói:
Muôn pháp từ tâm khởi,
Tâm sanh muôn pháp sanh.
Đời đời chẳng biết có,
Tới lui uổng công thôi.
Muôn pháp đều gốc từ tâm khởi, nên tâm sanh thì các pháp theo đó mà sanh. Khi đã biết các pháp đều từ tâm sanh không thật, thì trên sự tu hành nói dụng công thế này thế kia, chỉ là luống uổng thôi không có lợi. Bởi vì các pháp là huyễn mà còn chấp vào sự dụng công, tức là dụng công trong cái huyễn sao? Nên nói tới lui uổng công thôi.
Nhắn gửi người tu đạo,
Không sanh có chẳng sanh.
Nếu hay đạt lý này,
Chẳng động thoát hầm sâu.
Nhắn nhủ người ham tu, trong không sanh đó có cái chẳng sanh. Nghĩa là rõ các pháp tự tánh là không, thấy tất cả những vọng niệm là không, nhưng phải biết ở trong cái không ấy có cái chẳng không. Đạt được lý này rồi thì không cần tu hành, không cần dụng công mà đã ra khỏi hầm sâu.
Bài ca của hòa thượng Đằng Đằng:
Tu đạo, đạo không thể tu,
Hỏi pháp, pháp không thể hỏi.
Người mê không ngộ sắc không,
Kẻ đạt vốn không nghịch thuận.
Nói tu đạo nhưng sự thật đạo là thể thanh tịnh an nhiên, có gì đâu mà phải tu. Pháp là chỉ cho tâm, pháp đó đã sẵn nơi mình rồi thì có gì mà hỏi nữa. Người mê không ngộ được sắc tức là không, không tức là sắc; còn người đạt được rồi thì thấy không có gì là thuận, không có gì là nghịch cả.
Tám muôn bốn ngàn pháp môn,
Rốt lý chẳng hơn gang tấc.
Phiền não chính là Bồ-đề,
Hoa sạch sanh nơi bùn nhớp.
Chớ dối, chơi châu huyện khác.
Tám muôn bốn ngàn pháp môn, rốt lại gốc chỉ từ tâm mà ra. Phiền não hay Bồ-đề cũng đâu ngoài tâm, ngay phiền não tức là Bồ-đề, ngay ô nhiễm tức là thanh tịnh. Đừng đi tìm nơi này, đi kiếm nơi kia. Ngay đó mà nhận đi, tìm kiếm bên ngoài chi nữa!
Thiền sư Ngọa Luân nói: Thấu đáo được tâm tánh kia trạm nhiên rỗng suốt, xưa nay chẳng sanh cũng chẳng diệt, nào phải dồn ép. Chỉ biết tâm khởi vọng, tức là phải hướng nội phản chiếu lại nguồn tâm. Không có gốc rễ, tức là chỗ vô sanh. Vì vô sanh nên tâm tịch tĩnh vô tướng vô vi.
Bài tụng Tâm Cảnh của thiền sư Trí Đạt nói:
Cảnh lập, tâm liền có,
Tâm không, cảnh chẳng sanh.
Nếu đem tâm cột cảnh,
Tâm cảnh cả đều mù.
Khi thấy cảnh hiện ra, tâm liền duyên theo. Nếu tâm không chạy theo cảnh thì cảnh sẽ tự hết. Còn để tâm dính mắc nơi cảnh, tức là tâm và cảnh đều bị mù, không thấy đúng như thật nữa.
Cảnh tâm mỗi tự dừng,
Tâm cảnh tánh thường trong.
Ngộ cảnh tâm không khởi,
Mê tâm cảnh đồng hành.
Cảnh và tâm, mỗi cái tự không đến nhau, tánh nó thường trong lặng, tâm như cảnh như. Thấy cảnh biết cảnh là huyễn hóa thì tâm còn theo nó làm gì, nếu quên mình chấp cảnh là thật thì tâm sẽ chạy theo cảnh.
Nếu mê tâm tạo cảnh,
Tâm cảnh loạn tung hoành.
Ngộ cảnh tâm vốn tịnh,
Biết tâm cảnh vốn trong.
Do mình quên tâm nên thấy cảnh là thật, thấy thật thì tâm và cảnh duyên nhau, lăng xăng chạy tung hoành. Nếu ngộ được cảnh không thật, chỉ từ tâm mà ra thì cảnh tự nhiên thanh tịnh. Biết tâm chân thật không có vọng động, cảnh vốn từ tâm khởi, là huyễn thì có gì mà chấp.
