CHƯƠNG I
CẢNH TỈNH KẺ TỤC MÊ
Người thế tục hỏi: Tôi muốn thường ăn chay, có công đức chăng?
Thiền sư đáp: Các loài có vảy có mai, có lông mao lông vũ, thể chất nó tuy khác với người, nhưng sự hiểu biết và sự đau khổ đâu khác chi người. Bởi đời trước nghĩ sai, nên đời này hình hài có khác. Nếu như một lòng tín thành dứt ăn thịt giữ giới sát, thật là bậc đại đức quân tử. Có thể bảo là người nhân từ, người thiện. Nếu quả ông ăn chay giữ giới suốt đời không sờn lòng, chẳng những thêm nhiều phúc và thọ, mà còn gieo được chánh nhân giải thoát giác ngộ. Khá thương cho người đời không trí tuệ, tham đắm vị ngon mặc tình dồn chứa, ra tay sát hại, tạo tác muôn ngàn. Chỉ ngon qua ba tấc lưỡi, một ngày kia thay đầu đổi mặt, lần lượt nuốt ăn, lúc ấy đau khổ hối hận không người giúp cho.
Thay đầu đổi mặt, tức là khi nhắm mắt rồi thì người trở lại làm thú, thú trở lại làm người. Trước mình ăn nó, sau nó ăn lại mình, ăn nuốt lẫn nhau mãi mãi không dứt.
Đây đặt ra từng câu hỏi để trả lời về việc ăn chay, những điều này rất dễ hiểu nên tôi chỉ giải thích sơ qua.
Hỏi: Người đời đều cho heo dê gà ngỗng, các loài có vảy có mai, có lông mao lông vũ v.v... trời sanh ra các loài này để làm thức ăn cho người. Nếu không giết để ăn, dùng chúng làm việc gì?
Đáp: Người đời ăn thịt là đương nhiên. Buông lung tâm ý mổ giết, để thích khẩu khoái bụng. Đâu chẳng biết, tất cả chúng sanh dưới nước, trong đất, trên không, trên bộ, chẳng qua là do nghiệp lực quả báo mà có thân xác khác nhau. Người đời tuy nhờ phước nhất thời, mà khinh thường sát hại quá nhiều. Tha lực yếu kém làm sao chống chọi nổi hận oán kia, có ngày sẽ báo đền oan trái. Quả thật nếu heo dê v.v... trời sanh ra làm thức ăn cho người, thì ở thế gian những loài sài lang, hổ báo, muỗi mòng, chí rận v.v... Vô hạn ác thú hung cầm đều hay ăn người, đâu không phải trời sanh! Giả sử người nam kẻ nữ đều làm thức ăn cho loài vật, có nên không? Người đời không rõ tạo nghiệp sẽ thường mạng lẫn nhau, không biết cớ sao lại cho việc sát sanh là việc đáng nên làm. Thật quá ngu muội.
Hỏi các loài có lông có vảy v.v... trời sanh cho mình ăn, tại sao mình không ăn? Vậy nó sanh ra để làm gì?
Ngài đáp, bây giờ mình mạnh nó yếu, nên cứ bắt giết mổ nó mà ăn, rồi cho rằng trời sanh loài vật cho người ăn. Giả sử mình vô rừng, bị cọp sói vồ ăn, lúc đó nói trời sanh người cho nó ăn, mình có chịu không? Đến như muỗi mòng chí rận cắn chích, có nói rằng mình sanh ra cho nó cắn chích hay không? Nếu người thật là thức ăn của loài vật thì để cho nó ăn, tại sao lại đập nó? Như vậy cái lý của người thế gian nói là không đúng, đó chỉ là mạnh hiếp yếu mà thôi.
Người đời không rõ tạo nghiệp sẽ thường mạng lẫn nhau, không biết cớ sao lại cho việc sát sanh là việc đáng nên làm. Thật quá ngu muội. Việc không nên làm mà chúng ta cho đó là việc đáng làm, quả là dốt nát!
Hỏi: Tôi thường nghe người đời có nói, người nhiều lòng tốt cũng như ăn chay rồi, lý này thế nào?
Đáp: Bậc nhân đức quân tử, người hiền có lòng nhân từ, làm lợi ích cho người, cứu tế loài vật, nhóm công chứa đức. Cho đến những chỗ động dụng, hay chỗ làm việc, thấy sanh linh rơi vào chỗ chết, lúc ấy đâu không khởi lòng trắc ẩn cứu cho được sống. Có lòng từ bi như thế mới bảo là người tốt. Vô cớ giết nó cho vào miệng ta, hoặc cầm dao bén mổ bụng, hoặc nắm dao nhỏ đâm vào tim, lóc da đánh vảy, cắt cổ bổ vỏ, hoặc nấu hoặc kho, hoặc bỏ vào nồi hầm hay vào lò nướng. Trăm cách tạo tác, làm cho ngon miệng khoái bụng, lòng thương xót hoàn toàn không, như vậy lòng tốt ở chỗ nào? Lại nói lời mê như thế, tội lỗi kia làm sao có thể sám hối?
Có người cho rằng, tôi ăn ở tốt lành ngay thẳng là đủ rồi, cần gì phải ăn chay? Lý luận này chúng ta cũng thường nghe, hoặc như quan niệm “ăn mặn nói ngay, ăn chay nói dối” vậy.
Ngài nói, nếu thật là người tốt thì thấy chúng sanh khổ phải thương, sao lại nỡ cầm dao bén cắt cổ mổ bụng, kho nấu ăn cho ngon miệng, như vậy mà nói rằng mình là người tốt. Ai chứng minh cho lời nói này? Người tốt không làm những việc đó. Nếu làm thì lòng tốt ở chỗ nào, mà lại nói lời mê như thế?
Tôi nay nói rõ ông hãy lắng nghe, quả như ông một đời giữ giới sát, ăn chay suốt đời chẳng chán, dù tâm ông chẳng tốt phải đọa vào loài khác, nhưng cũng không rơi vào tay người giết, hoặc trong vạc sôi lò lửa.
Giả sử còn tham, còn xấu mà biết ăn chay thì về sau dù có tội đọa, cũng không bị rơi vào tay người giết, hoặc bỏ vô nồi nấu, lò nướng. Như vậy ăn chay dù có bị tội đọa cũng còn sướng hơn là ăn thịt chúng sanh, phải chịu những thứ khổ sở.
Hỏi: Tôi tuy nghèo mà trong sạch, chẳng bao giờ trộm cắp. Vậy thế nào?
Đáp: Không riêng gì lấy tài vật mới gọi trộm cắp, mà tham ô kẻ lương thiện, dùng tà thuật lừa đảo, xúi người kiện tụng, rủ rê dụ dỗ người cờ bạc, hại người tù tội, làm cho người nghiêng ngửa, hại người nơi hiểm nguy, làm cho hao tài tốn của, tráo đổi vật tốt của người, thiếu nợ chẳng trả, xâm lấn người ngu, chiếm đoạt kẻ yếu. Tất cả việc bất lương đều là trộm cướp cả.
Nếu là người có trí tuệ, thấy người giàu sang nên khởi lòng kính mến mà hận mình đời trước không tu phước, đời này nghèo khổ phải cam chịu. Lại phát khởi tín tâm, tu phước lành chứa công đức, những việc ác chớ làm, nên làm các việc lành. Tự nhiên không cô phụ người chứa nhóm công đức lành vậy.
Chỗ này cũng có nhiều người hay nói, tôi nghèo mà trong sạch không bao giờ trộm cắp, vậy là được rồi. Nhưng ở đây ngài chưa bằng lòng. Tuy mình không trộm cắp nhưng có xảo trá, đổi chác gian lận, hoặc thiếu nợ không trả v.v... thì cũng là bất lương.
Người có trí tuệ thì không như vậy. Mình nghèo mà thấy người khác giàu thì nên khởi lòng kính mến chứ không ganh tỵ. Phải biết rằng, người đó có phước đức hơn mình, bởi mình trước không tu phước, cho nên thiếu phước phải chịu nghèo khổ, bây giờ phải ráng lo làm lành chứa đầy công đức mới được. Đừng nghĩ tuy mình nghèo mà trong sạch là hơn, rồi khinh khi thiên hạ, thấy ai giàu sang mình chê bai phỉ báng, như vậy chưa phải là người tốt.
Hỏi: Giữ tài sản một cách công bằng, nhưng chẳng bỏ hẳn lòng tham tích chứa, tùy sức mình mà kinh doanh. Vậy như thế nào?
Đáp: Giữ tài sản một cách công bằng thì nên. Tuy nhiên, vật báu trên đời chứa lâu thành họa. Nếu vật báu có đến chớ nên chứa, nếu chứa chớ chứa lâu. Còn như tham cầu không chán, nhận ngang không thẹn, tuy một lúc được giàu có, nhưng chẳng khỏi tối lo sáng tính.
Hỏi, tôi ngay thẳng tài sản có bao nhiêu thì giữ bấy nhiêu được không? Ngài không đồng ý, tại sao? Vì của cải giữ lâu sanh họa. Nếu có thì nên làm việc phước đức lợi ích chung, chứ đừng giữ hoài. Như những pho tượng quý, giữ riết thành ma. Cũng vậy, giữ của lâu thành họa, thế nào nó cũng mất, chừng đó rồi khổ.
Kinh Phật nói: “Tài sản hiện tại của người đời là của chung của năm nhà. Năm nhà là: Nhà vua quan, nhà nước lửa, nhà trộm cướp, nhà giặc giã, con cháu tiêu phá. Người đời dại dột, đắng cay suốt cả một đời, tạo cho nhiều tiền của, mong được vĩnh viễn giàu có. Đâu biết đấy là phần của năm nhà, một ngày kia sẽ tan nát. Như vậy giữ của một cách công bằng, mà còn chẳng lâu thay. Huống là giật ngang hay lừa đảo, mà có thể thường còn ư?”
Kinh Phật nói, tài sản hiện tại là của chung của năm nhà, không vào nhà này thì cũng vào nhà khác. Như trong nhà có nhiều của quá, lâu dần con cháu hoặc người khác cũng sanh chứng muốn lấy. Vì vậy có của chỉ nên chừa đủ ăn, còn lại nên sử dụng vào những việc lợi ích khác. Của cho thì còn mà của ăn thì hết. Nhiều người hay lo, sợ cho rồi hết. Thật sự cho ra là không bao giờ hết, nếu hết cái này thì cũng có cái khác. Tôi chưa thấy có người nào làm lành mà bị khổ suốt kiếp, nếu có khổ thì cũng chỉ trong giai đoạn nào đó. Giả sử có chịu khổ suốt kiếp, âu cũng là do nghiệp đời trước quá nặng nề, nên nay mới như thế. Của cải hiện tại thuộc về năm nhà mà mình cố giữ, chắc rằng không thể vĩnh viễn được, một ngày nào đó cũng sẽ tan nát.
Tài sản giữ một cách công bằng mà còn không được lâu thay, huống nữa là lừa đảo mà có thể giữ lâu. Đây là lời để cảnh tỉnh, vì người đời thường hay có những cái chấp như vậy.
Hỏi: Tôi thường ít ham muốn về sắc dục, chỉ có một vợ, việc tà dâm tôi đoạn hẳn không phạm. Vậy thế nào?
Đáp: Hai chữ sắc dục là căn bản của việc sanh tử. Trong các điều ác, việc tà dâm tư tình gian dối là bậc nhất. Từ xưa tới nay nó là việc mất đạo tan đức, lại chuốc họa vào thân, không thể kể cho hết. Ngay nơi việc thích rượu chè, ham tiền của còn có thể chế. Chỉ có một cửa ải sắc dục còn khốc liệt hơn gấp bội. Bởi chúng sanh gốc từ dâm dục, mà tánh mệnh phải tiếp nối sanh tử. Tập quán từ trước quá thuần thục, nếu không dùng trí tuệ quán chiếu thì dục nghiệp làm sao rõ? Kẻ tại gia khó đoạn hẳn sắc dục, nhưng cần yếu là phải giữ cho chân chánh. Chẳng phải vợ nhà, nhất định không thể làm hạnh tà. Có một bọn tục tử, thấy vợ con người dáng dễ coi, liền khởi tà tâm nghĩ mộ tham cầu. Như vậy thì lý trời đã mê, lòng người đã mất.
Kinh Phật nói: “Gian dâm vợ người bị quả báo tuyệt tự, gian dâm con gái người bị quả báo con cháu dâm dật, phóng túng.” Ông có thể đại khái, nhìn những nhà người hiếu dâm hạnh xấu. Bởi tiếp nối dòng tệ hại, nên lần lần tiếng nhơ lan đến mọi người.
Cổ nhân nói: “Ta chẳng dâm vợ người, người chẳng dâm vợ ta.” Lại có một hạng chúng sanh mang nghiệp si, thấy người đàn bà khác vốn không phải vợ mình, cho người ấy đẹp rồi bày điều gian dâm lừa đảo, trở lại bỏ bê vợ nhà chẳng đoái. Hoặc thích gần gũi bỡn cợt trẻ ngoan. Hoặc tư thông với vợ người làm công, khiến kẻ dưới lừa đảo người trên... muôn ngàn dâm nghiệp kể ra không xiết.
Lại có kẻ đọc sách tài tử, cũng cho họ là người thông minh. Sách ấy miêu tả chuyện tư tình của phụ nữ nơi khuê môn, biên vào ca dao, làm thành sách vở, làm mê hoặc người thật thà, dẫn họ vào tà niệm. Tội ác của kẻ ấy thật như núi cao, không thế nào cầu đạo mà hết được. Nếu là người có trí tuệ, phải nên tự hổ thẹn và tự ăn năn, mà đoạn tuyệt ngay nết tà dâm, thì cõi người cõi trời, đâu đó có phần. Kẻ ngu này đắng miệng mà khuyên các ông: “Chỉ nhân nghiệp dâm mà tội ác tạo ra nhiều lắm!”
Hỏi: Dâm dục tội ác như vậy, khẩu nghiệp như thế nào?
Đáp: Trong mười nghiệp ác, chỉ có miệng là đã chiếm hết bốn rồi. Nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác là giết người không máu, kẻ ấy còn hơn người làm ác nhiều. Làm bại hoại việc lành của người, nói chỗ yếu của người, bàn việc quấy của người, luận việc lỗi của người, lừa đảo tiền của của người, cho đến việc bại hoại đạo đức, chôn vùi người mà cũng chôn vùi mình, đều do không ngăn được cái bệnh lắm mồm của mình. Cho nên tự chuốc họa rất nhiều.
Kinh nói: “Phật bảo ngài A-nan rằng, người đời tai họa từ nơi miệng mà lưu xuất, phải nên giữ gìn cái miệng còn hơn giữ lửa. Lửa dữ thiêu đốt tài sản ở thế gian, lửa ác khẩu thiêu đốt tài sản bảy báu của mình.” Tất cả chúng sanh, tai họa từ nơi miệng mà ra, nó là chiếc búa chém mình, là cái họa tai tiêu diệt mình. Nay có người muốn nuôi dưỡng đức hạnh, phải ẩn ác dương thiện, phát ngôn nên nói lời chân thật, đàm luận không nên nói bậy. có hỏi có đáp, lời nói giản dị, khí sắc ôn hòa, thì chư Phật, chư thiên gia hộ và cũng được người thương yêu kính trọng.
Hỏi: Tánh tôi thích uống rượu, như vậy thế nào?
Đáp: Tâm tánh mê mờ chí khí bị chôn vùi, nhà cửa tan nát lại còn mất mạng, phần nhiều là do uống rượu mà ra và chuốc họa tai không ít. Người đời mê rượu không chán, cho đến hình hài bị hủy thương, điên đảo cả lễ pháp, nằm lăn nơi phố chợ la ó om sòm, phạm lỗi người trên mất hết danh dự, loạn dâm mất đức, muôn ngàn việc lỗi lầm nghịch ngợm là do tham uống rượu.
Người xưa nói: “Ngăn ông chớ uống rượu, nó là thuốc làm điên loạn, chứ chẳng phải vị ngon. Nó hay khiến người tánh tình thuần hậu thành kẻ hung dữ dối láo.” Trong Luật Tứ Phần nói: “Uống rượu có ba mươi sáu lỗi. Chẳng những người đời uống rượu phạm lỗi, cho đến La-hán tham uống rượu cũng mất hết thần thông.” Chúng sanh mê muội, kẻ phàm phu sơ học, phải giữ gìn và kiêng cữ uống rượu.
Hỏi: Xin nói ba mươi sáu lỗi gồm những gì?
Đáp: Uống rượu có ba mươi sáu lỗi là: Bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn thầy dạy, chẳng kính trọng Tam bảo, bài báng hàng Sa-môn, bươi móc tội người, thường nói lời vọng, vu người làm ác, đem lời đâm thọc hai đầu, nói lời hung ác hại người, là gốc của bệnh hoạn, là rễ của đấu tranh, tiếng ác đồn khắp, người hiền đều chán, bài xích thánh hiền, khinh lờn trời đất, hư mất sự nghiệp, phá nát gia tài, thường không biết hổ thẹn, chẳng biết sỉ nhục, vô cớ đánh người ở, giết hại chúng sanh, gian dâm vợ người, trộm tài vật của người, lơ là với người hiền, gần gũi bạn ác, thường ôm lòng sân hận, ngày đêm lo rầu, lấy đông đưa tây, giữ nam mắc bắc, nằm đường té rãnh, rơi xe té ngựa, gặp sông rơi xuống nước, cầm đèn bị cháy, tháng nắng nóng chết, ngày lạnh rét chết. Người uống rượu có những lỗi như vậy. Người quân tử nuôi đức phải tự răn mình đừng uống rượu.
Hỏi: Tôi có chỗ tốt là khi bị người làm nhục mà không giận dữ, nếu có chút phiền nhưng khi biết rồi cũng hết. Vậy thế nào?
Đáp: Giận dữ là gốc của muôn điều chướng ngại, nhẫn nhục là đứng đầu của trăm phước. Người đời nói nhẫn, nhưng mà chữ nhẫn rất khó, không phải là người trí tuệ quyết không thể nhẫn được. Trừ ngoài Phật tổ được như như chẳng động. Kẻ hào kiệt, người sơ học phần nhiều do không nhẫn được mà bị thất bại và bị hãm vào chỗ bất như ý. Kinh Phật nói: “Nhẫn nhục là bậc nhất.” Tục ngữ có câu: “Ăn được ba đấu tương chua, giấm đặc; mới làm được tể tướng.” Kẻ phàm phu ở đời còn như vậy, huống là người học đạo không rộng lòng nhẫn nhục ư?
Hỏi: Người đời nhiều lòng tham, gom góp tài sản cho thật nhiều, tự bảo là để lại cho con cháu sau này được giàu có. Được hay chăng?
Đáp: Kẻ ngu si ở thế gian ỷ cậy quyền thế, mê tâm chôn đức, có trăm cách khéo léo để lấy. Dù được giàu có bất ngờ, nhưng có bao giờ được lâu dài. Nếu là người trí tuệ nên phải chứa công nuôi đức, tùy khả năng mình mà kinh doanh, theo đúng mệnh trời, tự nhiên chư thánh phò hộ, âm thầm tăng trưởng phước lộc. Người đời chỉ biết vì con cháu lo làm giàu, chứ chẳng biết vì con cháu làm lành tạo phúc. Thế nào gọi là phúc? Kính trọng Tam bảo, chứa nhóm âm đức, cẩn trọng quy tắc của gia đình, dạy người cố gắng làm việc và học hành, đấy là tạo phúc.
Thế nào là cầu làm giàu? Không thành tín, mê mờ thiên lý, dùng tâm máy móc, gom góp tiền của không hợp lý, đấy là cầu giàu có. Kẻ cầu giàu chẳng thạnh, người tạo phúc sẽ hiển vinh. Há chẳng thấy kẻ giàu to ở đời, con cháu hư hèn, cờ bạc phóng túng, một ngày kia sẽ phá cửa nhà, cho đến mất thân mạng. Chuyện này thường có xảy ra, sao không lấy đó làm gương? Tục ngữ nói: “Được của không chánh đáng, bỏ được là tốt.” Người trí xem việc này chưa khỏi lạnh lòng.
Hỏi: Như đã mở bày, muốn làm người tốt phải xem tất cả như không và thường thường kiểm điểm. Phải vậy chăng?
Đáp: Muốn làm người tốt phải tự soi xét. Suốt một ngày từ sáng đến chiều, phải soi tâm mình và tự xét lý kia. Khi khởi tâm động niệm có cùng tâm trời hợp không? Hành động hằng ngày có cùng với người hợp không? Hằng thường tỉnh táo, không rơi vào tư riêng, lâu ngày tâm được chánh, nhân dục tự nhiên hết.
Nếu là người buông lung tâm ý, chẳng sợ trời phạt, chẳng sợ báo ứng, phi lễ mà hành động mà tạo tác, lâu ngày chầy tháng tích chứa nghiệp ác quá nặng, một mai phúc hết các nghiệp đến bên thân, hiện đời gặp tai họa khi chết đọa ba đường ác. Kinh Phật nói: “Nghiệp đã tạo, giả sử trải qua trăm ngàn kiếp cũng không mất, khi nhân duyên hội ngộ mình phải trở lại chịu quả báo.” Thế nên biết, nhân quả chẳng sai, người đời sau hãy tin là chắc thật.
Hỏi: Việc nhân quả có nhiều người không tin. Vậy như thế nào?
Đáp: Việc nhân quả báo ứng chẳng sai chẳng lầm, giống như bóng theo hình, một mảy may không lộn lạo. Các bậc tiên thánh đã nói việc này rất rành rõ, người sau ngu mê chẳng tin, phải nên tế nhị mà xét. Người đời có kẻ giàu sang, người bần tiện. Có kẻ chết yểu, người trường thọ. Có kẻ được vinh dự sủng ái, có người gian nan nhục nhã. Có người khốn khổ, kẻ an nhàn. Có người trẻ mà được đăng khoa, có người suốt đời thi chẳng đậu. Có người rất giàu có mà không con, kẻ nghèo xơ xác mà nhiều người kế hậu. Có người ấu niên, trung niên, lão niên khổ vui chẳng đồng. Có người nghèo hay giàu sang suốt một đời, còn muôn ngàn việc sai khác nhau chẳng nhất định. Ấy tất cả đều do nghiệp cảm nên.
Người xưa nói: “Mùa xuân gieo một hạt thóc, mùa thu được muôn vạn hạt. Người đời làm thiện ác, quả báo cũng như vậy”. (Xuân chủng nhất lạp túc, thu thâu vạn khỏa tử, nhân sanh vi thiện ác, quả báo hoàn như thử). Thế nên biết, sự vui buồn trong ba cõi, sự thăng trầm trong sáu nẻo, đều do tự mình tạo và tự mình chịu lấy, không phải từ bên ngoài đem đến cho mình.
Hỏi: Tôi thấy người trung chánh lương thiện lại nghèo không một gánh lúa, lại có bọn điêu ngoa hung ác mà ruộng đất cò bay thẳng cánh. Như vậy nhân quả há chẳng lầm ư?
Đáp: Tạo thiện ác chẳng đồng nhau, nên quả báo cũng chẳng nhất định. Có lúc báo ngay nơi thân mình, có khi báo nơi thân con cháu. Có khi báo đời này, có lúc báo đời sau. Như có người ăn cơm hẩm, kẻ ăn cao lương. Người mặc áo gấm, kẻ áo lông. Lại có kẻ lầu son gác tía, lên xe xuống ngựa. Tất cả đều do đời trước tự làm điều thiện hay điều ác, mà nay chịu quả báo khổ hay vui, một mảy may chẳng sai chạy. Chỉ thấy kẻ hung ác mà được giàu sang, đâu biết được người ấy đời trước đã tu phước? Hoặc thấy người rất từ thiện mà nghèo khó lại mạng yểu, ấy là do đời quá khứ tạo nghiệp ác mà ra.
Trang Tử nói: “Tên đạo chích theo đoàn quân chín ngàn người, hoành hành thiên hạ, xâm bạo các nước chư hầu, mà tên ấy vẫn trường thọ.” Trong Luận Ngữ sớ nói: “Hạng Thác bảy tuổi, làm thầy đức Khổng Tử, mà chết yểu.” Cho nên có người trong sạch chân chánh mà thân bần cùng, hoặc có người tham ô mà giàu có. Chớ chấp hiện đời này có sai khác, mà bài báng nhân đời trước thì sai lầm vậy.
Hỏi: Sự báo ứng của thiện ác, lý kia không sai. Có một bọn ngu si chẳng tin nhân quả, trở lại nói: “Lương tâm chẳng thể làm ra gạo. Nếu lương tâm hay vào nồi thành cơm thì cũng có thể nên làm.”
Đáp: Khá tức cười, thật là quá ngu si điên đảo. Ông nếu lương tâm từ sáng đến tối không dối thì phù hợp với lòng trời, lúc ấy thần cũng vui vẻ, người cũng hân hoan. Niềm hòa khí được cảm triệu thì tự nhiên tươi vui. Kinh thi nói: “Niềm vui chỉ đến với người quân tử và phước lộc sẽ đến với họ.” Nếu do chôn vùi đức hạnh mà được tiền của, bỏ tấm lòng mà được giàu có, thì mới trở lại bài báng lương tâm vô dụng, không thể vào nồi thành cơm. Đâu biết hạng người này đã mê mờ lý trời, trong bóng tối thần giận quỷ hờn, giảm phúc tổn thọ, nghèo thiếu nạn tai, cho đến con cháu hư hèn, việc lạ đâu chẳng có.
Sách Văn Xương nói: “Người tu thân sửa hạnh, trời nhất định giáng cho trăm điều lành. Trái lại kẻ phản đạo bại đức, thần cũng đoạt năm phước.” Thế nên phước thiện hay họa tai, lý nó tất nhiên nhất định như vậy. Nếu chịu cải ác làm lành chẳng khinh lờn, tự nhiên Phật trời ngầm phò hộ, phước thọ được tăng trưởng.
Tôi giải thích sơ qua đoạn cuối. Hiện nay nhiều người cũng hay nói, lương tâm không thể để vô nồi nấu thành cơm được, miễn làm sao có tiền chứ theo lương tâm riết rồi chết đói. Hôm trước có cư sĩ đến than phiền với tôi, ông làm việc trong thuế quan, bạn bè ông có nhà lầu xe hơi, còn ông vì ngay thẳng cho nên đi chiếc xe gắn máy lẹt đẹt, ăn cơm với rau muống. Bà vợ rằn ri: “Lương tâm lương tư gì, người ta giàu có, còn ông thì cứ như vậy. Mai mốt con đi học không có tiền mà đóng.” Mỗi khi chở bà đi đâu mà chiếc xe giở chứng, bà lại cằn nhằn: “Đó! Ông làm cái gì cũng nói lương tâm đi, cho ông chạy chiếc xe này có ngày té lỗ đầu mà chết.”
Chính vì cho rằng, lương tâm không thể nấu thành cơm được, rồi họ muốn làm gì thì làm, không kể đến nhân quả. Cho nên ngài nói, thật là quá ngu si điên đảo.
Người đời chỉ biết hiện tại mà không nghĩ quá khứ, không xét vị lai. Chính ngay hiện tại, nếu người thật tình có lương tâm tốt thì phước lộc cũng sẽ có. Chúng ta xét kỹ sẽ thấy, vào thời chiến tranh những người giàu có mà bạo ác thì qua một thời xem như điêu tàn; còn nhiều người tuy không giàu mà có lương tâm, sống lương thiện thì họ còn bền bỉ. Vì vậy đừng tưởng rằng, lương tâm không bỏ vô nồi nấu thành cơm được, mà sự thật chính lương tâm đó làm cho mình có gạo ăn lâu dài; còn thất đức thì tuy có nhiều, nhưng đến lúc cũng sẽ trở thành tay không.
Ở đây ngài Tổ Nguyên nói cho người thế tục nghe, nên ngài dùng những chữ “phù hợp với lòng trời” v.v... để cho người ta dễ hiểu, chứ không phải ngài tin trời ban phước. Như nói, niềm hòa khí được cảm triệu thì tự nhiên tươi vui. Tươi vui tất nhiên được mọi người xung quanh kính mến. Ngài dẫn thêm, sách Văn Xương nói: Người tu thân sửa hạnh, trời nhất định giáng cho trăm điều lành. Trái lại kẻ phản đạo bại đức, thần cũng đoạt năm phước. Năm phước là: Giàu có, sang trọng, sống lâu, vui vẻ và bình an.
Tóm lại, lương tâm là cái cần thiết, không thể nói lương tâm không thành cơm rồi bỏ lương tâm, đó là điều rất nguy hiểm!
Hỏi: Người có lỗi biết ăn năn có thể được chăng?
Đáp: Đã là người ai chẳng lỗi lầm, biết lỗi lầm ăn năn chừa cải thì điều lành nào chẳng lớn? Sự lỗi lầm ác hại chẳng phải có một. Nên nơi thân miệng ý phải luôn luôn tỉnh táo, nhất định giờ phút nào cũng phải soi xét, xem hành động mình có thích đáng hay không. Nếu là thiện nên làm, còn ác thì mau cải đổi. Sự đổi ác theo thiện như con bệnh ra mồ hôi, tự nhiên sẽ được may mắn vui vẻ, chư thánh sẽ phò hộ cho.
Hỏi: Giả sử chiếu xét chẳng đến, một lúc sanh tâm động niệm, chưa biết phải hàng phục tâm ấy như thế nào?
Đáp: Người xưa trị tâm rất khít khao, cho nên gặt hái được nhiều kết quả to lớn. Tất cả những tâm thiện ác của con người đều do niệm.
Ngài Tổ Nguyên thuộc tông Lâm Tế, cho nên về phương tiện tu ngài chú trọng phần tu thoại đầu. Vì vậy, ở đoạn cuối của chương Cảnh Tỉnh Tục Mê này, ngài đặt ra sự tu hành để cho người thế tục biết mà tu và khuyên họ trở về cái chân thường, cho nên câu hỏi được đặt ra là đối trong Phật pháp mà hỏi.
Chúng ta kiểm lại coi, có khi nào mình nghĩ ác hay làm thiện, mà chẳng phát xuất từ niệm khởi không? Nếu không khởi nghĩ thì làm gì có nghĩ ác, làm gì có nghĩ thiện? Khởi nghĩ là niệm, đó là manh mối ban đầu của thiện và ác.
Khi niệm dấy động nên mau mau tỉnh giác, tỉnh giác nó liền thành không. Thu nhiếp như vậy lâu ngày chầy tháng tự nhiên tâm chánh. Kinh Thư nói: “Buông lung niệm là người điên, chế phục được niệm là bậc thánh.” Lời nói này rất chí lý và nên theo đó mà hành.
Niệm vừa dấy lên phải sớm tỉnh giác, không theo nó thì niệm liền tan biến. Người khéo biết điều phục như vậy mỗi ngày, lâu dần tự nhiên tâm chánh, tới chỗ vô niệm. Ngài chỉ thẳng vào lối tu của thiền tông là trở về tâm. Ngài lại dẫn Kinh Thư để làm chứng: Buông lung niệm là người điên, chế phục được niệm là bậc thánh. Kẻ nào để tâm niệm nghĩ xằng bậy là buông lung, người nào chế phục được tâm niệm mình là bậc thánh. Lời nói này rất chí lý và nên theo đó mà hành, theo đó mà tu. Đây là ngài đã chỉ thẳng về tâm, nhưng e người không có phương tiện tu chưa được, nên đặt ra câu hỏi kế. Câu hỏi đáp trước là chỉ thẳng, còn câu này là chỉ cho phương tiện để tu.
Hỏi: Người tại gia năm dục cột trói, không thể thoát liền được, chưa biết có phương tiện gì để tu lần lần hay không?
Đáp: Người tại gia tu hành việc ấy rất khó, phải dũng mãnh kiên chí và thường lâu mới được. Nên trong lúc động tịnh hằng ngày, trong lúc rảnh rang hay lúc bận rộn, chỉ riêng đề khởi một câu A-di-đà Phật, rồi hồi quang phản chiếu, chỉ giữ một niệm. Giả như có nhiều vòng lửa xoay trên đầu, nhất định cũng không bỏ một niệm này. Mặc tình cho tám gió đến xung kích ta, chẳng cho mất một niệm này. Lâu ngày chầy tháng một niệm được thuần chân, trở lại đem một niệm này phá nát ra, lúc ấy tự tánh Di-đà mới hiện.
Muốn tu phương tiện thì phải dũng mãnh kiên chí lâu bền. Khi động tịnh hoặc làm tất cả việc đều đề khởi một câu Nam-mô A-di-đà Phật, rồi hỏi “niệm Phật đó là gì?” Chỉ giữ một niệm phản chiếu này thôi. Giả sử có nhiều vòng lửa xoay trên đầu, nhất định cũng không bỏ một niệm này. Được như vậy lâu ngày chầy tháng, niệm đó thuần nhất. Thuần nhất rồi lại còn phải phá nát nó ra, chừng đó mới xong.
Tông Lâm Tế sau này đặt câu thoại đầu làm chính yếu. Do các ngài thấy trình độ của người tu kém, chỉ thẳng không hiểu, như đoạn trước dạy nhiếp niệm mà nhiếp không nổi, nên buộc lòng phải dùng câu niệm Phật hay một câu gì khác, cho họ nghiền ngẫm chết sống theo câu đó, lâu ngày chầy tháng thuần nhất thành một khối, phá tan khối đó ra gọi là ngộ.
Tôi nhắc lại và so sánh về hai lối tu trên, để người không hiểu sanh ra nghi ngờ. Lối tu trước, biết pháp thiện ác đều từ niệm khởi, không theo thì nó thành không, cứ thuần nhất kìm giữ không theo niệm khởi, lâu ngày chầy tháng tới chỗ lặng lẽ vô niệm. Còn lối tu sau là dùng một niệm, rồi để cho niệm đó thành khối, phá nát khối nghi kia cũng trở về vô niệm, chứ không có cái gì khác. Về hình thức phương tiện thì nó kìm mạnh hơn. Người không biết tưởng cái này cao hoặc hay hơn, nhưng thật ra chỉ là phương tiện mà thôi.
Giả sử hành như vậy suốt một đời chẳng ngộ, khi báo tận mạng chung tự giữ một niệm thẳng đến đường chánh. Trở lại làm người một nghe ngàn ngộ, thấy tánh thành Phật đã có phần. Đây là yếu chỉ của việc trở về tâm. Trái lại chớ hướng bên ngoài giong ruổi tìm cầu. Tự mình phải lời nói và hành động không trái thì mới gọi là chân chánh thọ dụng.
Ngài đặt giả sử, mình tu như vậy suốt đời mà chưa ngộ thì khi chết vẫn giữ một tâm niệm đó thẳng đến đường chánh, về sau tái sanh một nghe ngàn ngộ, thấy tánh thành Phật đã có phần.
Chủ yếu của phương pháp này là trở về tâm. Trở về tâm đúng ra là áp dụng cách nhiếp niệm ở trước, niệm tới liền biết, biết nó thành không. Nhưng vì người làm không nổi nên ngài mới phương tiện dùng thoại đầu.
Như vậy qua phần nhắc nhở cảnh tỉnh người thế tục, cuối cùng ngài cũng dạy họ tu trở về tâm, dứt vọng niệm để được chân. Đó là phương pháp quy tâm, tức trở về nguồn tâm.
CHƯƠNG II
PHẬT NHO LUẬN LÝ
Nho sĩ hỏi: Đạo lý của Phật chủ trương không cha con, không vua tôi. Các bậc tiên Nho đã bình luận đạo lý của Phật đồng với học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch. Tôi nghiên cứu thấy lời nói ấy quả nhiên chẳng sai.
Sư đáp: Khi đức Phật còn tu nhân, trong vô lượng kiếp đã từng móc mắt cứu song thân, hoặc xả bỏ thân thể chết thay cho cha, hành vô vàn đạo trung đạo hiếu, nhưng mà cũng không thành đạt được sự báo đáp. Chỉ có xuất gia học đạo vô thượng, thành bậc Đẳng chánh giác thì sự báo đáp mới trả xong. Kinh Phật nói: “Nếu người con hiếu phụng sự cha mẹ, trời Đế-thích ở tại nhà. Người con hiếu dưỡng cha mẹ, trời Đại Phạm thiên ở tại nhà. Người con hiếu kính cha mẹ chư Phật ở tại nhà.” Trong Luận nói: “Hiếu gọi là giới.” Người trước chẳng nuôi cha mẹ mà làm việc bố thí, đấy gọi là người ác. Trong Di-lặc kệ nói:
Nhà trên có hai tượng Phật,
Xót thương người đời chẳng biết.
Chẳng dùng vàng tốt làm thành,
Cũng chẳng chiên-đàn tạc nên.
Tức là cha mẹ hiện tại,
Đấy là Thích-ca, Di-lặc.
Người thường thành tâm cung kính,
Nào cầu công đức chi xa.
Giáo lý đạo Phật tuy không bàn về việc trị quốc, nhưng mà hay dẫn đạo người dân làm lành, cải hóa tà mê trở về đường chánh, dạy người ngu vâng làm những điều lành, khiến kẻ trí ngộ lý tu tâm. Đấy có thể bảo là làm sáng tỏ Phật đạo và ngầm báo đáp ân vua. Há chẳng thấy hàng họ Thích trong đạo Phật và những tòng lâm trong thiên hạ, sớm tối hai thời khóa tụng, hầu báo đáp bốn ân ba cõi được nhờ. Đối với người lơ là Phật quả, bất trung bất hiếu, mười phương Bồ-tát, hàng lậu tận A-la-hán, hàng thiên long bát bộ, các loại quỷ thần, há chịu quy y và dốc lòng phụ tá. Tôi chẳng nói dối, ông tự rõ.
Trong chương Phật Nho Luận Lý, phần nhiều Nho sĩ đều nhắm vào chữ hiếu, vì nhà Nho trọng đạo hiếu và coi đạo Phật như là bất hiếu. Sự thật, đạo Phật nhìn việc báo hiếu qua nhiều đời nhiều kiếp, còn nhà Nho chỉ nhìn ở hiện tiền. Theo nhà Nho, bổn phận làm con thì phải thần tỉnh mộ khang, sớm thăm tối viếng không được cách xa. Trái lại, nhà Phật thì tự mình tu được giải thoát rồi độ lại cha mẹ, đó là con hiếu. Nếu không phải người con hiếu thì không đi tu, vì đi tu tức là có đức hạnh. Người đức hạnh thì ơn cha mẹ là cao hơn cả, tại sao lại bỏ? Như vậy, về quan điểm thì hai lối nhìn khác nhau, nhưng trọng tâm đều là chữ hiếu. Cho nên ngài dẫn những lời kinh nói về hiếu đạo, để cho họ thấy đạo Phật không phải bất hiếu.
Hỏi: Cha mẹ còn sanh tiền chẳng được đi xa. Đi xa còn chẳng cho, huống cạo tóc mặc áo thâm, xa lìa cha mẹ?
Đáp: Ông chỉ biết cái hiếu nhỏ ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu to lớn xuất thế gian. Hiếu ở thế gian là chẳng thể xa lìa cha mẹ, còn sống thì lấy lễ mà phụng sự, khi chết thì dùng lễ mà mai táng, cuối cùng là lấy lễ mà cúng tế. Đạo hiếu trước sau đầy đủ chỉ có thế.
Nho giáo chỉ biết phụng sự cha mẹ hành đạo hiếu, mà chẳng biết cha mẹ đời quá khứ cho đến hiện tại, đã tạo nghiệp thọ báo đọa lạc vào ba đường. Nếu được người con xuất gia, chóng chứng đạo giác ngộ vô thượng thì mới có thể cứu bậc cha mẹ thoát khỏi cảnh khổ. Đấy mới có thể gọi là báo đáp ân cha mẹ một cách chân thật. Cổ đức nói: “Một người con xuất gia, chín đời ông bà được thăng thiên.” Xuất gia làm tăng, tuy cạo tóc mặc áo thâm, đó nghĩa là xa lìa thế tục, học đạo mới dễ thành công. Chẳng có vợ con, nên gọi là cắt đoạn ân ái, mới mau thành chánh giác. Ông chỉ biết ngũ luân ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu lớn cứu cha mẹ.
Nhà Nho dẫn câu “phụ mẫu tại tiền bất khả viễn du”. Cha mẹ còn sanh tiền chẳng được đi xa. Đi xa còn chẳng cho, huống là cạo tóc mặc áo thâm, xa lìa cha mẹ?
Ngài đáp: Ông chỉ biết cái hiếu nhỏ ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu to lớn xuất thế gian. Vì sao? Vì người tu là người xuất thế gian. Nghĩa là bản thân mình tu hành cho được đạt đạo, đạt đạo rồi mới cứu giúp cha mẹ trong đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Cứ lẩn quẩn bên cha mẹ không rời được, làm sao cứu được cha mẹ sau này? Cứu được cha mẹ nhiều đời đó là hiếu lớn xuất thế, chứ không phải cái hiếu nhỏ của thế gian.
Hỏi: Tội bất hiếu có ba, không con nối dòng là lớn hơn cả, vậy thế nào?