Biết tâm không cảnh tánh,
Rõ cảnh tâm không hình.
Cảnh rỗng tâm lặng lẽ,
Tâm chiếu cảnh im lìm.
Biết tâm là không, rõ tánh của cảnh cũng không. Cảnh và tâm, cả hai đều không có hình tướng. Thấy được như vậy rồi thì lúc đó cảnh lặng lẽ mà tâm hằng chiếu soi.
Đại sư Phổ Ngạn nói: Đại đạo rộng lớn, chỉ một chân tâm. Thiện ác chớ nghĩ, thần trong vật hiện, lại có lo gì?”
Hòa thượng Quy Sơn nói: Các pháp trong ngoài đều chẳng thật, từ tâm hóa sanh, tất cả đều giả danh. Mặc tình pháp tánh châu lưu, chớ đoạn cũng chớ tiếp tục.
Hòa thượng Hoàng Bá nói: Chỉ ngộ nhất tâm, lại không một chút pháp có thể được. Đây tức là chân Phật. Phật cùng chúng sanh một tâm không khác. Chẳng bằng ngay nơi lời tự nhận giữ bản pháp. Pháp này tức là tâm, ngoài tâm không pháp. Tâm này tức là pháp, ngoài pháp không tâm.
Hòa thượng Ngưỡng Sơn nói: Đốn ngộ tự tâm không tướng, giống như hư không. Nương nơi căn mà phát minh, tức là bản tâm đủ hằng sa diệu dụng, không có chỗ gìn giữ riêng, không có chỗ an lập riêng, tức là quê nhà, tức là nước nhà.
Hòa thượng An Quốc nói: Kinh nói “nên không có chỗ trụ mà sanh tâm”.
Những bài kệ trên đây dễ, không có gì giải thích. Riêng bài kệ của hòa thượng An Quốc, tôi giải thích thêm cho rõ.
Hòa thượng An Quốc là đồ đệ của tổ Huệ Năng. Ngài dẫn trong kinh Kim Cang nói “nên không có chỗ trụ mà sanh tâm”, rồi giải thích.
“Không chỗ trụ” ấy là chẳng trụ sắc, chẳng trụ thinh, chẳng trụ mê, chẳng trụ ngộ, chẳng trụ thể, chẳng trụ dụng. “Mà sanh tâm” ấy, tức là tất cả chỗ mà hiển nhất tâm.
Không chỗ trụ tức là không trụ vào hai bên, sắc thinh, mê ngộ, thể dụng... Mà sanh tâm tức khi không trụ vào tất cả pháp, đó là nơi tất cả chỗ mà hiển bày nhất tâm rồi.
Nếu trụ vào thiện mà sanh tâm tức là điều thiện hiện, nếu trụ vào ác mà sanh tâm tức là điều ác hiện, vậy thì bản tâm liền ẩn mất. Nếu không chỗ trụ thì mười phương thế giới chỉ một tâm. Biết rõ gió phướn chẳng động, tâm ấy động.
Bản tâm là chỉ cho chân tâm. Nếu dính mắc theo nghiệp thì làm sao thấy được chân tâm, tức là chân tâm bị ẩn mất. Cho nên đối với tất cả pháp mà tâm không dính mắc thì lúc đó mười phương thế giới chỉ một tâm. Chúng ta mới tin câu Lục Tổ nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà tâm ông động.”
Hòa thượng Quy Tông nói: Ngay tâm này là Phật, tột cùng chỉ có tánh. Sơn hà đại địa một pháp ấn định, là thần chú lớn chân thật không dối, là bản nguyên của chư Phật, là cội gốc và là xương tủy của Bồ-đề. Phật là gì? Là ngay lời nói này, lại không người khác. Kinh nói: “Ví như một hình sắc tùy theo cái nhìn của chúng sanh mà có muôn ngàn tên. Tất cả pháp chỉ là một pháp, tùy chỗ mà mang tên.”
Bài kệ trong luận Bảo Tánh nói:
Như hư không biến khắp cả,
Mà hư không chẳng phân biệt.
Tự tâm và vô cấu tâm,
Cũng không phân biệt cùng khắp.