Đáp: Luân lý ở thế gian không con nối dòng là bất hiếu. Trái lại đạo xuất thế không cuộc hạn trong lệ này. Bởi do tham ái nên chúng sanh tiếp nối nhau mà sanh, cột trói trong lưới ái chẳng thôi, như keo như hồ. Đời đời hội hiệp, kiếp kiếp liên chuyền, cha mẹ con cháu tới lui chẳng dứt. Nếu thật là người có trí tuệ, phải cương quyết đoạn trừ, phát tâm dũng mãnh chặt dứt ái dục, đốn ngộ tâm tánh, vượt thẳng đến mảnh đất giác ngộ. Tuy là tuyệt tự không con nối dòng, cũng không phải tội lỗi. Bởi tự mình có cái hiếu lớn xuất thế, báo đáp ân của ông bà cha mẹ một cách chân thật.
Theo nhà Nho, tuyệt tự là tội lớn hơn hết. Nên nói tội bất hiếu có ba, không con nối dòng là lớn hơn cả. Theo ngài thì người tu tuy không có con nối dòng, nhưng đối với đạo xuất thế, thì không kìm ở trong lệ đó. Tại sao? Bởi vì cái lệ có gia đình là cái lệ của tham ái, cột trói kiếp kiếp đời đời không hết. Người tu cắt đứt ái dục để vượt thẳng tới chỗ giác ngộ, mới là đền đáp được công ơn cha mẹ. Đó là nghĩ tới hiếu lớn, mà không nệ ở cái hiếu nhỏ của thế gian.
Hỏi: Tăng sĩ xuất gia, mở miệng ra là nói việc xuất thế. Nếu quả thật có pháp xuất thế thì pháp ấy chẳng phải hành trên thế gian. Nay thấy lưu hành trên thế gian, sao nói ra ngoài thế gian?
Đáp: Người học đạo chẳng nhiễm duyên đời, giải thoát tất cả chỗ gọi là người xuất thế, chẳng phải lìa thế gian mà riêng có cái có thể xuất. Thí như Nho sĩ thi đậu, gọi là cưỡi rồng bẻ quế. Há thật có rồng để cưỡi, có quế để bẻ ư! Đáng tức cười những kẻ mê chấp mà sanh nghị luận dị kỳ.
Lại hỏi, tăng sĩ mở miệng nói xuất thế, vậy pháp ấy dính dáng gì ở thế gian, đâu có lưu hành trên thế gian?
Ngài đáp, xuất thế là ở trong thế gian mà chẳng nhiễm duyên đời, giải thoát tất cả ái nhiễm, chứ chẳng phải ra ngoài thế gian mà nói là xuất thế.
Hỏi: Tôi thấy tăng sĩ ham mê danh lợi, ròng làm chuyện thế gian làm sao chẳng nhiễm?
Đáp: Thời kỳ mạt pháp lìa Phật quá xa, cho nên rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh giao xen. Có những người trí chẳng lìa ngoài pháp thế gian, hành động phi đạo mà thành tựu được Phật đạo, người phàm mắt thịt không thể biết được, chớ nên nghị luận hàm hồ.
Đến đây họ lại chỉ thẳng, tôi thấy tăng sĩ ham mê danh lợi, ròng làm chuyện thế gian, làm sao chẳng nhiễm? Ngài nói không nhiễm, nhưng trên thực tế tôi thấy rõ ràng có nhiễm.
Ngài đáp, thời kỳ mạt pháp lìa Phật quá xa, rồng rắn lẫn lộn khó phân chia, không biết ai là rồng ai là rắn. Phàm thánh giao xen, trong đó có phàm mà cũng có thánh. Vì vậy, dưới con mắt phàm phu làm sao biết được đâu là rồng đâu là rắn, đâu là phàm đâu là thánh.
Có những người trí chẳng lìa ngoài pháp thế gian, hành động dường như phi đạo nhưng thành tựu Phật đạo. Đây là những bậc thánh hiện ra tướng phàm, chúng ta mắt thịt không thể biết được. Ngài nói lên lẽ thật, chứ không phải bênh vực một cách cực đoan. Trong đó có kẻ vầy người khác, có người dở cũng có người hay. Cho rằng tăng sĩ ai nấy cũng đều mê danh lợi, tức là lý luận hàm hồ, quơ đũa cả nắm.
Việc này hiện nay cũng vậy, nhiều vị nói bây giờ chán người tu quá, thấy thầy tu thế này thế kia mà ngán! Chúng ta cũng nên lý luận như vầy, rồng rắn lẫn lộn, vàng thau khó phân, thôi thì đừng nên lý luận hàm hồ, đừng thấy một cái dở rồi cho tất cả đều dở. Vì trong đó cũng có người tu hay, chứ không phải hoàn toàn như vậy.
Hỏi: Đức thánh Khổng công kích học thuyết dị đoan, đâu chẳng phải là Phật giáo và Lão giáo sao?
Đáp: Ngài Khổng Tử cho Lão Tử là dị đoan, sao lại đi hỏi lễ và khen tặng Lão Đam? Nếu cho Phật là dị đoan, lúc ấy Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc, sao nói dị đoan được? Ấy chẳng qua ngài Khổng Tử ngó thấy thời Xuân Thu, bậc hiền giả thì thái quá, còn kẻ ngu thì bất cập. Tất cả đều mất trung đạo, cho nên nói rằng dị đoan. Kẻ Nho sĩ đời sau, nương vào đó mà bài báng Phật giáo và Lão giáo. Lời nói rời rạc kia chẳng thông vậy.
Hỏi: Phật giáo chủ trương tịch diệt gọi là dị đoan. Các bậc tiên Nho đã kiểm điểm, lời kia chẳng sai.
Đáp: Gọi tịch ấy, chẳng phải đối với động mà gọi rằng tịch. Từ vô thủy đến nay, vốn tự chẳng động, nên gọi rằng tịch. Gọi diệt ấy, chẳng phải đối với sanh mà gọi rằng diệt. Từ vô thủy đến nay, vốn tự không sanh không diệt, nên gọi rằng diệt. Đây là bản tánh của toàn thể, muôn nghìn tác dụng từ đây mà phát sanh. Kẻ Nho sĩ đời sau chẳng ngộ được tánh thể, lầm lẫn sanh ra dị kiến đoạn diệt.
Đức Khổng Tử không thích những thứ dị đoan, còn Phật giáo chủ trương tịch diệt gọi là dị đoan. Đây là bác cái tịch diệt của đạo Phật. Ngài cải chính lại chỗ hiểu sai lầm của họ. Tịch diệt trong đạo Phật nói, là chỉ cho bản tánh thường nhiên bất động, bất sanh bất diệt, chứ không phải nói tịch diệt là chết rồi hết. Vì đó là bản tánh của toàn thể, muôn nghìn tác dụng từ đây mà phát sanh.
Hỏi: Đạo Nho tôi chủ trương “cùng lý tận tánh”, chẳng giống như thiên không của Phật giáo?
Đáp: Phật nói: “tịch diệt hiện tiền, lục căn hỗ dụng”. Nhà Nho gọi là “tịch nhiên bất động, có cảm liền thông.”
Phật nói: “Như như bất động.” Nho nói: “Không không”, giống nhau vậy.
Kẻ Thích tử chuyển thức thành trí, thầy Nhan Hồi học đạo thánh thường không. Nếu cho tịch diệt là dị đoan thì Khổng Tử nói không không cùng Phật không hai, vậy cũng dị đoan sao? Kẻ Nho sĩ đời sau chẳng rõ tánh thể, đã vô cớ sai lầm nghị luận thiên không. Nếu ngộ được chỗ chưa phát khởi trở về trước, mới biết đạo Nho, đạo Thích không hai.
Đạo Nho và đạo Phật không hai. Phật nói tịch diệt hiện tiền, lục căn hỗ dụng. Tâm không động, gọi là tịch diệt hiện tiền, từ tâm khởi dụng ra nơi sáu căn không ngăn ngại, gọi là lục căn hỗ dụng. Chỗ này bên nhà Nho gọi là tịch nhiên bất động, có cảm liền thông v.v...
Như vậy cả hai bên nói đều giống nhau, đâu có gì khác. Nếu nói đạo Phật là dị đoan thì đạo Nho cũng là dị đoan, vì vậy ngài dẫn chứng để phá chấp, cho rằng chủ trương của đạo Phật là thiên không, là dị đoan.
Hỏi: Đạo Phật dùng lý nhân quả để dọa sợ hàng tục tử ngu muội, nói người làm thiện nhất định sanh thiên đường, kẻ làm ác đọa xuống địa ngục. Nói lục đạo luân hồi, tam đồ nghiệp báo, như thế là dối láo mê hoặc người thái quá. Tín đồ đạo Phật đâu biết mạng người sau khi chết khí hóa thành gió, thân thịt hóa thành bùn đất, một đời đã hết có ai mà trở lại?
Đáp: Như ông đã nói không nhân không quả, thiên đường địa ngục là dối láo, con người một đời chết rồi về không, khí hóa thành gió, thịt hóa làm bùn đất. Nếu không nhân quả sao kinh Dịch nói: “Nhà chứa những điều thiện, ắt có thừa những niềm vui khánh hạnh. Nhà chứa điều ác, ắt có thừa những họa tai.” Lại Kinh Thư nói: “Người làm lành được đáp cho trăm điều may mắn, người làm điều chẳng lành được đáp cho trăm tai họa.” Nếu không có địa ngục do đâu trong truyện nói: “Nếu làm điều chẳng lành, sẽ bị quỷ thần hành phạt nơi cõi u minh.”
Ngài dẫn sách Nho để phá cái chấp sai lầm của nhà Nho. Không phải chỉ trong đạo Phật nói về nhân quả, mà chính trong sách Nho cũng nói thiện ác có báo ứng, chứ chẳng phải là không.
Nếu không có luân hồi, cớ sao lại nói người chết nơi đây thì sanh nơi kia, vạn vật lưu xuất từ cơ tạo hóa thì cũng đều vào cơ tạo hóa.
Nếu không nhân quả báo ứng, con người chỉ sống một đời mà thôi, thì tự do lêu lổng buông lung tâm ý, hành vi trái đạo, đến sau khi chết chẳng qua hóa một trận gió trong. Nếu tự như hóa thành gió, sao lại an trí thờ phụng? Hơn nữa gió là vật vô tình vốn không tri giác.
Ngài bác việc sau khi chết khí hóa thành gió, thân thành bùn đất. Nếu khí hóa thành gió, gió là vật vô tình không tri giác thì sao lại an trí để tôn thờ?
Trình Hạo nói: “Con hiếu cúng tế ông bà, ông bà chứng cho lòng tưởng nhớ ấy. Đấy là do lòng chí thành, hễ có cảm liền ứng.” Cứ theo lời nói này, ông bà đến để chứng cho lòng tưởng nhớ của con cháu. Nhưng mà luồng gió trong đến chứng hay là linh tánh đến chứng?
Cúng tế ông bà cha mẹ là do lòng hiếu kính của mình, nên cảm ứng ông bà cha mẹ về chứng minh. Về chứng minh đó là cái gì? Gió hay linh tánh? Nếu là bùn đất thì về không được rồi!
Nếu là linh tánh đến thì linh tánh thành gió. Nếu là gió trong đến thì gió trong là vật vô tình. Vậy thì ông bà sau khi chết, tánh hóa làm vật vô tình ư? Con cháu cúng tế, ông bà lại biến thành linh tánh, sau khi nhận sự cúng tế rồi trở lại hóa thành gió trong. Như vậy sự biến hóa qua lại thật là luồng gió kỳ quái.
Trình Hạo lại nói, quỷ nghĩa là có đi mà không có lại. Đã có đi mà không có trở lại, nhưng khi con cháu chí thành nên ông bà cảm mà về chứng, vậy là có trở lại. Thật nực cười vậy.
Nếu ông bà chết linh tánh hóa thành gió, rồi khi con cháu nhớ tưởng thì gió đó hóa thành linh tánh để chứng minh, chứng minh xong linh tánh lại hóa thành gió để đi. Điều đó thật là kỳ quái không đúng vào đâu hết. Lý luận lệch lạc như thế chỉ làm trò cười cho người mà thôi.
Y Xuyên nói: “Quỷ thần là lương năng của hai loại khí, khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm rơi xuống đất làm quỷ.” Đã nói nhân quả là giả, thiên đường địa ngục chẳng thật. Như vậy chủ trương khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm dưới đất làm quỷ là đã rơi trong nhân quả cảm ứng rồi.
Rất tiếc kẻ tục Nho chẳng ngộ được diệu tánh chẳng có chẳng không, chẳng sanh chẳng diệt, lầm lẫn sanh tâm chấp đoạn diệt, tự mờ mịt bản chân. Kẻ ấy phải sớm sanh trí tuệ, mau tìm bậc minh sư quyết cầu một lời hay nửa câu, liền phát minh ra đạo lý nhất quán thì nhất định không rơi vào hai kiến chấp đoạn thường, liễu ngộ được lý trung hòa của cửa Khổng.
Quỷ thần là lương năng của hai loại khí, khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm rơi xuống đất làm quỷ. Lời của Y Xuyên nói đúng với nhân quả, làm lành sanh lên các cõi trời, làm ác đọa xuống địa ngục. Đó là hợp với lý nhân quả mà sao ông lại hỏi bác nhân quả? Đáng tiếc cho kẻ tục Nho chẳng ngộ diệu tánh, lầm lẫn sanh tâm chấp trước, làm cho mờ mịt bản chân. Phải mau tìm bậc minh sư, khai thông trí tuệ, mới không rơi vào kiến chấp đoạn thường, liễu ngộ được chánh lý.
Hỏi: Đã chẳng lầm nhân quả, thiện ác báo ứng chẳng sai. Cớ sao vua Lương Võ Đế phụng thờ đạo Phật mà bị mất nước vào tay Hầu Cảnh?
Đáp: Vận nước có dài có ngắn, đời có thạnh trị hay loạn lạc đều do định nghiệp, không thể dời đổi được. Lương Võ Đế theo Tiểu thừa, chuyên tu vào hữu vi, quá tin vào lề thói cũ, cố chấp lý trung, không có quyền biến. Binh của Hầu Cảnh đến chẳng bày phương tiện, mà lại hợp các thầy Sa-môn lại, rung chuông gõ khánh niệm Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật. Giống như Hướng Hủ nhà Hậu Hán, có Trương Giác làm loạn, không muốn quốc gia hưng binh, chỉ xua binh tướng ra bờ sông, hướng về phương bắc đọc Hiếu Kinh, cho quân giặc nghe sẽ tự tan rã. Dùng pháp chánh chẳng khéo như vậy, đâu phải lỗi tại Hiếu Kinh? Lương Võ Đế chấp vào lý trung, lại cũng do định nghiệp mất nước, chứ chẳng phải làm thiện mà tổn hại. Vua Lương Võ Đế tuổi thọ đến chín mươi, định nghiệp của vua là do bệnh mà chết, chẳng phải đến đỗi tàn ác. Cớ sao lại nhân vào việc này mà bài báng thánh giáo, ấy tự mình chuốc lỗi vậy.
Đây là lối lý luận của nhà Nho bác đạo Phật. Đã chẳng lầm nhân quả, thiện ác báo ứng không sai, tại sao vua Lương Võ Đế phụng thờ Phật, mà lại bị nạn giặc Hầu Cảnh bao vây phải mất nước?
Ngài đáp, vua Lương Võ Đế thờ Phật mà còn mê tín, nên mới bị giặc Hầu Cảnh chiếm nước. Giặc đến không bày binh bố trận chống lại, mà cứ ở trong mời các Sa-môn lại tụng kinh Bát-nhã, giặc vô thành là lẽ tất nhiên. Do mê tín hiểu không thông suốt, nên đưa đến mất nước. Ngài dẫn thí dụ, như vào đời Hậu Hán có Trương Giác làm loạn, lúc đó Hướng Hủ kéo binh ra mé sông tụng Hiếu Kinh, bị giặc vô cướp thành. Như vậy đâu phải chỉ một mình vua Lương Võ Đế, mà cả những nhà Nho. Do không tin hiểu đúng lý của Hiếu Kinh, nên cũng không kết quả. Việc của Lương Võ Đế là bởi định nghiệp khó tránh, chứ không phải lỗi tại làm thiện mà không có phước.
Hỏi: Thầy nói định nghiệp khó trốn thoát. Vậy sự cảm ứng thật là trò dối gạt?
Đáp: Đời trước tạo nghiệp, đời này thọ quả báo. Thân hiện đời này tu phước, trở lại kiếp sau hưởng quả vui. Lý ấy nhất định như vậy, không thể dời đổi được. Vua Lương Võ Đế đời trước kết những oan nghiệp, đời này gặp lại những thù oán xưa. Tuy gặp những oán nạn, nhưng nhờ đời này tu thiện, nhất định quả vui của đời sau chẳng thể lầm được.
Định nghiệp không trốn thoát được, vậy sự cảm ứng chỉ là trò dối gạt thôi sao?
Ngài giải thích, vua Lương Võ Đế bị oan nghiệp kết từ đời trước, đời này phải trả. Nhưng nhờ tu thiện cho nên trả hết oán thù rồi, sau này chắc chắn sẽ được quả vui, không lầm.
Hỏi: Nhân quả chẳng lầm, nó là cái định kiến không thể dời đổi chăng?
Đáp: Đấy là pháp nhất định mà cũng có bất định.
Hỏi: Bất định như thế nào?
Đáp: Đời trước tạo nghiệp, đời này nghèo khó lại mạng yểu, hoặc làm phúc đức nên tội diệt phúc sanh. Hoặc ở những kiếp trước vay nợ sanh mạng với nhau nay oan trái hội ngộ, do làm công đức lớn cảm động đến trời đất nên hóa hung làm kiết. Cổ đức nói: “Làm âm đức hay giải trừ được túc nghiệp.” Cho nên tuy có định pháp mà cũng có bất định pháp.
Nhân quả có định mà cũng có bất định. Bất định như thế nào? Do đời trước tạo nghiệp nên đời này nghèo khó lại mạng yểu, nếu bây giờ làm phúc thì tất nhiên tội diệt, phúc sanh. Do có thể chuyển được phần nào, nên nói không cố định. Như cổ đức nói Làm âm đức hay giải trừ được túc nghiệp” vì vậy mà biết có định pháp và bất định pháp.
Hỏi: Vua Lương Võ Đế một đời xả thân sửa chùa xây tháp, in kinh tạo tượng, phụng thờ Phật, độ tăng ni. Làm lành như vậy, há không âm đức cảm động đến trời đất, để được cởi oan mở nạn sao?
Đáp: Việc của Lương Võ Đế là phước hữu vi, sanh trở lại sẽ thọ quả vui. Nếu là âm đức vô lậu thì hợp làm một với lòng trời, mới hay đổi hung làm kiết, đổi tai họa thành an lành.
Vua Lương Võ Đế một đời làm phước hữu vi, xả thân, sửa chùa, xây tháp, in kinh, tạo tượng, phụng thờ Phật, độ tăng ni, khuyến khích những thanh niên thông minh cho đi tu v.v... Làm lành như vậy là quá lắm rồi, há lại không âm đức cảm động đến trời đất, để được cởi oan mở nạn? Việc làm của vua Lương Võ Đế chỉ là phước hữu vi, chứ không phải là âm đức vô lậu. Vì cố chấp trên phước hữu vi, nên chưa chuyển nổi định nghiệp.
Hỏi: Phật pháp nếu đồng với giáo lý của đạo Nho, tại sao Âu Dương Tu nói Phật là đại hoạn cho Trung Quốc.
Đáp: Phật pháp nếu chẳng phải là giáo lý chân chánh mới là đại hoạn. Do đâu mà từ xưa cho đến nay, trên từ thánh đế hiền vương, dưới cho đến tể quan, đại Nho, trưởng giả, cư sĩ, đạo sĩ, bà già, con gái, con ở... đều phụng thờ Phật như thủy triều lên. Kẻ quy y như nền trời đầy sao. Trong số người đông đảo như vậy, khó thấy một người khám phá ra đạo Phật là tà, để diệt trừ nó. Huống nữa đức Phật là người từ phương xa, ngài cũng chưa đến đây bao giờ, chẳng qua là lời dạy của ngài truyền đến đây mà thôi. Nếu là giáo pháp hại người, há lại cho lưu truyền từ lâu, sao không bị trời tru người chán?
Âu Dương Tu nói, đạo Phật ra đời ở Trung Quốc là đại nạn cho Trung Quốc. Ngài phản bác lại lập luận này: Phật pháp nếu chẳng phải là giáo lý chân chánh mới là đại hoạn. Nếu là đại nạn của Trung Quốc thì cớ sao từ xưa đến nay, từ quan chí dân mọi người đều quy y phụng thờ Phật? Pháp đó là sai thì sao lại nương theo?
Hỏi: Âu Dương Tu nói, Phật khéo bày đặt việc không căn cứ, chẳng chân thật.
Đáp: Phật bày ra điều dối láo ắt có mưu đồ. Nếu nói về danh lợi, Phật là người rất tôn quý. Nếu nói về đói lạnh, Phật là người rất giàu sang. Vì sao lại xả bỏ giàu sang, vương vị, đi bày đặt chuyện không căn cứ, chẳng chân thật, để mê hoặc người? Đây cũng là việc rất điên đảo và kỳ quái vậy. Nếu lòng Phật có mảy may trá vọng thì mười phương các bậc thánh hiền, há lại chịu cùng theo ngài hoằng hóa? Kinh nói: “Lời nói của Như Lai là lời chân, lời thật, lời đúng, lời chẳng dối, lời chẳng khác.” Lời trên ấy là do Âu Dương Tu muội tâm mà nói ra vậy.
Đức Phật không hề bày đặt việc không căn cứ, chẳng chân thực. Vì sao? Vì ngài đâu có mưu đồ. Phật đã bỏ gia đình, cha mẹ, ngôi vua mà đi tu, đâu có chuyện gọi là bày đặt. Nếu đức Phật là người ham danh lợi thì mới bày đặt, còn ngài đã buông xả để tu hành vậy bày đặt để làm gì? Chẳng qua chỉ là những lối chấp của người hiện thời mà thôi.
Hỏi: Hàn Dũ nói: “Phật giáo là nền đạo giáo từ bên Tây Vức, đến thời Hậu Hán mới truyền bá vào Trung Quốc. Đời thượng cổ nào có đạo Phật, từ đời Hoàng Đế trở xuống, đời vua Văn, vua Vũ trở lên, con người đều chẳng dưới trăm tuổi. Đời sau theo đạo Phật càng ngày càng nhiều, nên tuổi thọ bị giảm. Nguy thay!”
Đáp: Bậc Đại thánh ra đời không cuộc hạn trong chỗ nơi và tuổi tác. Bậc đế vương của Trung Quốc như vua Thuấn sanh ra ở Chư Bằng, khi chết ở Ô Điều và quê ở phần đất phương Đông. Văn Vương sanh ra ở Kỳ Châu, chết ở Tất Dĩnh và quê ở phần đất phía Tây. Vua Thuấn và Văn Vương đều là bậc thánh nhân, pháp tắc các ngài bủa khắp thiên hạ, đời sau rất tôn kính các ngài, ấy chẳng qua là tùy phong thổ mà được tuổi thọ như vậy. Nếu nói người thượng cổ thì trường thọ, còn kẻ hậu thế thờ Phật mà bị giảm thọ, vậy cớ sao khoảng giữa năm Bính đến năm Nhâm rất ngắn? Tại sao Khổng Lý và Nhan Hồi là bậc thông minh xuất chúng lại chết non? Khéo tin, bảo nguyên nhân do thờ Phật mà mạng số rút giảm, vậy Hàn Dũ bài báng Phật lý đáng phải sống vĩnh viễn? Đấy là lối lý luận bịt tai nghe linh, chưa khỏi làm trò cười cho bậc trí.
Lối lý luận của Hàn Dũ thật là đại ngụy biện, nên trong phần trả lời ngài đưa ra nhiều dẫn chứng để bác lại ý trên. Ngài nêu việc Khổng Lý là con của Khổng Tử, và Nhan Hồi cả hai đều chết yểu. Hàn Dũ cho rằng tin Phật thì mạng yểu, vậy hai vị này là nhà Nho chánh gốc, mà sao mạng cũng yểu? Nếu bảo nguyên nhân là do thờ Phật mà chết yểu, thì Hàn Dũ bài báng Phật lẽ ra phải sống hoài. Lối lý luận như vậy chỉ gọi là bịt tai nghe linh mà thôi.
Hỏi: Phật dạy minh tâm kiến tánh, hay kiến tánh thành Phật. Đạo Nho tôi không có lời nói chẳng thật như vậy.
Đáp: Phật dạy người minh tâm kiến tánh và khi kiến tánh là thành Phật. Mạnh Tử nói: “Dùng hết tâm để biết tánh, biết tánh tức là biết trời.” Lại nói: “Đọc lời dạy của vua Nghiêu, hành hạnh của vua Nghiêu, đó là vua Nghiêu rồi.” Giáo lý của ta dạy: “Ngộ lời của Phật, hành hạnh Phật, đó là Phật rồi.” Như vậy đạo Nho, đạo Thích, có gì sai khác mà nói không thật?
Phật nói “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, cũng giống như Mạnh Tử nói “Dùng hết tâm để biết tánh, biết tánh tức là biết trời.”
Đạo Phật nói: “Ngộ lời của Phật, hành hạnh Phật, đó là Phật rồi.” Câu nói này đâu khác gì câu nói của nhà Nho “Đọc lời dạy của vua Nghiêu, hành hạnh của vua Nghiêu, đó là vua Nghiêu rồi.” Như vậy, Nho và Phật đâu có gì sai khác.
Hỏi: Khi ngộ lời Phật quyết định cần phải hành hạnh của Phật, tôi đã thấy trong giới tăng sĩ có nhiều người không tuân theo luật của Phật. Tại sao thế?
Đáp: Cửa pháp quá rộng rãi cho nên rồng rắn lẫn lộn, ngay lúc đức Phật còn tại thế mà còn có lục quần Tỳ-kheo, huống là thời mạt pháp, cách Phật càng ngày càng xa. Thời nay chỉ cầu một người hơi giống người xưa, trong số trăm ngàn tăng sĩ cũng đủ rồi. Thí như đãi cát tìm vàng, mười đấu cát được một hạt vàng cũng là vật quý ở trên đời. Lại như chẻ đá tìm ngọc, một núi đá chỉ được một tấc ngọc cũng làm được vật quý. Người xưa nói: “Loài có sừng tuy nhiều, một con lân cũng đủ rồi.” Chẳng những thời mạt pháp, trong Phật giáo khó tìm được người hơi giống người xưa, ngay lúc đương thời đức Khổng Tử, cũng có quân tử Nho và tiểu nhân Nho. Hiện nay tuy mặc áo Nho sĩ, làm sao bảo đảm họ đều giống Khổng, Mạnh. Cho nên Tông giáo thời thượng pháp, chẳng riêng gì tăng sĩ có người không giữ luật, mà Nho giáo cũng vậy, chưa khỏi lệ này.
Thuở xưa khi đức Phật còn tại thế, có lục quần Tỳ-kheo không làm đúng theo lời của Phật, huống nữa là bây giờ. Trong thời mạt pháp, trăm ngàn người mà kiếm một người cũng tốt lắm rồi, như đãi một trăm thùng cát có được một miếng vàng. Kiếm trong cả dãy núi, tìm được vài hạt ngọc đã là quý. Nếu muốn là vàng ngọc hết thì quá tham! Như trong số mấy trăm người mà tìm được một người chân thật ít có, cũng là quý. Không thể nào thấy có ít người chân thật, rồi cho đó là vô dụng. Người xưa nói: Loài có sừng tuy nhiều, một con lân cũng đủ rồi.
Nếu nói rằng, khi ngộ lời Phật là quyết định hành hạnh của Phật, thì thử hỏi bên nhà Nho, có chắc người nào mặc áo nhà Nho là giống Khổng Tử, Mạnh Tử hết không? Chẳng riêng gì tăng sĩ không giữ giới luật giống Phật, mà nhà Nho cũng vậy đâu tránh khỏi tệ này. Đời mạt pháp cách Phật xa thánh hiền, không giống Phật không giống thánh là chuyện chung, chứ không riêng gì đạo Phật.
Hỏi: Tam giáo chỉ có một lý, tại sao lầm phân ra đẳng cấp, Phật giáo trị ở xương tủy, Đạo giáo trị ở huyết mạch, đạo Nho tôi trị ở ngoài da? Như vậy là lời nói bất công, chưa khỏi khiến người phiền trách.
Đáp: Nho gia lấy cùng lý tận tánh làm đạo, tam cang ngũ thường làm đức, chỉ mong người làm quân tử, cho nên gọi là trị ngoài da. Đạo gia lấy tu chân dưỡng tánh làm đạo, nhược chí thoái kỷ làm đức, mong làm đến bậc thanh hư đạo nhân, cho nên gọi là trị trong huyết mạch. Phật giáo lấy minh tâm kiến tánh làm đạo, thập độ vạn hạnh làm đức, thành bậc Chánh giác Tam giới sư, thật là hay trị ở cốt tủy. Chẳng phải là đạo thể của Tam giáo có khác nhau, bởi mỗi môn công hạnh có sai biệt.
Nhà Nho lấy cùng lý tận tánh làm đạo, tam cang ngũ thường làm đức, chỉ mong cho người trở thành quân tử thôi chứ không có gì cao hơn, nên gọi là trị ngoài da.
Đạo giáo dạy tu chân dưỡng tánh làm đạo, nhược chí thoái kỷ làm đức, lui lại nhường chỗ cho người, đó là đức. Cốt được làm vị đạo nhân trong sạch, ngao du tự tại không màng danh lợi, nên gọi là trị trong huyết mạch.
Phật giáo lấy minh tâm kiến tánh làm đạo, thập độ vạn hạnh làm đức, thành bậc Chánh giác tam giới sư. Thật là hay trị ở cốt tủy.
Hỏi: Thế nào bảo rằng Tam giáo thể chỉ có một?
Đáp: Thể chỉ có một. Phật giáo chủ trương kiến tánh, Đạo giáo chủ trương dưỡng tánh, Nho giáo chủ trương tận tánh. Vào cửa tuy có sai khác, nhưng trở về nguồn thì không hai.
Tam giáo sở dĩ có những sai biệt như thế là do công hạnh sai biệt, còn về lý thể thì chỉ có một. Tại sao? Bởi vì bên nào cũng trở về tánh, cho nên chỉ là một, không có gì khác biệt.
Hỏi: Phật giáo Nho giáo có chỗ bất đồng?
- Bất đồng chỗ nào?
- Đạo Nho tôi, trước học hỏi sau mới giảng dạy, phải xem khắp cả sách vở để nhận ra chỗ cùng tận cái lý của tánh tình. Đạo Phật trước dạy ngồi tịnh tham cứu thoại đầu, để ngộ tâm tánh của đạo. Cho nên Phật giáo, Nho giáo, đại khái có điểm chẳng đồng.
Sư nói: Từ bên ngoài vào chẳng phải của quý ở nhà, từ trong phát khởi mới là tuệ chân thật. Môn đệ của Khổng Tử lúc bấy giờ chỉ có Nhan Hồi được ngộ, ngoài ra là những bậc học nhiều thấy rộng, tất cả đều từ bên ngoài trợ phát, cho nên học và ngộ cách nhau trời vực.
Từ bên ngoài mà vào chẳng phải của quý ở nhà. Từ trong phát khởi mới là tuệ chân thật. Cái gì lượm ở ngoài đem vô thì cái đó không phải là của quý trong nhà. Tự mình khai thông trí tuệ bên trong của mình, đó mới là trí tuệ chân thật. Có nhiều người tu thiền, ham học hiểu thật nhiều lại bị chư tổ quở. Tại sao? Vì đó vẫn là tìm kiếm ở ngoài đem vô làm của mình, chứ không phải là cái thật của chính mình.
Như Trình Minh Đạo tham học nơi ngài Mậu Thúc, Mậu Thúc khiến tầm cứu chỗ vui của Trọng Ni và Nhan Hồi. Chỗ vui của Trọng Ni và Nhan Hồi đâu không phải là câu thoại đầu?
Lại Dự Chương, La Trọng Tố chỉ dạy người tịnh tọa tham cứu câu: “Bốn đầu chưa phát khởi làm khí tượng gì?” Việc trên chẳng những có sức tiến bộ trên sự học, mà cũng gồm cả yếu chỉ của sự dưỡng tâm. Hai vị cao hiền nơi cửa Khổng này, có khác gì nhà thiền tham cứu ngộ nhập?
Ngài dẫn cho thấy cách ngồi tịnh tham cứu của Trình Minh Hạo và La Dự Chương, cũng là thoại đầu rồi, vì nó giống như người tu thiền tham thoại đầu. Vậy thì giữa Nho và Phật đâu có gì gọi là bất đồng chống trái nhau đâu.
Hỏi: Lý đốn ngộ tôi tin chẳng nổi?
Đáp: Chẳng những kẻ mới học Nho hiện thời tin chẳng nổi, mà cho đến Tử Cống, Tử Phương, các bậc hiền trong cửa Khổng, cũng tin chẳng nổi. Lúc bấy giờ chỉ có Nhan Hồi được niềm tin thôi, cho nên đức Khổng Tử gọi Nhan Hồi là bậc hiếu học.
Nhà Nho nói, lý đốn ngộ tôi tin không nổi? Ngài đáp, chẳng phải một mình ông tin không nổi, mà cả các bậc hiền trong cửa Khổng cũng tin không nổi, chỉ có Nhan Hồi là tin được thôi.
Hỏi: Giáo lý của tôi từ sự mà vào, trong động khế hợp với lý. Nhà Phật trái lại từ lý mà vào, tịnh tọa để ngộ lý. Cho nên người trong động khế hợp với lý, khí lực lớn; người tịnh tọa ngộ lý, khí lực yếu.
Đáp: Chỗ ông nói lý kia rất đúng, nhưng không làm sao được, vì chỗ quen thuộc lại quen thuộc hơn, chỗ sanh khởi lại sanh khởi hơn. Người học nếu ở trong động, chỗ quen thuộc mà chứng lý, không theo việc ấy làm chống trái đó, chỉ có muôn người không được một. Hạng sơ cơ nghiêng về chỗ tịnh, nơi sanh khởi (của tâm ý) luyện tập cho thành thục. Lúc ấy dù đến chỗ động, tự nhiên cũng được lực dụng.
Ngài Y Xuyên mỗi khi thấy người tịnh tọa, đều vui vẻ khen rằng người này khéo học. Châu Hy nói: “Ngài Minh Đạo dạy người tịnh tọa, Lý tiên sinh cũng dạy người tịnh tọa. Bởi vì nếu tinh thần bất định thì đạo không bến đỗ, nếu tịnh tọa điều dưỡng được kết quả thì đạo liền thông suốt.” Như vậy chư Nho ở trên đều thích tịnh tọa nghiên cứu. Tức cười cho nhà Nho thế tục ngày nay, vọng tâm sanh diệt không một chút dừng nghỉ, đối cảnh gặp duyên không phân biệt chủ tể. Như vậy vì sao nói từ sự nhập, trong cái động khế hợp đạo nhất quán?
Nhà Nho nói: Giáo lý của tôi từ sự mà vào, trong mọi hoạt động đều phù hợp với lý. Nhà Phật trái lại từ lý mà vào, tịnh tọa để ngộ lý. Cho nên ở trong động làm các thứ việc mà ngộ được lý thì khí lực mạnh, còn ngồi tịnh tọa mà ngộ lý thì khí lực yếu. Vậy là thua bên tôi rồi.
Ngài đáp: Chỗ ông nói lý kia rất đúng. Tôi chấp nhận ông nói đúng, trong động mà ngộ được đó là khí lực mạnh. Nhưng không làm sao được, vì chỗ quen thuộc lại quen thuộc hơn, chỗ sanh khởi lại sanh khởi hơn. Biết vậy đó, nhưng làm sao được. Trước giờ mình ở trong động, loạn quen rồi, nên bây giờ phải kiếm chỗ tịnh ngồi yên lại, từ từ gỡ cho hết loạn. Nếu còn lăn vào chỗ động, làm việc này việc kia nữa, thì càng thêm loạn biết chừng nào yên. Ở chỗ động mà chứng lý, trong muôn người không được một. Hạng sơ cơ còn yếu, trước nên nghiêng về chỗ tịnh, ngồi yên nhìn xuống, luyện tập cho thành thục, tự nhiên lực dụng đầy đủ, sau tới chỗ động mới được yên. Nếu đang động mà còn vào chỗ động để tìm yên, thì không bao giờ yên được.
Ngài dẫn chứng, như Y Xuyên mỗi khi thấy người tịnh tọa, đều vui vẻ khen ngợi. Châu Hy thì nói: Ngài Minh Đạo dạy người tịnh tọa, Lý tiên sinh cũng dạy người tịnh tọa v.v... Như vậy nhà Nho cũng dạy tịnh tọa giống Phật, chứ đâu có gì khác biệt.
Hỏi: Tột lý chỉ một lời chuyển phàm thành thánh. Việc này rất kỳ đặc, khiến nhà Nho khó tin.
Đáp: Đương thời ngài Tăng Sâm tham cứu lý tâm rất chuyên cần, bỗng nghe câu “nhất dĩ quán chi” của đức Khổng Tử, thì nghiễm nhiên lãnh ngộ được cái lý của tâm tánh.
Lại, Châu Mậu Thúc dạy đồ chúng rằng: “Cỏ trước nhà chẳng nhổ.” Nếu có người hỏi ý kia, nên đáp rằng: “Ý nghĩ chung của tự nhà mình.”
Trương Tử Hậu nghe lừa kêu mà lãnh hội, đấy há chẳng giống tột lý chỉ một lời, chuyển phàm thành thánh ư?
Tăng Sâm, Châu Mậu Thúc, Trương Tử Hậu, những vị này cũng dùng một câu, nghe một tiếng mà lãnh ngộ. Việc đó nhà Nho cũng có, như vậy chỗ tột lý chỉ một lời, chuyển phàm thành thánh bên Phật nói đâu có gì lạ.
Hỏi: Thiền lấy cơ duyên mà ấn chứng. Đạo Nho tôi quyết không có cái việc này.
Đáp: Xưa Trình Y Xuyên thấy Thiệu Khương Tiết, Trình chỉ cái bàn ăn mà hỏi Thiệu rằng: “Bàn này để trên mặt đất, chẳng biết trời đất tại chỗ nào?” Tiên sinh Thiệu Khương Tiết nghị luận cùng tận về lý kia. Lời hỏi ấy tức là cơ duyên ấn chứng vậy.
Hỏi: Thiền lấy cơ duyên mà ấn chứng còn đạo Nho không có việc đó?
Ngài dẫn việc Trình Y Xuyên chỉ cái bàn ăn hỏi Thiệu Khương Tiết: “Bàn này để trên mặt đất, chẳng biết trời đất để chỗ nào?” Đây là đưa ra một câu hỏi làm nghi vấn mà ấn chứng, như vậy lời hỏi ấy chính là cơ duyên để ấn chứng rồi.
Hỏi: Chư tử trong đạo Nho tôi, đều có nghị luận về lý vô cực, thái cực, nhưng mà không thông suốt, làm sao kẻ hậu học một lúc được vào? Thầy đã nói rõ về Tam giáo chỉ một lý, sao không ra tay chuyển xoay, để cho người chưa ngộ tin rằng Phật pháp là cao tột?
Đáp: Đạo giáo và Nho giáo đại khái về môn lý thì đồng. Do vô cực sanh ra thái cực, thái cực động sanh ra dương, động cùng cực rồi tịnh, tịnh lại sanh ra âm. Một âm một dương ấy là lưỡng nghi giao nhau, sanh ra tứ tượng, ngũ hành, rồi sanh ra vạn vật. Tóm lại, nếu suy về lý cùng cực, rốt lại chẳng biết là do tâm hiện ra. Tôi nếu chỉ bày chỗ thanh tịnh bản nhiên, vì sao lại sanh sơn hà đại địa, còn e khó vào. Nay phương tiện mượn hai lý vô cực, thái cực sai khác của Nho giáo, để khiến ông dễ ngộ.
Bây giờ trở lại nghiên cứu Phật thừa. Bản tánh không tịch tức là vô cực, chân tâm linh chiếu tức là thái cực. Tịch chiếu không hai như gương chiếu vật, hay biện biệt lẽ thiện ác mà không sanh phân biệt. Tâm vừa nảy sanh, lẽ thiện ác liền hiện. Như thái cực động mà sanh ra âm dương, âm dương giao nhau mà sanh ra vạn vật. Chân tâm đối vật chẳng sanh phân biệt, một niệm vừa sanh muôn pháp đều hiện. Nay mượn chỉ tâm tánh để làm sáng đạo Dịch, nếu vào cửa thiền tham cứu trở lại phải mất ba mươi năm.
Người hỏi lại nói, nhà Nho đều nghị luận về lý vô cực, thái cực mà chưa thông suốt nên người sau không biết lối. Thầy đã nói Tam giáo chỉ một lý, tức là Tam giáo đồng nguyên, sao không lý luận cho rõ để cho người tin Phật pháp là cao tột?