Tâm tới chỗ vô phân biệt thì sẽ trùm khắp, chẳng khác nào hư không. Hư không vô phân biệt nên hư không trùm khắp, tâm vô phân biệt cho nên tâm cũng trùm khắp.
CHƯƠNG X
KHUYÊN IN BỐ THÍ
Sự phu diễn chánh pháp công đức vượt hơn hằng sa. Lưu truyền chí lý, phúc lợi hơn hư không lớn. Hằng sa vô số, hư không lớn vô ngần. Việc lợi sanh thí pháp công đức vượt hơn hai thí dụ này. Cớ sao công đức vô lượng như vậy? Một là làm cho người chưa tin trở thành chánh tín, nhiếp về một niệm chẳng giong ruổi tìm cầu bên ngoài. Hai là khiến người đã tin giúp thành quán lực, lý và hạnh kiên cố, mau chứng Bồ-đề, giống như đi xe rộng lớn. Dựng lập tự viện, như đi thuyền chắc chắn đến bờ giác.
Kinh Lăng-nghiêm nói “Phật bảo: A-nan! Nếu lại có người mang bảy báu chứa đầy cả mười phương hư không, đem dâng cho chư Phật như vi trần và thừa sự cúng dường mà tâm không chút sơ sót. Ý ông nghĩ sao? Người này dùng nhân duyên bố thí cho chư Phật như vậy, được phước nhiều chăng?
A-nan đáp: Hư không vô tận, trân bảo vô ngằn. Xưa có chúng sanh thí Phật bảy quan tiền, khi xả thân còn được làm vị Chuyển luân vương. Huống lại hiện tại, hư không vô cùng. Phật độ đầy khắp mà đều thí trân bảo, thì cùng kiếp nghĩ bàn cũng không hết được phước của người này, rằng sao lại có bờ mé?
Phật bảo: A-nan! Chư Phật Như Lai nói không hư dối. Nếu lại có người thân tạo đủ bốn trọng tội và mười Ba-la-di tội, chỉ trong chớp mắt liền trải qua địa ngục A-tỳ ở phương này hay phương khác, cho đến địa ngục vô gián khắp mười phương đều trải qua. Nếu người này chỉ khởi một niệm rằng “đem pháp môn này khai thị cho chúng sanh ở mạt kiếp” thì tội chướng người này liền theo niệm ấy mà tiêu diệt. Biến địa ngục khổ mà họ đã thọ thành nước an lạc, được phước còn hơn người bố thí bảy báu trước gấp trăm ngàn muôn ức, như vậy cho đến tính đếm thí dụ không thể kịp. Tán thán và hoằng dương kinh này lợi ích không ngằn.
Kinh Kim Quang Minh nói: Thí pháp cho người có năm điều lợi ích thù thắng. Những gì là năm? Một là pháp thí gồm lợi, tài thí không bằng. Hai là pháp thí hay làm cho chúng sanh ra khỏi ba cõi, còn phước của tài thí chẳng ra khỏi Dục giới. Ba là pháp thí hay tịnh pháp thân, còn tài thí chỉ tăng trưởng nơi Sắc. Bốn là pháp thí vô tận, còn tài thí có chừng. Năm là pháp thí hay đoạn được vô minh, còn tài thí chỉ đè được tham ái. Cho nên, này thiện nam tử! Công đức vô lượng vô biên khó thể thí dụ.
Lại kinh Kim Cang nói: Bố thí bảy báu đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới, chẳng bằng thọ trì bốn câu kệ và vì người khác giảng nói thì phước của người ấy còn hơn sự bố thí bảy báu kia.
Như có người thiện nam tín nữ nào, phát tâm khắc bản in bố thí truyền bá, khiến pháp giới chúng sanh đốn ngộ tối thượng thừa, đều đến cõi Phật, đồng chứng Bồ-đề thì công đức vô biên, khó nói hết.
Vạn pháp quy tâm lục,
Nói thẳng chẳng giấu giếm.
Hay mở mắt thanh tịnh,
Khéo chỉ tâm Niết-bàn.
Ba đạo từ đây vào,
Trăm nhọc chớ tìm ngoài.
Có người in trăm bản,
Hơn thí một thuyền vàng.
Đến đây là hết phần Vạn Pháp Quy Tâm Lục, phần cuối là phụ lục và lời bạt. Tôi chỉ nói phần phụ lục, còn lời bạt thì thông qua.