Ngài đáp, Đạo giáo và Nho giáo đại khái về môn lý thì đồng. Vô cực sanh ra thái cực, thái cực sanh lưỡng nghi, một âm một dương giao nhau sanh ra tứ tượng, ngũ hành rồi sanh ra vạn vật. Nếu suy về lý cùng cực, rốt lại chẳng biết là do tâm hiện ra, mà chỉ nói rằng vô cực thôi. Vì vậy, nếu chỉ thẳng chỗ “thanh tịnh bản nhiên, vân hà hốt sanh sơn hà đại địa?”, thì chắc khó vào. Nên nay phương tiện mượn hai lý vô cực, thái cực sai khác của Nho giáo, để giải thích giúp cho dễ ngộ.
Đây là ngài mượn phương tiện để giảng giải cho nhà Nho hiểu, như Phật nói bản tánh không tịch thì bên Nho gọi là vô cực, chân tâm linh chiếu thì bên Nho gọi là thái cực v.v... Nhưng đó cũng chỉ mới là nói thôi, nếu người thật sự muốn đạt lý tâm tánh thì phải vào cửa thiền tham cứu mới được.
Hỏi: Giáo học của đạo Nho tôi cho bộ Tứ thư là Thánh kinh, nếu thầy không tiếc công xin giải thích một phen.
Đáp: “Đạo Đại học ở chỗ minh minh đức, ở chỗ tân dân, ở chỗ dừng lại nơi chí thiện.”
Giải thích: Đạo đại học của cửa Khổng, chẳng phải là lễ nhạc hay tìm tòi trong sách vở, cũng chẳng rơi vào thái quá và bất cập, mà thường dừng nơi lý trung đạo.
“Tại minh minh đức” nên phân làm hai để giải thích. Chữ minh trên tức là Ngộ, chữ minh dưới tức là Tâm. Chân tâm rỗng rang mà mầu nhiệm, hay chiếu soi mà thường tịch. Đức là diệu dụng của tâm, nó thuần thiện không ác. Tất cả những tam cang, ngũ thường, lễ nhạc, luật pháp, chính trị... đều phát xuất từ đức dụng của diệu minh nhất tâm. Chúng sanh từ vô thủy đến nay, bởi do chạy theo cảnh đuổi theo tình, ô nhiễm quá lâu cho nên trái lại với đức dụng, điên đảo thác loạn che đậy cái bản minh, do đó nên trôi nổi trong sanh tử. Một mai ngộ sáng được bản tâm, mới biết người hiền kẻ ngu không hai. Từ khi ngộ về sau phải làm mới dân, khiến mọi người đều phát minh ra cái diệu minh chân tâm. Hành động thực tiễn này là dừng lại chỗ chí thiện. Như đã nói trên là đốn ngộ, từ đây trở xuống là tu chứng.
“Biết dừng lại rồi sau mới định, có định rồi sau mới có thể tịnh, có tịnh rồi sau mới được an, có an rồi sau mới lự, có lự rồi sau mới đắc.”
Giải thích: Tự biết dừng lại chỗ chí thiện, chí thiện là trung đạo. Nếu là dừng lại ở trung đạo thì tự nhiên lẽ thiện ác không lừa dối mình, như vậy mới có thể bảo là người biết dừng lại rồi sau mới định. Định là tâm chẳng động, sự vật chẳng thể đổi dời. Nếu đến chỗ sự vật không đổi dời thì bản tâm như chiếc gương sáng suốt thanh tịnh, đối với vật mà không nhiễm. Cho nên gọi việc này là có định rồi sau mới tịnh. Tịnh là cái tịnh của bản tâm, chứ chẳng phải là cái tịnh của sự dừng cái động. Chân tịnh hiện tiền thì nơi nơi đều vô ngại. Nếu đến chỗ nơi nơi đều vô ngại thì tự nhiên động lại chẳng loạn. Động lại chẳng loạn gọi là chân an, cho nên nói có tịnh rồi sau mới an. An là an nhàn, trong ngoài nhất như, hồn nhiên yên ổn, xử sự chân thật. Tóm lại những điều trên là định, từ đây sắp xuống có thể gọi là tuệ. Thật vậy nếu định tịnh an được lâu thì chân tuệ tự nhiên phát hiện, cho nên nói an rồi sau mới hay lự. Lự là chân tuệ, sự sự đều vô ngại. Nếu đến chỗ sự sự đều vô ngại thì mới có thể gọi là lự rồi sau mới đắc. Đắc là không chỗ đắc, tức là định tuệ đồng nhau.
“Vật có gốc ngọn, sự có thủy chung. Biết được lẽ trước sau thì gần với đạo.”
Giải thích: Minh minh đức là gốc, làm sáng lý đổi mới dân là ngọn. Biết dừng lại nơi chí thiện là thủy, sau trở về bản tâm là chung. Gốc ngọn thủy chung thứ lớp chẳng sai tự nhiên, gần với đạo Đại Học.
Người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng nơi thiên hạ, trước phải cai trị quốc gia. Muốn cai trị quốc gia, trước hết phải tề gia. Muốn tề gia, trước phải tu thân. Muốn tu thân, trước phải chánh cái tâm. Muốn chánh cái tâm, trước cái ý phải thành thật (thành ý). Muốn cái ý thành thật, trước phải có cái biết thấu đáo (trí tri). Muốn có cái biết thấu đáo, phải tìm cho ra cái nguyên lý của sự vật (cách vật).
Giải thích: Xưa bậc vua chúa ngộ cái gốc mà trị cái ngọn. Người trong thiên hạ nếu trị bằng ngọn (mạt trị), trước cần phải trị nước, muốn trị nước trước phải tề gia. Người học lý nếu muốn tề một nhà, nhất định trước phải tu cái đức dụng của thân ta. Muốn tu cái đức dụng của thân, trước tiên chỉ cần cái tâm cho chân chánh. Tâm vốn không vạy, nhân ý mà phát động, ý niệm điên đảo mắc nơi dối láo. Cho nên nói: “Muốn cái tâm chân chánh, nhất định cái ý trước phải thành thật.”
Thành là thành thật, thích ứng với sự vật không thiên lệch. Muốn thích ứng với sự vật mà không thiên lệch, trước phải có lương tri. Lương tri là tâm mầu sáng (linh minh), như gương soi vật chẳng sanh phân biệt. Nay sự yêu ghét phân biệt là cái sức hư vọng của tình thức, cho nên nói “trí, tri phải ở nơi cách vật”. Vật là tình thức, chẳng phải là vật bên ngoài, Phật nói: “Nếu hay chuyển được vật liền đồng Như Lai.” Kẻ Nho đời sau chẳng ngộ vật vốn là tình thức, lầm nhận cách vật là xét cùng lý của sự vật. Muốn đến chỗ cùng cực kia, không thể đến được. Khá thương vì tìm cầu bên ngoài, nên trở lại bị vật làm mê hoặc.
“Cách vật rồi sau mới trí tri. Trí tri rồi sau mới thành ý. Ý thành rồi tâm mới chánh. Tâm chánh rồi sau mới tu thân. Tu thân rồi sau mới tề gia. Tề gia rồi sau mới trị quốc. Trị quốc rồi sau mới bình thiên hạ.”
Giải thích: Đoạn văn này trở lại bản ý ở trên. Nếu hay chuyển thức thì lương tri tự đến. Lương tri nếu hiện, giống như gương chiếu sự vật, thiện ác rõ ràng chẳng sanh yêu ghét. Tâm yêu ghét chẳng sanh, ý thành thật không lệch. Ý thành thật không lệch thì tâm khởi không vọng, thân đoan trang, tâm chân chánh. Lý tự nhiên mặc tình tạo tác mà đều hợp với đạo cùng cực, cho nên cảm hóa một gia đình đều học hạnh ta, cảm hóa một nước đều nghe lời khuyên của ta, thì tự nhiên người dân trong thiên hạ đều làm người lương thiện. Từ vua chúa cho đến hạng dân đen mỗi mỗi đều lấy việc tu thân làm gốc.
“Cái gốc kia để cho loạn rồi trị cái ngọn, chẳng phải vậy. Chỗ dày mà xem mỏng, chỗ mỏng mà xem dày chưa từng có vậy.” (Sách Đại Học).
Giải thích: Trên từ vua chúa dưới cho đến thứ dân, đều lấy nhất tâm làm căn bản. Chẳng những tâm là gốc của thân, mà cũng là căn bản của việc xuất thế và trị thế. Cái gốc kia nếu loạn thì tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ không thể có vậy.
Hỏi: Đã nghe Thầy giảng sách Đại Học, xin Thầy giảng tiếp sách Trung Dung.
Đáp: “Thiên mệnh gọi là tánh, noi theo tánh gọi là đạo, tu đạo gọi là giáo.”
Giải thích: Lý Trung Dung là tâm pháp của cửa Khổng, chẳng thiên lệch, chẳng dựa nương, chẳng nghiêng, chẳng dừng. Châu Hy chú giải “Tánh dụ cho thiên mệnh”. Thiên mệnh phú cho mỗi người mỗi vật cái lý kia, nhưng mà chưa biết bản tánh là vật gì? Vì lệnh của thiên mệnh đến giao phó cho người vật, lại đem lý của Khổng thánh chú giải thành ngoài tâm có pháp. Châu Hy đâu biết, bản tánh thể nó rỗng suốt như thái hư, không trong không ngoài, chẳng lai chẳng khứ. Tất cả đều do ngay lúc ban đầu không giữ tự tánh, chợt tâm khởi động nên thọ thai ngục. Gốc chỉ một tinh minh, phân làm sáu công dụng, đuổi tình theo cảnh, nổi trôi trong sanh tử. Chúng sanh chẳng thể trở về nguồn, bậc tiên thánh mới chỉ cho con đường tắt, đưa ra thiên mệnh tức là tánh thể. Chữ thiên mệnh, thiên tâm, thiên đạo, thiên lý, tên tuy khác nhưng thể lại đồng, nói tóm lại là tánh lý. Người xưa nói “nơi trời gọi là mệnh, nơi người gọi là tánh”. Thế nên dạy rằng: “Thiên mệnh gọi là tánh.”
Từ nơi mỗi người đều vốn đủ một chân tánh sáng suốt mầu nhiệm, mặc tình thù đáp mà lý vốn đương nhiên. Trong thể dung hòa nhau chẳng rơi vào chênh lệch, việc trong hằng ngày sự lý không ngại. Cho nên nói: “Noi theo tánh gọi là đạo.”
Bởi nhân từ lúc thọ sanh đến nay, trần nhiễm che khuất bản lý, loạn tưởng điên đảo chẳng ngộ tánh thể. Bậc thánh hiền bày giáo nghĩa dạy người trở lại tánh, ngộ lý tu chứng, phản vọng quy chân, để trở về cái lý thiên mệnh xưa nay của mình. Cho nên nói: “Vì tu đạo nên gọi là giáo.”
“Giáo tu nơi đạo, đạo gốc nơi tánh, tánh thể bắt nguồn nơi trời. Bậc thánh nhân biết mệnh và vui với lý trời, đấy là đạo Trung Dung vậy. Đạo không thể một chốc xa lìa, có thể xa lìa được chẳng phải đạo. Cho nên người quân tử cẩn thận, dè dặt nơi chẳng thấy, sợ sệt chỗ chẳng nghe, chẳng xem cái ẩn, chẳng bày cái vi, nên người quân tử nhất định phải cẩn thận chỗ vắng kia.”
Giải thích: Nếu ngộ tánh lý không thể một chốc xa lìa, một chốc chẳng hiện hữu tập khí sẽ hiện trở lại. Cho nên e dè cẩn thận, sợ sệt như đến bên vực sâu. Giữ gìn bản tánh chẳng rơi vào tà vạy, cẩn thận đạo riêng, phải phòng ngừa chỗ ẩn chỗ vi, một tí vừa nảy mầm, hơi máy động chưa phát khởi, giống như sanh mà chưa sanh. Chính lúc ấy tốt nhất là buông liền thì trở về bản lý, công kia coi thế mà rất lớn lao. Nếu đợi cho cái niệm thiện ác phát khởi thì tâm yêu ghét thủ xả một loạt phát dậy. Khi phát dậy rồi trở lại đi hàng phục nó, đâu chẳng phải quá xa rồi ư! Cho nên cẩn thận chỗ vắng, công phu rất nên khẩn yếu. Thế nên nói: “Người quân tử nuôi đạo, phải cẩn thận nơi chỗ vắng kia vậy.”
“Hỷ nộ ai lạc khi chưa phát gọi là trung, khi phát khởi mà bên trong biết tiết chế nó là hòa. Trung là gốc lớn của thiên hạ, hòa là người đạt đạo trong thiên hạ. Trung hòa là ngôi vị của trời đất, là sự dưỡng nuôi của vạn vật.”
Giải thích: Trung chưa phát tức là chân trí. Tịch chiếu không hai, ứng đối với sự vật vô tâm, lại gọi là lương tri, cũng gọi là đạo bổn. Khi hòa đã phát tức là diệu tuệ, hay phân biệt các pháp mà không trụ không nhiễm, gọi là lương năng, cũng gọi là đạt đạo. Lương tri, lương năng gốc ở tại tánh thể. Tánh thể bao trùm cả thái hư và nuôi dưỡng tất cả vạn hữu. Cho nên nói: “Trung hòa là ngôi vị của trời đất, là sự nuôi dưỡng của vạn vật.”
Đoạn này lẽ ra phải giải thích nhiều nhưng tôi không giải thích. Bởi vì ở đây ngài dẫn Đại Học, Trung Dung... mà tôi thì không thông sách Nho lắm, nên tôi chỉ nói đại khái, nếu ai cần nghiên cứu thì xem kỹ lại những bộ này.
Trong sách Đại Học nói “minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”. Ngài giải thích, chữ minh trên tức là Ngộ, chữ minh dưới tức là Tâm. Như vậy, “minh minh” tức là ngộ được tâm. Ngộ được tâm rồi đầy đủ đức, mới có thể chuyển hướng tất cả.
Ở đây chúng ta cần biết, chủ ý của ngài là chuyển tất cả những danh từ Nho sang danh từ Phật, để chỉ thẳng phương pháp tu tâm. Bởi muốn người học Nho không chống đối Phật giáo, thì phải làm sao cho họ không còn thấy có sự khác biệt giữa Nho và Phật, không kẹt vào hình tướng bên ngoài mà có thể dung hòa để tiến tu. Ngài khéo dùng phương tiện giải thích lý trung dung của Nho và lý trung đạo của Phật hợp lý, khiến các nhà Nho rất thích.
Hỏi: Xin nói rõ trở lại về lương tri và lương năng.
Đáp: Lương tri và thức tri công dụng của nó đại khái chẳng đồng nhau. Lương tri vô tâm mà biết, thức tri có ý niệm mà biết. Lương tri biết rành thiện ác mà chẳng trụ thiện ác, thức tri biết thiện biết ác mà trụ thiện ác. Lương tri như gương soi vật, đen trắng tốt xấu phân biệt rõ ràng, nhưng mà không một mảy may bóng dáng lưu lại trong thể của gương. Trái lại, thức tri trên bóng của gương khởi phân biệt, rồi chấp lấy hay bỏ bê, làm chướng ngại bản minh của mình, hợp với vọng trần, phản lại giác ngộ. Lương tri và thức tri phải nên tự phân biệt rành rõ, mảy may nếu sai cách xa ngàn dặm.
Lương năng là tuệ hay phân biệt các pháp, khéo trị thế đạo nhưng không nhiễm thế sự, ứng dụng tự tại muôn sự đều vô ngại.
Lương tri và lương năng, hai danh từ này chúng ta cần chú ý. Ở đây ngài giải thích lương tri khác thức tri. Lương tri vô tâm mà biết, còn thức tri là có ý niệm mà biết. Như trong Duy thức học nói, khi tâm duyên theo cảnh có chia ra hiện lượng, tỷ lượng, phi lượng v.v... Như vậy cho thấy, thức tri tương đương với tỷ lượng, lương tri tương đương với hiện lượng. Vì hiện lượng là biết mà không dụng ý, còn tỷ lượng là biết có dụng ý.
Lương tri biết rành thiện ác mà chẳng trụ thiện ác, thức tri biết thiện biết ác mà trụ nơi thiện ác. Lương tri cũng duyên cảnh thấy biết rành rõ thiện ác, nhưng chẳng trụ thiện ác. Như tôi thường nói, lối tu của chúng ta là thấy người, thấy vật, thấy tất cả cảnh mà không phân biệt, không dính mắc. Thức tri thì thấy cái gì là phân biệt dính mắc vào cái ấy. Trong nhà thiền thường nhắm vào hiện lượng hay lương tri, quở trách cái thức tri hay tỷ lượng, bởi nó là vọng phân biệt. Nếu sống được với lương tri lâu dần trở thành sáng suốt, đó gọi là lương năng. Nên nói: Lương năng là tuệ, hay phân biệt các pháp, khéo trị thế đạo, nhưng không nhiễm thế sự, ứng dụng tự tại, muôn sự đều vô ngại.
Ngài giải thích về lương tri và lương năng rất hay mà lại dễ dàng cho chúng ta trong sự tu tập. Lương tri và thức tri cũng như hiện lượng và tỷ lượng, chúng ta phải khéo nhận, nếu hiểu lệch đi một chút thì sự tu sẽ bị lầm lẫn sai lạc. Ngài nói: Lương tri và thức tri phải nên tự phân biệt rành rõ, mảy may nếu sai cách xa ngàn dặm.
Hỏi: Khổng Tử chủ trương “không không”. Nhan Hồi chủ trương “lũ không”. Chưa biết chủ trương hai loại Không của hai ngài, lý của nó đồng hay khác?
Đáp: Khổng Tử chủ trương “không không”, do không không mà đạt lý không, do đạt lý không mà trở thành không không. Không không tức là như, cái như này tức là Chân như, Chân như tức là bản tánh. Nhan Tử học đạo thánh chưa chứng Chân như, nên chẳng khỏi có niệm. Tuy có niệm động, giác nó liền không, vì vậy nên niệm không khởi lại nữa. Cho nên Khổng thánh gọi Nhan Tử là Hồi, bởi gần với “lũ không”.
Không không của Khổng Tử là Chân như. Lũ không tức là Thường không. Thường không của Nhan Hồi giống như lối tu chúng ta đang áp dụng. Nghĩa là dấy niệm liền biết, biết nó liền không, cứ giữ như vậy gọi là thường không. Do chủ trương Lũ không nên Khổng Tử gọi Nhan Tử là Hồi. Hồi tức là niệm lên liền biết, chiếu soi trở lại thì không.
Hỏi: Khổng Tử nói “Đạo ta lấy lý một mà quán thông tất cả”, chưa biết thế nào là một?
Đáp: Một tức là tánh, tánh tức là lý, lý tức là đạo, đạo tức là một.
Hỏi: Khắc kỷ phục lễ thiên hạ có xoay về nhân chăng?
Đáp: Khắc phục cái tình thức của mình để trở về với thiên lý. Lễ là tiết văn của lý, nhân là đức dụng của tâm. Người hay khắc phục vọng tình để trở về chân, cùng thiên hạ trở về nhân, thể có một.
Hỏi: Kinh Thư nói: “Tâm con người chỉ là sự nguy hiểm. Tâm đạo thì vi diệu, chỉ có sự tinh thuần và chỉ có một. Nên chấp lý trung kia.”
Đáp: Tâm con người sanh diệt chẳng dừng, nên nguy hiểm chẳng an. Tâm đạo hư linh tịch chiếu, nên vi diệu mà khó thấy. Tinh thuần là lẽ mầu trong cái hư, cái một là cái hư trong lẽ mầu. Chấp là chữ chỉ cho sự cố định, trung là tánh thể. Các bậc thánh hiền trong Tam giáo gốc ở một lý, nếu lìa tâm tánh mà nói đều là lời ma cả.
Hỏi: Đạo học của Nhan Tử chẳng khởi cái nộ, chẳng hai lỗi, là thế nào?
Đáp: Nộ là động chứ chẳng phải sân nộ. Tâm học của Nhan Tử là niệm chẳng động, đối với đạo Phật là chẳng có hai niệm nối tiếp, nên nói chẳng khởi. Tâm thường ở chỗ một, ứng sự tiếp vật không thiên lệch, có lỗi liền đổi gọi là chẳng hai.
Nộ là động chứ chẳng phải sân nộ. Tâm học của Nhan Tử là niệm chẳng động, đối với đạo Phật là chẳng có hai niệm nối tiếp, nên nói chẳng khởi. Ngài giảng chữ nộ này thật hay! Lối học của Nhan Hồi là thấy tâm động liền chế phục, vì tâm động là đã sai. Như vậy cái học của Nhan Hồi tương tự cái học của thiền, khi tâm động liền biết chế phục thì tâm thường ở chỗ một, ứng sự tiếp vật không thiên lệch, có lỗi liền đổi, gọi là chẳng hai. Nghĩa là không để cho tâm động, nếu tâm động có lỗi liền cải đổi không cho nó theo niệm, đó là đạo. Nên nói “triêu văn đạo, tịch tử khả hỷ”, sớm thấy đạo chiều chết cũng vui.
Hỏi: Bậc thánh nhân dùng Dịch để rửa tâm, lui ẩn nơi một, là sao?
Đáp: Rửa tâm là lắng vọng, lui ẩn là về chân. Chân vọng đều dứt nên gọi là một.
Hỏi: Không hiểu không biết, thuận phép vua?
Đáp: Chân tánh như gương soi vật mà vô tâm, vừa khởi tri thức liền rơi vào ý thức. Khổng Tử nói “Ta có biết ư! Không biết vậy”. Trong nhà thiền nói “Chẳng hay chẳng biết, là cốt tủy của đạo Phật”.
Hỏi: Ngài Phu Tử ăn cơm hẩm, uống nước trong, co tay làm gối mà nằm, cũng tìm thấy cái vui trong ấy. Chưa biết cái vui chỗ nào?
Đáp: Vui đấy là cái vui chân thật, chứ chẳng phải niềm vui hoan lạc ở đời. Chỗ vui là thiên lý, chỗ biết là thiên mệnh. Vui với thiên lý biết thiên mệnh, không mừng không lo, diệu tánh rõ ràng niềm vui khó nói.
Niềm vui của Khổng Tử là đạt được thiên lý thấy được thiên mệnh, nói theo đạo Phật tức là đạt bản tâm thấy bản tánh, đó là vui. Người đạt đạo sống với niềm vui của chính mình, chứ không phải vui theo hình sắc, âm thanh hay cảnh bên ngoài đem vào. Vui với thiên lý biết thiên mệnh, không mừng không lo. Diệu tánh rõ ràng niềm vui khó nói.
Hỏi: Niềm vui đan biều của Nhan Tử cùng với niềm vui của Khổng thánh có đồng nhau không?
Đáp: Nhan Hồi đắc được đạo của Khổng Tử, được niềm vui không hoan hỷ không lo buồn, lý vốn đồng nhưng mà họ Nhan còn nhiều bảo nhiệm.
Hỏi: Sự chuyên chở của trời cao không thanh âm, không mùi vị?
Đáp: Trong cái không vốn không âm thanh, trong cái rỗng suốt vốn không mùi vị. Tuy không âm thanh, không mùi vị, nhưng mà đạo trời không bị che lấp.
Hỏi: Thầy Tử Lộ hỏi về sự chết, Phu Tử đáp rằng “chưa biết sự sống làm sao biết sự chết”. Lời giải đáp này chưa biết ý như thế nào?
Đáp: Nếu biết buổi sớm thì biết buổi tối, biết lúc khởi đầu thì biết lúc chung cục. Ông nếu trước ngộ diện mục của thuở chưa sanh trở về trước, thì biết chỗ an thân lập mệnh trở về sau, sanh từ đâu lại và chết đi về đâu. Nguồn của thủy chung vốn chỉ có một.
Câu hỏi này có nhiều lời giải thích khác nhau. Như có người nói Khổng Tử thực tế, chỉ nghĩ sự sống chứ không nghĩ tới chuyện chết, cho nên việc giáo hóa của ngài là ngay trong cuộc sống hiện tại. Người khác thì lại cho rằng, Khổng Tử chưa đạt được lý quá khứ vị lai mà chỉ biết hiện tại. Do không biết quá khứ vị lai nên ngài bảo cứ biết sự sống thôi, còn chuyện chết thì không cần biết, vì vậy họ cho Khổng Tử là hạn học, nghĩa là chỉ có cái học của hiện tại chứ không siêu huyền. Đó là ý của những người nghiên cứu.
Theo ngài thì Khổng Tử là người thông suốt lý bản nhiên, có cái nhìn cao xa thấy trước chỗ bất sanh bất diệt. Nếu biết hiện tại rồi thì sau này đâu có gì sợ, cho nên cần phải ngộ chân lý ngay hiện tại, đừng băn khoăn về vị lai. Lối giải thích này hay, khiến cho người sau nhìn về Khổng Tử sâu hơn.
Hỏi: Thế nào là tâm xích tử?
Đáp: Tâm xích tử là tâm thuần nhất không vọng. Xích tử chẳng phải đạo lớn, mà chỉ giữ tâm không phân biệt. Như bậc đại nhân thông đạt, biết tất cả pháp mà không mất tâm xích tử, mới gọi là đạo.
Tâm xích tử là tâm thuần nhất không vọng. Thấy biết tất cả pháp thấu suốt, mà không khởi vọng không phân biệt, đó mới gọi là đạo.
Hỏi: Thầy Nhan Uyên như ngu, thầy Liêm Khê như dốt, thầy Minh Đạo ngồi thẳng, thầy Trọng Tố thích tịnh, cớ sao những vị này có hành động như vậy?
Đáp: Đấy là những người ngộ lý tu đạo và cũng là đường tắt của sự siêu phàm nhập thánh. Hàng Nho sĩ đời sau chẳng quý trọng cửa ngộ, chỉ vụ nơi học nhiều hiểu rộng, đều đem từ bên ngoài bổ trợ vào cho phát khởi, chứ chẳng phải sự dụng công của tâm địa để phát minh ra trí tuệ chân thật. Nay ông hỏi chư tử khá gọi là chân học.
Hỏi: Tôi tuy học nhiều nhưng không thể đốn ngộ, chưa biết phải xem văn thư gì để có thể vào cửa lý?
Đáp: Người chân tham thật ngộ không cuộc ở nơi chữ nghĩa. Những kẻ học nhiều lảu thông sách vở, đường lý giải quá nhiều nên lại làm chướng bản tâm, làm bạn với thức. Như kẻ đếm của báu cho người, rốt lại mình không có nửa phân tiền. Phải thẳng thắn buông bỏ tất cả cái học bên ngoài, đơn độc tham cứu bốn đầu mối, trước khi chưa phát khởi diện mục nó là gì?
Trong lúc động cũng như trong lúc tịnh, thời thời khắc khắc đều theo dõi tham cứu ấy là đạo lý gì? Chỉ giữ một niệm chứ không hai tâm, chẳng tâm suy lường rộng, không dùng tri giải, chẳng dụng tâm đợi ngộ, chẳng dụng tâm hiểu lý, chẳng dụng tâm rơi vào chỗ tịch diệt, không dụng tâm lăng xăng nơi sự lý. Chỉ cần tham cứu chỗ chưa phát khởi trở về trước, lâu ngày chầy tháng thuần nhất không hai. Tâm nghĩ chẳng đến, ý thức chẳng hoạt động, thời tiết nếu đến lý kia tự bày rõ.
Người thật ngộ không hạn cuộc nơi chữ nghĩa, kẻ học nhiều lý giải lắm thì càng chướng bản tâm, chạy theo tình thức. Như cả ngày đếm của báu cho người, lúc về túi rỗng không, đó là tai họa của cái học. Cho nên phải gan dạ, thẳng thắn buông bỏ tất cả những cái học bên ngoài.
Đơn độc tham cứu bốn đầu mối, trước khi chưa phát khởi diện mục nó là gì? Bốn đầu mối là hỷ, nộ, ai, lạc. Tức là tìm chỗ chưa khởi hỷ nộ ai lạc, xem cái ban đầu đó ở đâu, là gì? Trong tất cả thời, động tịnh v.v... đều tham cứu việc này. Chỉ giữ một niệm, lâu ngày chầy tháng thuần nhất không hai. Đến chỗ đó ý thức lặng, cơ duyên thời tiết đầy đủ, lý kia tự hiện.
Thấy hình sắc nghe tiếng tăm, chạm phá lỗ mũi, à lên một tiếng, tro lạnh đậu nổ, tâm địa khai thông, phát minh bản tánh. Về sau mới dạy học dẫn dắt nhân dân, cho đến sắp đặt gia đình hay ra giúp nước, tất cả đâu chẳng phải là diệu dụng của tâm tánh ông?
Tro lạnh đậu nổ, đây là câu nhà thiền thường dùng. Thông thường khi rang đậu lửa cháy đậu mới nổ, nhưng đây ngược lại ở trong tro lạnh mà đậu nổ. Bởi khi tham cứu tu, tâm lặng yên không chút máy động, lúc đó xem như tro lạnh. Bấy giờ bất chợt có một cơ duyên nào đến liền bừng ngộ sáng rỡ, chẳng khác nào như trong tro lạnh mà đậu nổ, đạt đến đó rồi thì làm tất cả đều là diệu dụng.
Hỏi: Bậc thượng căn đốn ngộ một cách trực tiếp rõ ràng, còn kẻ trung căn, hạ căn tập khí sâu dày làm sao bảo dưỡng?
Đáp: Người sau khi ngộ tánh tùy duyên bảo nhiệm, nơm nớp lo sợ như đến bên nhà vua, bên nghiêm phụ. Một lòng chí thành chân kính thì bản tánh chẳng mất. Phải bảo dưỡng như thế lâu ngày tự nhiên thuần thục.
Người sau khi ngộ tánh, tùy duyên bảo nhiệm. Sau khi ngộ rồi cũng phải luôn nhớ gìn giữ y như vậy, còn ngộ rồi cứ thả trôi lao chao theo bên ngoài thì càng ngày sẽ càng lệch đi. Phải nơm nớp lo sợ như đến bên nhà vua, bên nghiêm phụ. Vì sợ mất nên phải giữ, như đi hầu vua hoặc đến gần ông cha rất nghiêm khắc. Một lòng chí thành chân kính, bảo dưỡng như thế lâu ngày tự nhiên thuần thục.
Hỏi: Giả sử một lúc thất niệm, như thế làm sao?
Đáp: Như cái học của Nhan Tử, rồi sau trở về không xa, chỉ khoảng một thoắt tự nhiên trở về lý gốc.
Nếu lỡ thất niệm rồi quên lửng thì phải làm sao? Không sao! Nếu giữ gìn mà lỡ quên, chợt có dấy niệm thì khi ấy cần biết phản chiếu. Phản chiếu thì vọng trở thành không, lúc đó cũng trở về lý gốc không xa. Đó là lối học của Nhan Tử, mà cũng là lối học của nhà thiền.
Chương này tuy nói chuyện với nhà Nho, thấy dường như không có liên hệ gì tới mình, nhưng đây cũng ngầm chỉ việc tu và giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn. Nếu mai chiều gặp mấy vị nhà Nho, dùng những lý lẽ như thế bài bác Phật, chúng ta biết cách để giải thích cho họ thấy, Phật và Nho không hiềm khích đối nghịch nhau, mà còn có sự cảm thông.
CHƯƠNG III
THÍCH ĐẠO BIỆN LUẬN LẼ THIỆT HƠN
Hỏi: Giáo lý của tôi và giáo lý của đạo Phật đại khái chẳng đồng nhau.
Sư hỏi lại: Chẳng đồng chỗ nào?
Đạo sĩ đáp: Đạo Phật tu tánh chẳng tu mạng, đạo tôi dạy tánh mạng song tu.
Sư hỏi: Thế nào là tu tánh, thế nào là tu mạng?
Đạo sĩ đáp: Tu tánh là “Ly cung tập định”, tu mạng là “Thủy phủ cầu huyền”.
Sư hỏi: Thế nào là Ly cung tập định? Thế nào là Thủy phủ cầu huyền?
Đạo sĩ đáp: Ly cung tập định là ngưng tâm chẳng động để giữ thần. Thủy phủ cầu huyền là luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố. Hình và thần đều diệu thì cùng với đạo hợp lẽ chân.
Sư nói: Đạo Phật chỉ tu một bên, chẳng luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố hầu giữ mạng. Ông lại chẳng biết Ly cung tập định và Tâm tức tương y là pháp của hàng Nhị thừa. Luyện tinh nơi thủy phủ hóa khí đi ngược trở lên, thông với huyền quan được hình thể kiên cố, đó là thuật để kéo dài tuổi thọ.
Chương này là biện luận với các vị tu tiên, chúng ta không nghiên cứu về pháp tu tiên nhưng cũng nên biết qua đại khái để rõ pháp nào thuộc về tiên, pháp nào thuộc về Phật, thông suốt không bị lẫn lộn.
Người tu tiên nói, chánh yếu của đạo tiên là tánh mạng song tu, tức là tu tánh và tu mạng. Tu tánh là Ly cung tập định, tu mạng là Thủy phủ cầu huyền. Đạo Phật thì chỉ tu có một bên, tu tánh chẳng tu mạng. Như vậy hai bên có sự khác biệt nhau?
Ngài hỏi để xác định lại chỗ hiểu của họ và sau đó giải thích:
Đạo Phật chỉ tu một bên, nghĩa là tu tánh mà không tu mạng, chẳng luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố hầu giữ mạng, mà chỉ ngưng tâm cho an định. Ly cung tập định là dùng hơi thở để tu luyện cho tâm yên của đạo sĩ, còn Tâm tức tương y là phương pháp tu điều hòa tâm và hơi thở của hàng Nhị thừa. Cả hai lối tu này đều chưa phải là cao.
Thủy phủ cầu huyền tức là luyện tinh hóa khí đi ngược lên trên rồi thông trở xuống cho thân thể kiên cố. Đó chỉ là thuật kéo dài tuổi thọ để sống lâu mà thôi không phải giải thoát.
Phật giáo thượng thừa khi đốn ngộ tâm tánh, thấy sơn hà đại địa, vạn vật thân tâm đều là hình bóng hư huyễn ở trong tánh, nên không cớ gì nương huyễn mà tu bóng. Như vậy há chẳng lầm to ư! Người xưa nói: “Bậc tiên còn trước nơi hình thần, nên chẳng thể xả bỏ.” Hơn nữa hình thần là những vọng tưởng từ chân tánh hiển hiện ra, chẳng phải chân thật. Khá cười cho Đạo giáo, những bậc cao chân xưa nay chẳng ngộ được Chánh giác, lầm hiểu cho là chí lý, mê vọng dùng Tâm tức tương y, cho là tu tánh. Luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố cho là tu mạng. Tất cả là để được hình thần đều diệu. Như vậy cùng với bản tánh quá xa vời!
Đạo tiên cho việc ngưng tâm yên định nương theo hơi thở, gọi đó là tu tánh. Đối với Phật giáo thượng thừa thì coi đó chỉ là tu huyễn chứ không phải tu tánh. Tại sao? Bởi vì theo đạo Phật khi đốn ngộ tâm tánh rồi thì thấy sơn hà đại địa, vạn vật cho đến thân mình v.v... chỉ là hình bóng huyễn hóa mà thôi. Nếu cho cái huyễn hóa đó là tánh thì chẳng khác nào lấy huyễn mà tu bóng. Đó là lầm to!
Người xưa nói: “Bậc tiên còn trước nơi hình thần, nên chẳng thể xả bỏ.” Những người tu tiên còn kẹt chấp nơi hình thần, không thể xả bỏ được, tu như vậy còn cách bản tánh rất xa. Bản tánh trùm khắp, mà cứ y trong hơi thở rồi cho là tu tánh, chuyện đó quá xa vời!
Đạo sĩ nói: Bọn môn đồ của âm ma không thể song tu, mà trở lại vọng báng đạo tôi là Nhị thừa. Ông phải biện cho rõ, tâm tôi mới phục.
Sư nói: Người học đạo tiên, khởi đầu từ chúng sanh. Tuy biết sanh tử là việc quá khổ, nhưng chẳng ngộ được đạo lý Nhất thừa tối thượng. Lầm chấp bề trong của sắc thân, vọng lấy tâm thịt bên trong cho là có một thần tánh gọi là Chân hống, tên khác là Xá nữ, ngưng thần chẳng động, làm như vậy là “Ly cung tập định”. Tinh khí trong thận gọi là Chân công, tên khác là Anh nhi, luyện tinh hóa khí, làm như vậy gọi là Thủy phủ cầu huyền. Cái ý là Chân thổ, lại gọi là Hoàng bà, như phương pháp tập định, cần phải nghiêng về tịnh tọa, dùng ý điều tức, nhiếp thân chẳng cho động, làm như vậy gọi là Phục hổ. Ngưng thần hợp với khí, tâm định chẳng động, làm như vậy gọi là Hàng long. Thân tâm ý hợp là trở về thổ phủ, lặng yên chẳng động gọi là tu tánh.
Người tu tiên cũng biết sống là khổ nên họ mới tu, nhưng vì khi tu không nhận được lý Nhất thừa tối thượng, nên lầm chấp bề trong của sắc thân, vọng lấy trái tim thịt, gọi là nhục đoàn. Cho rằng trong trái tim có một thần tánh gọi là Chân hống, còn gọi là Xá nữ.
Ngưng thần chẳng động, tức là làm cho thần tánh ở trong tim ngưng đọng lại gọi là Ly cung tập định. Tu luyện cho tinh ở trong thận hóa thành hơi xông trở lên, gọi là Thủy phủ cầu huyền. Dùng cái ý suy nghĩ của mình để điều hòa hơi thở cho nó thuần thục, ngưng thần hợp với khí khiến tâm không động được định, gọi là Hàng long. Điều hơi thở cho thân tâm ý hòa hợp lặng yên, cho đó là tu tánh.
Trương Tử Dương nói: “Chân thổ giữ chân công, chân công chế chân hống, công hống quy thổ phủ, thân tâm lặng yên chẳng động.” Đạo gia nhận đấy là “Tâm tức tương y”, dối bảo đạo Phật là thiên tu. Há chẳng hiểu lầm về chí lý tối thượng ư? Đâu không biết rằng, mỗi người vốn có đủ một tâm tánh rộng lớn, bao trùm cả thái hư, chẳng có chẳng không, cũng chẳng bên trong bên ngoài, vốn tự bất động chẳng cần tập định. Vô cớ lại đem cái huyễn thức trong thân, rồi dùng huyễn ngưng huyễn gọi là tu tánh. Thật là kẻ nhận giặc làm con, mà cho là “Chân tánh bổn cụ”. Tóm lại, như vậy nếu tu thành công chẳng lìa Dục giới, một mai định lực hết trở lại đọa xuống hạ giới.
Trương Tử Dương nói: “Chân thổ giữ chân công, chân công chế chân hống. Công hống quy thổ phủ, thân tâm lặng yên chẳng động.” Đạo tiên đặt ra nhiều tên nghe rất đẹp và lạ thường. Chân thổ là ý. Chân công là tinh khí trong thận. Chân hống là thần tánh trong tim. Lấy ý điều khiển khí trong thận, rồi khí đó mới chế phục máu ở tim. Máu trong tim và khí trong thận trở về hợp với ý, lúc đó thân tâm yên định. Phương pháp tu này gọi là Tâm tức tương y, tâm và hơi thở nương nhau. Họ nhận lầm về lý tối thượng như vậy, rồi trở lại chê đạo Phật là tu chỉ có một bên.
Đâu không biết rằng mỗi người vốn có đủ một tâm tánh rộng lớn, bao trùm cả thái hư. Tâm tánh mà đạo Phật nói không phải chỉ thần tánh trong tim, tâm tánh đó chẳng có chẳng không, chẳng trong chẳng ngoài, vốn tự bất động chẳng cần tập định. Định của Phật nói khác định của những người tu tiên. Định của tu tiên là điều hơi thở với tâm nương nhau cho an định, để luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần. Định của đạo Phật là dừng tâm vọng tưởng lại, để sống với chân tánh bao la trùm khắp. Vì vậy định của hai bên tu khác nhau.
Vô cớ lại đem cái huyễn thức trong thân, rồi dùng huyễn ngưng huyễn gọi là tu tánh. Thật là kẻ nhận giặc làm con, mà cho là Chân tánh bổn cụ. Nhận vọng tưởng ở trong tâm mình cho đó là chân tánh, đó là nhận giặc làm con. Cho nên, nếu tu như vậy mà thành công cũng chẳng lìa Dục giới, một mai định lực hết sẽ trở lại cõi trần, chứ không đi tới đâu. Đó là nói đại khái về lối tu Ly cung tập định.
Hỏi: Ly cung tập định Sư đã nói, xin bàn luôn về Thủy phủ cầu huyền?
Đáp: Thủy phủ cầu huyền, tiếc giữ tinh khí, suốt mười hai giờ phản chiếu nơi rún trong một tấc ba phân, gọi là khí hải. Chỉ giữ mà chẳng cho dính mắc, chỉ chiếu mà chẳng trụ. Thân tâm định lâu, cung khảm và cung ly cùng giao nhau, tâm hỏa giáng xuống, thận thủy bay lên, tinh đầy khí tròn.
Thủy phủ cầu huyền, tiếc giữ tinh khí, suốt mười hai giờ phản chiếu nơi rún trong một tấc ba phân, gọi là khí hải. Chữ “trong” này đúng ra là chữ ‘dưới’, nhưng bản Hán ghi là chữ “nội” nên tôi phải dịch là trong. Thủy phủ cầu huyền là tiếc giữ tinh khí ở trong quả thận, suốt mười hai giờ phản chiếu nơi dưới rún một tấc ba phân Tàu, gọi là khí hải, chỗ khác gọi là đơn điền, tức là biển khí.
Chỉ giữ mà chẳng cho dính mắc, chỉ chiếu mà chẳng trụ. Phản chiếu vào khí hải, rồi để cho thân tâm yên định, chẳng cho dính mắc cũng chẳng trụ. Định lâu cung khảm và cung ly cùng giao nhau. Đây là các cung mà đạo tiên hay dùng, gồm có: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Tâm hỏa giáng xuống, thận thủy bay lên, tinh đầy khí tròn. Hơi nóng trong trái tim đẩy xuống, hơi nước trong quả thận xông lên, tinh đầy khí tròn.
Lúc ấy nội thân như lửa, cuối giờ hợi đầu giờ tý khí động nơi vĩ lư, bèn dùng ý hút đưa vào trong giáp tích, thẳng qua ngọc chẩm, trên đến thiên cốc, trở lại hóa thành kim dịch, mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống trùng lâu, rơi nơi huỳnh đình, gọi là Càn khôn giao cấu xong. Một điểm rơi vào huỳnh đình, từ đây điều hòa thông suốt, tứ chi khoan khoái, tất cả hơi thở đều chảy khắp, tươi nhuận tạng phủ, mặt trở lại tươi trẻ như bé thơ, tuổi thọ dài lâu.
Vĩ lư, nghe nói đó là chỗ giáp với xương sống, còn các thầy Đông y thì nói là chỗ xương cùng. Giáp tích là xương sống. Ngọc chẩm là xương ót, chỗ cục gu tròn tròn ở sau đầu. Thiên cốc là đỉnh đầu. Kim dịch là nước có mùi vị thơm ngọt. Trùng lâu còn gọi là hầu lung, tức cổ họng hay yết hầu. Huỳnh đình, chỗ này chắc các thầy thuốc mới biết. Thông thường những người tu tiên ngồi thiền vào khoảng mười hai giờ đêm, để cho khí động từ dưới xương cùng dẫn lên xương sống, thẳng tới xương ót, trở lại hóa thành kim dịch mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống cổ họng, rồi rơi nơi huỳnh đình, họ luyện như vậy gọi là Càn khôn giao cấu xong. Tu luyện đến đây thành công, gọi là cải lão hoàn đồng.
Cổ tiên xưa có kệ rằng:
Pháp thủy năng triều hữu bí quan,
Tiêu diêu nhật dạ khiển luân hoàn,
Vu trung ủng trệ sanh chư bệnh,
Tài quyết thông lưu tiện trú nhan.
Dịch:
Tự cửa mầu nước pháp thường dâng,
Suốt ngày nhàn nhã khiến xoay vần,
Bên trong ngăn trệ muôn ngàn bệnh,
Vừa khơi chảy suốt mặt mày hân.
Ngô Tiên lại nói:
Khí quy nguyên hải thọ vô cùng,
Thử thuật vi kim dịch luyện hình.
Dịch:
Khi về nguyên hải thọ vô cùng,
Thuật này là kim dịch luyện hình.
Đạo tiên cho rằng, con người sở dĩ bệnh hoạn là do nước kim dịch ngưng trệ, nếu khơi cho nó lưu thông không còn đảo chướng nữa, thì mặt mày liền tươi trẻ trở lại. Thuật này gọi là kim dịch luyện thân.
Tập định là Ngọc phù bảo thần, hình và thần đều diệu thì với đạo hợp lý chân. Một mai công quả đầy đủ, tùy phước sâu cạn, nếu người hành rộng rãi thì được thăng thiên cung, người công phu ít thì tạm ở nơi bồng đảo, hoặc trụ nơi động thiên, ở đó ba bốn trăm năm hay hai ba ngàn năm rồi sanh trở lại nhân gian, tích chứa công hạnh, bồi dưỡng phước tuệ, một ngày nào đó công quả sâu dày thượng đế đến gọi, tùy hàng sắp chỗ đứng, tiên quan chẳng đồng. Nếu y đây mà tu thì đồng như trong đạo Phật, đại khái như ở Trịnh Châu vọng cầu cửa Tào, xa càng xa vậy.
Ở Trịnh Châu mà trông vào cửa Tào Châu, từ tỉnh này trông vào tỉnh kia thì xa càng xa. Tu như vậy không có gì giống với đạo Phật hết, mà nói tu giống như đạo Phật, đó là rất lầm.
Xưa tôi ở chùa Phật Quang, do mới vô chùa tu thức khuya dậy sớm không quen, cho nên bị chướng cảm hoài. Lúc đó có ông thầy giáo tu tiên, lâu lâu đi ngang qua chùa ghé vào chơi, nghỉ lại đôi ba ngày. Thấy tôi đau ông nói, tu mà đau thì tu làm chi! Tôi nghe cũng xấu hổ, nghĩ mình tu mà đau hoài, còn họ tu sao không đau sướng quá. Nhưng khi thấy ông ngồi thiền cái đầu lắc lắc, lúc ngủ cái đầu cũng lắc lắc, để luyện cho tinh khí thông suốt thì không bệnh hoạn. Nhìn ông tu kiểu đó nên tôi không học theo.
Chúng ta thấy rõ hai lối tu, Ly cung tập định và Thủy phủ cầu huyền mà người tu tiên gọi là cao, cũng chỉ là thêm sống dai rồi vẫn lẩn quẩn trong tam giới chứ không giải thoát được. Đó là nói về hai pháp tu của đạo tiên.
Hỏi: Tâm tức tương y, ngài nói đấy là pháp của Nhị thừa. Vậy do đâu mà ngài Đạt-ma từ Ấn sang lưu truyền kinh Thai Tức?
Đáp: Tổ sư từ Ấn sang truyền tâm ấn, há lại đem “Tâm tức tương y” làm Nhất thừa tối thượng của Phật ư? Ngài Đạt-ma khi chưa đến Đông độ, phương này đều tu tập Chỉ Quán, nhọc gì từ xa đến lại truyền thai tập? Ấy là trên đầu thêm đầu, hay có thể bảo là trên mỏ thêm cái mỏ nữa.
Bởi ở Trung Hoa này người sơ cơ học đạo chẳng ngộ tâm tánh, chỉ tập tu Chỉ Quán, Tứ thiền Bát định, chẳng chứng Phật tâm. Cho nên Sơ Tổ của ta vượt biển mà đến đây “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Chẳng biết người nào ngụy tạo Thai Tức, giả danh giáo ngoại biệt truyền của Đạt-ma, mê hoặc người sau, làm cho vàng thau không phân biện.
Hỏi: Pháp Thai Tức là ngụy, chẳng phải là pháp thượng thừa của Phật. Ngài nghị luận như vậy có gì làm bằng cứ?
Đáp: Phương pháp Thai Tức giống như trong thai mẹ, mờ mờ mịt mịt, thân tâm lặng yên. Định lâu được thành tựu thì thần cùng khí giao kết lại, luyện thành một hình huyễn, thức thần rong chơi bên ngoài, chớp mắt đi ngàn dặm, ngao du tự tại. Như vậy thì cùng với đạo Nhất thừa của Phật rõ ràng không can hệ.
Người tu tiên cho rằng kinh Thai Tức là pháp tu giáo ngoại biệt truyền do tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền sang, nên họ đem ra để hỏi. Ngài đáp, khi tổ Đạt-ma sang Trung Hoa lúc đó người Trung Hoa đã biết tu Chỉ Quán, như pháp tu hơi thở của ngài Thiên Thai. Như vậy tổ Đạt-ma sang thì ngài phải dạy pháp tu cao siêu hơn, chứ chẳng lẽ chỉ truyền cái đã có sẵn rồi. Cho nên pháp tu ‘Thai tức tương y’ không phải của Tổ, mà do sau này người ta tự viết ra rồi mạo danh Tổ. Phương pháp tu của tổ Đạt-ma là chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, chứ đâu phải đem chuyện tầm thường ra dạy.
Đạo sĩ liền hỏi lại, nếu pháp Thai Tức là ngụy tạo chẳng phải pháp thượng thừa của Phật, vậy lấy gì làm bằng chứng? Ngài nói phương pháp Thai Tức giống như trong thai mẹ, mờ mờ mịt mịt, thân tâm lặng yên. Khi tu định lâu được thành tựu thì thần cùng khí, tức là hơi thở, hai thứ giao kết lại luyện thành hình huyễn, gọi đó là thức thần. Thức thần này rong chơi bên ngoài, chớp mắt đi ngàn dặm, ngao du xóm này, làng kia tự tại. Những pháp tu đó hoàn toàn không can hệ, không giống gì với pháp tu của đạo Phật.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Những người tu học, hiện tại tuy được chín tầng lớp thiền định, nhưng không được lậu tận thành A-la-hán. Tất cả đều do những chấp vọng tưởng sanh tử này, lầm cho là chân thật.” Đâu chẳng biết trong thân huyễn vốn không có tánh mạng, chân tánh mạng của ta không ở trong ngoài, mà bao trùm thái hư, vốn tự nó hiện thành cũng chẳng thêm tu chứng. Tánh thụ của kẻ hậu học, ngộ được tánh mạng này, nên hay hiện vô lượng diệu thân, hay độ vô lượng chúng sanh, hay thành vô lượng trang nghiêm, hay làm vô lượng Phật sự, vô cớ lại đem pháp Thai Tức, lầm nhận là tôn chỉ giáo ngoại biệt truyền. Thật đáng buồn thay! Tự mắt mình chẳng sáng, còn mê hoặc kẻ sơ học thiếu hiểu biết, rồi đi lấy nhỏ làm lớn, tội kia chẳng nhỏ.
Ngài dẫn kinh Lăng-nghiêm làm chứng. “Những người tu học, hiện tại tuy được chứng tầng lớp thiền định, nhưng không được lậu tận thành A-la-hán. Tất cả đều do chấp những vọng tưởng sanh tử này, lầm cho là chân thật.” Người tu tiên chấp thức thần là thật, đó cũng là nhận vọng tưởng sanh tử lầm cho là thật. Nếu chúng ta biết trong thân huyễn vốn không có tánh mạng, nhận được chân tánh không ở trong ngoài mà bao trùm thái hư, vốn tự hiện thành chẳng nhờ tu chứng. Kẻ hậu học nếu ngộ được chân tánh hay pháp thân trùm khắp thì mới hay hiện ra vô lượng hóa thân độ vô lượng chúng sanh, thành tựu vô lượng trang nghiêm làm vô lượng Phật sự, chứ không phải thân do tu luyện ở trong thần thức của mình mà được. Vậy mà lấy cái thần ở trong tâm mình cho đó là tánh, đây là lầm lớn.
Đạo sĩ hỏi: Ngài nói bên trong thân tâm vốn không có tánh mạng, nhưng hiện nay thần ở trong thân, khí hô hấp tới lui, đây chẳng phải là chân tánh chân mạng của ta? Nay đem cái thần khí này cộng với tướng ngưng hợp, rồi cho về khí huyệt kết thành đại đơn, tự nhiên thân nhẹ thần diệu, liền có thể du hành bát cực, trên trời cõi người đều được tự tại lớn. Đây gọi là tánh mạng song tu, là đại đạo chí nhân của thần tiên.
Sư đáp: Thần trong thân là vọng, khí hô hấp là huyễn. Nếu cho huyễn vọng là chân tánh mạng, gom lại tu tập thành công thân hình mầu nhẹ, đi rong trên hư không chớp mắt xa ngàn dặm, sống lâu mấy ngàn vạn năm, ở sâu nơi động trời đất phước, cho là thành thánh nhưng mà chẳng ngộ Chánh giác, quả báo hết trở lại tan vào các cõi.
Người đạo tiên cho là có thần ở trong điều khiển hơi thở ra vô, cùng tất cả các hoạt động, thần chính là chân tánh mạng. Nên nay đem thần khí này cộng với tướng ngưng hợp, cho về khí huyệt kết thành đại đơn, tự nhiên thân nhẹ thần diệu, liền có thể du hành bát cực, trên trời cõi người đều được tự tại. Đây là tánh mạng song tu, là đại đạo của thần tiên.
Sư đáp, ông cho thần ở trong thân điều khiển hơi thở ra vô, cái đó là vọng chứ không phải thần. Khí hô hấp là huyễn, lấy cái thần vọng khí huyễn mà tu làm sao được. Nếu tu tập thành công mà chẳng ngộ Chánh giác, thì có thể ở trong hư không ngao du tự tại, một khi phước hết cũng rơi trở xuống, nên nói quả báo hết trở lại tan vào các cõi.
Hỏi: Sự tu tánh của Phật giáo là thiên về âm mà không dương. Cho dù gom được tu thành kiến tánh, cũng lại là sự trong sạch của ma quỷ.
Đáp: Âm dương quỷ thần là việc không kiếp trở về sau, còn diệu minh chân tánh là lý của không kiếp trở về trước. Nếu đem cái lý trước không kiếp, mà nhận là việc sau không kiếp, người này không những chẳng rõ về âm dương, mà lại còn mê muội điên đảo nhiều vậy.
Sở dĩ có âm dương, có quỷ thần là sau khi trái đất đã thành, chúng sanh đã lập, nếu chưa thành lập thì lấy gì để nói, nên nói là việc không kiếp trở về sau. Còn diệu minh chân tánh là vô lượng vô ức kiếp trở về trước, vô thủy vô chung, không sanh không diệt. Trước không kiếp vẫn có diệu minh chân tánh này, chứ không phải đợi sau này mới có. Nay đem cái lý trước không kiếp, mà nhận là việc sau không kiếp đó là lầm. Hai cái khác xa nhau ngàn dặm, đâu thể đem chuyện âm dương ra mà so sánh, đó là mê muội điên đảo vậy.
Đạo sĩ nói: Phật giáo thiên tu là âm, đạo tôi song tu là dương, trong Đơn Kinh, Tử Thư đều nói, chứ chẳng phải tôi tự bày điều không căn cứ.
Sư đáp: Chủ trương song tu của Đạo gia là ngộ nhận lẽ chân thật. Thức thần ở trong thân là âm trong dương. Tinh khí ở trong thân là dương trong âm. Gom khí hợp thần, thần ngưng khí trụ gọi là Thủ khảm điền ly (giữ quẻ khảm lấp quẻ ly), điểm hóa âm trong dương thành thể khô cứng, luyện thành kim đơn, mười tháng kết thai, chín năm bảo dưỡng, xuất ra đảnh môn ở trên gọi là Dương thần. Tan ra thì thành gió, hợp lại thì thành hình, ngao du thiên hạ, tiêu dao tự tại. Công phu nhiều thì bay lên thiên cung, công phu ít thì ẩn cư nơi bồng đảo. Nếu nương vào đây cho là phải mà chẳng cần tu tam-muội, đến khi quả báo cõi tiên hết, trở lại đọa làm quỷ cõi dưới.
Người xưa nói:
Học đạo chi nhân bất thức chân,
Chỉ vị tùng tiền nhận thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử bản,
Si nhân hoán tác bản lai nhân.
Dịch:
Người học đạo chẳng hiểu lẽ chân,
Bởi do từ trước nhận thức thần.
Vô lượng kiếp nay gốc sanh tử,
Kẻ si nhận đó bản lai nhân.
Phật giáo thượng thừa kiến tánh vô vi, trạm như thái hư, thể đồng pháp giới, chẳng phải âm dương, chẳng ra vào, dẫn nó không trước, dắt nó không sau, đưa nó không lên, đè nó không xuống, từ xưa nó thường sáng, đến nay nó chẳng mê. Tuy không hình tướng mà hay khởi báo thân, hóa thân. Không những chỉ hiện một thân mà có thể hiện trăm ngàn ức thân, độ thoát chúng sanh như hằng sa, thành tựu muôn đức trang nghiêm. Kẻ căn cơ thiển bạc ôm khối nghi ngờ nào thể tín thọ?
Lối tu tiên với tu Phật khác nhau như vậy, tu tiên cũng có diệu dụng, hợp lại thành thần tan ra thành khí, bay đi tự tại thong thả, được sanh lên cõi trời ở động tiên, nhưng rốt cuộc hưởng hết phước rồi cũng rơi trở xuống làm quỷ, tiếp tục trôi lăn trong sanh tử. Lối tu này là luyện ở trong thân mà được, còn tu Phật là nhận ra thể của tất cả chúng sanh đồng một chân tánh. Chân tánh đó không trong không ngoài, không trước không sau, nhận được rồi thì không còn lăn lộn trong sanh tử nữa.
Hỏi: Đạo tôi có nói rằng, tu tánh chẳng tu mạng, muôn kiếp âm linh khó nhập thánh.
Sư đáp: Lý của mạng học đại khái có sai khác, nếu chẳng tham cứu cho sâu sợ e làm lầm người hậu học. Sơn tăng chẳng tiếc lời cùng ông bàn luận chỗ vi tế của nó.
Hai chữ tu mạng có Lý mạng và Khí mạng. Lý mạng có hai nghĩa, khí mạng cũng có hai loại. Tôi trước nói rõ về khí mạng, sau trở lại bàn về lý mạng.
Khí mạng loại một là Cổ bổn khai quan (giữ chặt gốc, mở cửa), thường nghiêng về tịnh tọa, phản chiếu lại huyệt khí hải, giữ cho chân ý chẳng tán, trong lặng chẳng chấp trước, lâu ngày chầy tháng, tinh đầy khí tròn, nội thận như lửa, mau mau kích động, điều hòa cho quân bình hơi thở nơi mũi, mau đề lên cốc đạo, nên dùng ý dẫn nó, gọi là hái thuốc (thái dược). Tiên nói: “Khi can quý sanh phải mau hái, mong xa thường chẳng nổi” (Quý sanh tu cấp thái, vọng viễn bất kham thường).
Đây nói về khí mạng và lý mạng của đạo tu tiên. Khí mạng và lý mạng đều có hai nghĩa. Khí mạng loại một là Cổ bổn khai quan, những vị tu tiên và chính như ngài Thiên Thai cũng có dạy tu cách này. Trụ tâm nơi đơn điền, hay còn gọi là khí hải, hơi thở của mình gốc từ chỗ đó mà ra. Trụ lâu ngày tâm yên, tinh đầy hơi thở tròn, trong thận nóng như lửa xông lên, phải tìm cách làm sao kích động đưa lên cốc đạo, rồi dùng ý dẫn nó, gọi đó là hái thuốc, phải hái gấp cho đúng thời tiết, nếu trễ thì mất đi cơ hội tốt. Lối này trước đã có nói trong Thủy phủ cầu huyền.
Chỉ khoảng một thoáng tinh khí xoay trở lên, từ trong vĩ lư có tiếng lụp bụp, ở giữa qua giáp cốt thẳng thấu ngọc chẩm, ra sức vận lên xông đến đảnh môn, khí kia cuộn xuống dùng mũi dẫn nó, tự nhiên biến thành cam lộ, mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống trùng lâu, rơi vào huỳnh phòng. Đấy gọi là Trữu hậu phi kim tinh, lại còn gọi là Bế nhâm khai đốc mạch (đóng mạch nhâm khai mạch đốc). Từ đây khí nơi đơn điền ấm, thần khí chan hòa, da thịt tươi nhuận, tứ chi sảng khoái, mặt tươi trở lại như trẻ thơ, tuổi thọ dài lâu.
Trong một thoáng rất nhanh tinh khí trở lên, nghe tiếng động ở vĩ lư qua giáp cốt, thẳng lên ngọc chẩm, tuốt trên đảnh môn rồi xoáy trở xuống. Dùng mũi dẫn nó, lưỡi cuốn lên để nơi ổ gà, đón nước cam lồ ở trên rỉ xuống, nuốt xuống nóc giọng, rơi vào huỳnh phòng. Huỳnh phòng là chỗ nào thì tôi chịu thua, không biết.
Lấy đây mà xét, thuật kéo dài sanh mạng này dù cho sống lâu ngàn tuổi, rốt lại rồi cũng tan nát. Chẳng ngộ được tâm tánh trở lại đọa vào các cõi. Nếu bảo thuật này có thể thành thánh là mê hoặc người sau, thật là dối gạt to tát.
Chúng ta bây giờ nghe nói phản lão hoàn đồng nhiều người ham lắm. Nhưng như đây nói, thuật tu này không thể thành thánh mà chỉ là kéo dài sanh mạng thôi. Đó là nói về khí mạng một.
Khí mạng loại hai là Ngưng khí quy căn. Người ở bụng mẹ theo sự hô hấp của mẹ cho đến lúc sanh ra, cắt đứt cuống rún, một điểm khí phàm nương ở đơn điền, giống như một bộ rùa, phun nuốt nguyên khí, một ngày đêm thở tới lui mười ba ngàn năm trăm hơi thở, đều từ miệng mũi tuôn ra ngoài, không thể về gốc mà quy về khí huyệt, nên tuổi thọ chẳng dài, sắc thân chẳng vững chắc. Phải ở chỗ đi đứng ngồi nằm chiếu soi trở lại, và thường nạp vào khí hải. Khi khí trụ thì hình sanh, thần ngưng thì khí trụ. Thần khí kết thành gọi là Dương thần. Lâu ngày xuất hình, rong chơi khắp thiên hạ, tùy công phu sâu cạn mà ngôi vị chẳng đồng. Quả báo hết trở lại thế gian làm người, nếu tạo nghiệp ác sẽ đọa tam đồ. Dối nói đạo này liễu thoát luân hồi, chẳng tu đạo này khó vào thánh vị, chưa khỏi người trí chê cười.
Ngưng khí quy căn tức là ngưng hơi thở trở về cái gốc của nó. Lối tu này dạy khi hít vô nín một chút, khoảng năm ba phút hoặc đếm chừng năm tiếng, mười tiếng, hai chục tiếng... càng lâu càng tốt, để cho hơi trở xuống về nơi khí hải. Khí hải chứa hơi nhiều lần lần bụng to ra, gọi đó là được thánh thai. Người nào được như vậy thì sống lâu, bởi vì đem được hơi thở trở về gốc của nó. Hiện giờ lối tu này rất thịnh hành, người ta cho tu như vậy là liễu thoát sanh tử. Phần này chúng ta cần phải biết rõ để khỏi lầm, tưởng đó là pháp tu của tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền, mà không ngờ đó là pháp tu của ngoại đạo.
Hỏi: Hai môn học về khí mạng, ngài phân biệt quá rõ ràng. Lý mạng có hai nghĩa, xin ngài chỉ rõ luôn.
Đáp: Lý mạng có hai nghĩa là tại triền và xuất triền. Tại triền thì lấy tình làm mạng, xuất triền lấy hư làm mạng. Tại triền khởi động là tán mạng, dứt tình là tu mạng. Xuất triền hợp với hư là chí mạng, lại gọi là phục mạng. Nhà Nho gọi là Thiên mạng, Phật gọi là Pháp giới. Đây là cái học của Đại thừa, có thể bảo là lý trung đạo, nương vào đây mà tu chứng gọi đó là lý mạng. Nếu nương vào khí mạng, chẳng ngộ lý mạng rốt lại thành không, chẳng phải đạo lớn.
Lý mạng có hai nghĩa là tại triền và xuất triền, tức Như Lai tại triền và Như Lai xuất triền. Tại triền là khi còn mê thì lấy tình thức làm mạng, xuất triền thì lấy hư làm mạng. Hư là cái rỗng suốt, là pháp thân. Như vậy phần lý mạng này phù hợp với đạo Phật.
Hỏi: Các bậc thầy trong đạo tiên có nói, người thấy tánh chẳng biết mệnh kia, nên khi cuối cùng về chỗ nào? Chưa rõ biết mệnh là lý hay là khí?
Đáp: Người kiến tánh tự biết thiên mệnh, rốt sau rõ ràng cùng với hư hợp thể. Nho nói: “Cùng lý tận tánh là do tột ở mệnh.” Đạo Phật nói: “Tại triền gọi Như Lai tạng, ra khỏi triền gọi Pháp giới tánh.” Nếu luyện khí mạng rồi thần ngưng khí kết là chỗ về của ta, thì chưa khỏi báo hết trở lại rơi vào các cõi. Nên biết, thiên mệnh mới là lý gốc.
Nói mệnh mà không biết mệnh là thuộc về lý mệnh hay là khí mệnh? Ngài dùng lối đáp để hướng họ trở về lý mệnh.
Hỏi: Một âm một dương gọi là chánh đạo, âm dương cô lẻ vạn vật chẳng sanh, do đâu lại nói không âm không dương. Nếu không âm không dương có khác gì ngoan không?
Đáp: Động là dương, tịnh là âm. Lưỡng nghi, tứ tượng, ngũ hành là việc sau khi phân của thái cực, tánh là lý trước vô cực. Trong thái cực âm dương còn chưa phân, huống là vô cực lại có âm dương hay sao? Ngoan không gọi là vô linh, còn hữu linh thì chẳng phải ngoan, kẻ hậu học chẳng ngộ lầm sanh đoạn kiến. Đạo Phật nói: “Như như chẳng động rõ ràng thường biết.” Đạo Nho nói: “Tịch nhiên chẳng động, có cảm liền thông.” Đạo gia nói: “Thân tâm chẳng động về sau có vô cực chân cơ.” Tam giáo dạy học trò lý kia không hai, nếu ngộ chân không thì rỗng rang mầu nhiệm chẳng mê.
Lưỡng nghi, tứ tượng, ngũ hành là việc sau khi phân của thái cực, còn nói tánh là cái lý trước vô cực. Đạo Phật nói: “Như như chẳng động rõ ràng thường biết”, không phải là ngoan không. Chính những lời đáp này giúp cho chúng ta hiểu sâu về Phật tánh hay Như Lai hơn. Như như chẳng động mà rõ ràng thường biết thì sao nói là ngoan không được. Ngoan không thì không linh. Nếu người tu ngộ tới chỗ đó thì không còn lầm nữa.
Hỏi: Đạo tôi dạy song tu một đời bay bổng, đạo Phật tu một bên chưa khỏi thân hình suy bại. Nếu như đạo thành thì khá, nếu không được như vậy thì trở lại chưa khỏi cái khổ đầu thai dời đổi?
Đáp: Ông chỉ thấy một đời bay bổng, chẳng biết bao kiếp khác gieo trồng bồi đắp. Ông Mã Đơn Dương, Khưu Trường Xuân của Đạo gia ba đời làm bè bạn, mười đời tu hành, một phen ra đời trở lại liền đốn ngộ chánh đạo. Nay thấy kẻ lợi căn một đời đã xong, ấy đều do những kiếp xa xưa tích chứa công hạnh, cho nên giờ đây mới được hiện đời thành chân, chớ chấp một bên mà quyết định nơi hiện đời.
Đoạn này là giải thích một vài phái tu nhỏ nữa để hướng họ về Phật giáo. Trước hết là hỏi, đạo tôi tu được bay bổng, còn như các thầy tu theo đạo Phật, nếu hiện đời thành Phật còn khá, không thành thì đầu thai lại còn chịu khổ nữa, như vậy là thua đạo tiên rồi.
Ngài trả lời, đạo Phật tu đời này chưa xong thì đời sau tiếp tục, vì đã được công đức gần tròn thì sau ra đời liền ngộ có gì phải lo, đâu có mất mà cho rằng đời sau khổ.
Hỏi: Cái học về khí mạng là ngụy không phải chân thật. Theo lời nói này thì mạng thuật kia vô dụng sao?
Đáp: Luyện tinh hóa khí, khí ngưng tụ thì hình sanh, là thuật tu mạng kéo dài tuổi thọ. Nếu y đây để được liễu thoát thì lầm lẫn người sau chẳng nhỏ. Cần phải đốn ngộ tâm tánh mới hay siêu phàm nhập thánh.
Nếu áp dụng lối tu khí mạng của đạo tiên thì sau này không giải thoát, nói giải thoát là dối gạt thôi, muốn giải thoát cần phải đốn ngộ tâm tánh mới được.
Hỏi: “Nê thủy kim đơn, hoàng bạch diệu thuật”, chưa biết lý kia là tà hay chánh?
Đáp: Tiền tài, sắc dục, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ là năm điều căn bản của địa ngục. Năm dục chẳng không, sanh tử chẳng dứt. Người chân thật học đạo phải cắt ân đoạn ái, trì giới minh tâm mới có thể chứng lý. Không biết, lại dùng “mỹ nữ thái chiến”, tổn người bổ mình, không chỉ đại tán lương tâm, mà ngày kia khó thoát khỏi hỏa ngục. Phật nói: “Tham dâm chúng sanh, ác nghiệp càng nhiều, báo nhỏ thì mắc nhiều bệnh hoạn, báo lớn thì nằm giường hỏa.”
Lại có một bọn mang nghiệp si quá lắm, tham tài thủ lợi “thiêu mao luyện hống”. Có người hỏi tại sao vậy? Đáp là học đạo. Người xưa muốn bỏ lòng tham, còn đem tiền của bỏ xuống biển. Nay trở lại dùng chì, thiếc bảo đó là tu hành. Thật là quỷ quyệt, kỳ lạ. Khá tiếc cho bọn tham tài hiếu sắc tự nhảy vào con đường khổ của tam đồ.
Đây là lối lấy dục và lòng ham tài mà tu. Như gần đây chúng ta nghe, ở Bà Rịa có ông thầy được gọi là ông đạo vuốt vừa bị bắt, ông dạy tu lối “nê thủy kim đơn, hoàng bạch diệu thuật”, tức lấy dục làm pháp tu, giết mấy người nữ để tu luyện. “Thiêu mao luyện hống” là dùng lối tu dùng chì thiếc để luyện thành vàng, còn gọi là luyện sắt thành vàng. Họ cho đó là học đạo, là tu hành. Tu cái gì mà kỳ khôi vậy, đây là lối tu bậy bạ nhất, cho nên ngài quở những kiểu tu hành lạ lùng và dùng phương tiện nói cho hiểu chỗ sai lầm đó.
Hỏi: Đại thánh Lão Tử hóa làm người Ấn thành Phật. Há chẳng biết Thích-ca là đồ đệ của Lão Tử ư?
Đáp: Phật đản sanh vào năm Giáp Dần đời Châu Chiêu Vương năm thứ mười bảy, tịch vào năm Nhâm Thân vào đời Mục Vương năm thứ mười ba. Trải qua vua Cung, vua Ý, vua Hiếu, vua Di, vua Lệ, vua Tuyên, vua U, vua Bình, vua Hoàn, vua Trang, vua Hy, vua Huệ, vua Nhượng, vua Hạng, vua Khuông, vua Định, cộng cả thảy mười sáu đời. Phật diệt độ sau ba trăm bốn mươi năm (340), nhằm đời vua Định Vương năm thứ mười ba mới sanh Lão Tử. Trải qua thời các cao tăng vượt lưu sa, Phật pháp trùm khắp cõi xa, mở mang khắp năm xứ Ấn Độ và những nước lân cận. Thiên hạ nghe Phật pháp đã quá hơn năm trăm năm (500), dối tạo ra Lão Tử hóa người Ấn thành Phật, đấy là vào đời Tấn Huệ Đế, do Vương Phù ngụy tạo. Ấy là hành động khi dối thánh hiền, tự vào địa ngục rút lưỡi, tội kia làm sao cứu được?
Đạo sĩ nói: Đời vua Định Vương năm thứ ba là sanh Lão Tử hậu thiên, còn Lão Tử tiên thiên thì hóa ra người Ấn thành Phật là thật có.
Sư đáp: Lúc hỗn độn chưa phân, nguyên khí tự nhiên mập mờ khó biết, tự nhiên nguyên khí này là tiên thiên. Khi thái cực đã chia, thiên địa mới phân, muôn vật phát sinh gọi đó là hậu thiên. Tiên thiên vốn không hình, hậu thiên mới có tượng. Phật sanh vào đời vua Chiêu Vương cách sự khai mở của trời đất quá xa, thế nào cái vô hình của tiên thiên lại đi giáo hóa cái hữu tượng của hậu thiên? Thật là lời nói không có lập trường vững, người nghe không khỏi bịt mũi.
Đoạn này là nói về việc Lão Tử hóa làm Phật, phần này ngài giải thích rõ rồi chúng ta không cần giải thích thêm nữa.
Hỏi: Ngài nói giáo lý của tôi môn khí mạng là ngoại thuật, tâm tức tương y là Nhị thừa, vậy còn có lý Đại thừa có thể tu không?
Đáp: Có lý nên tu.
Hỏi: Xin chỉ bày lý nên tu kia.
Đáp: Y vào Đạo Đức kinh và Thanh Tịnh kinh mà tu thì không lỗi.
Hỏi: Có mấy tên khác nhau làm cho kẻ hậu học lầm hội. Xin thầy từ bi chỉ cho kẻ chưa ngộ.
Đáp: Có nghi nên đến hỏi, ta tiếc gì mà chẳng chỉ bày cho ông.
Hỏi: Xin thầy chỉ bày cái Cốc thần bất tử đó, gọi là Huyền tẫn như thế nào?
Đáp: Cốc là hư, thần là linh. Hư linh chẳng muội gọi là bất tử. Huyền tẫn tức là linh cơ, linh cơ tức là chân tâm.
Hỏi: Thế nào là Huyền quang nhất khiếu?
Đáp: Niệm chưa khởi, cửa tâm chưa nảy mầm gọi là huyền quan. Mầu trong rỗng suốt, diệu trong lặng lẽ gọi là nhất khiếu.
Hỏi: Thế nào là Thủ khảm điền ly?
Đáp: Bỏ vọng là thủ khảm, trở về tâm là điền ly.
Hỏi: Thế nào là Trừu công thiên hống?
Đáp: Dứt tình là trừu công, vô tâm tức là thiên hống.
Hỏi: Thế nào là an lự?
Đáp: Chẳng ở trong chẳng ở ngoài.
Hỏi: Thế nào là lập đảnh?
Đáp: Chẳng tức là tâm, chẳng lìa tâm.
Hỏi: Thế nào là kim đơn?
Đáp: Tròn rở rở, suốt xưa thường sáng. Sáng suốt rõ ràng mà đến nay cũng chẳng mê.
Hỏi: Thế nào là nguyên tinh?
Đáp: Diệu minh chân tinh, ứng hiện sáu công dụng.
Hỏi: Thế nào là nguyên khí?
Đáp: Một tâm không vọng, hơi đức thấm nhuần nơi thân.
Hỏi: Thế nào là nguyên thần?
Đáp: Ẩn hiện khó lường, ứng dụng không ngăn.
Hỏi: Thế nào là hỏa hầu?
Đáp: Một niệm muôn năm, muôn năm một niệm.
Hỏi: Thế nào gọi là ôn dưỡng?
Đáp: Phản chiếu xét tâm chẳng hôn trầm chẳng tán loạn.
Hỏi: Thế nào gọi là hàng long?
Đáp: Tâm sanh chẳng cho sanh tiếp, giả dụ là hàng long.
Hỏi: Thế nào gọi phục hổ?
Đáp: Dứt tình về tánh, tên khác là phục hổ.
Hỏi: Thế nào gọi động tịnh?
Đáp: Vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm.
Hỏi: Thế nào gọi là thủy hỏa?
Đáp: Định là thủy, tuệ là hỏa, bình đẳng không hai là thủy hỏa.
Hỏi: Thế nào gọi là chân chủng?
Đáp: Ứng vật linh cơ là chân chủng.
Hỏi: Thế nào là thuần dương?
Đáp: Một niệm chẳng sanh muôn duyên lặng lẽ.
Hỏi: Thế nào là thuần âm?
Đáp: Vọng tâm điên đảo sanh diệt không dừng.
Hỏi: Thế nào là mộc dục?
Đáp: Tâm trong sạch sảng khoái là mộc dục.
Hỏi: Thế nào là thoát thai?
Đáp: Linh quang độc diệu, quýnh thoát căn trần.
Hỏi: Thế nào là hoàn hư?
Đáp: Người và pháp đều hết, vật và ngã nhất như.
Hỏi: Thế nào gọi liễu đương?
Đáp: Chân như ra khỏi triền, pháp giới thanh tịnh.
Đạo sĩ hỏi: Người mới nhập môn, hạ thủ công phu như thế nào?
Đáp: Ngộ trước rồi tu sau.
Hỏi: Thế nào ngộ trước tu sau?
Đáp: Đem tất cả năng và sở hằng ngày, cùng tất cả những tri kiến thiện ác đều để ngoài tâm, chẳng giữ một chỗ nào cả, rồi riêng tham cứu câu “Cửa huyền ở chỗ nào?” Suốt cả mười hai giờ cứu xét cho sâu cái nghi tham này, xem một cửa khiếu này là mặt mũi gì? Khi chân nghi hiện tiền thì thân tâm chỉ còn một cái không, duy chỉ có tham cứu nhất niệm. Trở lại đem nhất niệm này phá nát ra. Lúc ấy chân tánh sáng rỡ, huyền quan hiển hiện. Về sau tùy duyên giữ gìn, trừ sạch tất cả dòng nhỏ nhiệm trôi chảy. Lúc bấy giờ tự đợi cùng hư thể nhập một, mới là trước sau rõ ràng ổn thỏa.
Hỏi: Bậc thượng căn đốn ngộ, liền đó rõ ràng. Người căn cơ bậc trung bậc hạ, tập nghiệp từ trước quá nặng, dù được đốn ngộ, nhưng mà không thể đốn chứng được. Vậy có phương tiện gì mượn để bảo dưỡng?
Đáp: Người ngộ lý nên tùy duyên giữ gìn. Suốt mười hai giờ trong lúc động tịnh, ngoài chẳng trụ có, trong chẳng giữ không thì một tâm bình thản lặng lẽ tự hết. Nếu chợt có niệm sanh, niệm sau chẳng tiếp tục. Bậc cổ tiên nói: “Thần một phen đi liền thu trở lại. Thần trở lại trong thân khí tự nhiên hồi về. Sớm sớm chiều chiều hành như vậy thì tự nhiên xích tử kết nơi thai mầu.” Xích tử thai mầu ở đây chẳng phải thật có thai, mà nói cái tâm thuần chân như con đỏ, lại cũng không có tưởng bên ngoài.
Hỏi: Giữ tâm xích tử có thể gọi là đạo chăng?
Đáp: Tâm xích tử chẳng phải là đạo, nên tự giữ chẳng phân biệt. Tâm nếu chứng được tâm xích tử, cũng chớ giữ tâm xích tử. Lại phải chuyển vị mới là phương cách lớn.
Nếu bên đạo Lão y Đạo Đức kinh và Thanh Tịnh kinh mà tu thì không sao, còn lấy các quyển sách khác mà tu thì đó là tà. Kế tiếp là ngài chỉ về chân tâm, Phật tánh rất cặn kẽ. Tất cả những danh từ của Lão, ngài đều quy về danh từ Phật. Ngài chỉ dạy pháp tu dùng câu thoại đầu, để hướng cho họ trở về tâm tánh.
Hỏi: Thế nào phương cách lớn?
Đáp: Tịnh như cốc thần, động như mây bay, co duỗi không dấu vết, hiện ra hay lặng xuống cũng không tung tích. Chẳng mang áo quý quyền, mặc áo nhơ, đi trong phi đạo để thành tựu chí đạo. Tùy loài dạy dỗ, cứu khắp hàm linh, tự đợi phúc và tuệ đều đủ cả hai, mới chứng Đại Giác Kim Tiên.
Phần nhiều người tu tiên đạt đạo thì tiêu dao tự tại, vì muốn chuyển họ cho nên ngài mới nói phải chuyển vị mới là phương cách lớn. Phương cách lớn là gì? Khi tu được tâm an vui tự tại rồi thì lúc đó phải chẳng mang áo quý quyền, mặc áo nhơ, đi trong phi đạo để thành tựu chí đạo. Cởi bỏ chiếc áo quyền quý, mặc áo nhơ vào. Nghĩa là bỏ cảnh tịnh mà sống với cảnh động, đi trong phi đạo nhập thế cứu độ chúng sanh, giáo hóa mọi người biết tu đạo. Khi nào định tuệ cả hai đều đủ, lúc đó mới được gọi là Đại Giác Kim Tiên, tức là Phật. Tiên mà chuyển thành Phật, đó là điểm đặc biệt của ngài. Như vậy trong ba phần đã học qua, từ kẻ thế tục cho đến Nho đạo, ngài đều chuyển về Phật. Đây là lối nói dùng phương tiện cho nên chúng ta đừng chấp lời, mà phải hiểu được ý chỉ thâm sâu trong đó. Từ đây trở về sau thuần nói về đạo Phật.
CHƯƠNG IV
ĐỐN NGỘ TU CHỨNG
Tăng hỏi: Thế nào là tông?
Sư đáp: Muôn pháp đều quy về tông. Tông tức là tâm. Tâm này rỗng suốt mà mầu nhiệm, dung thông rộng lớn, vô trụ vô vi, không tu không chứng.
Phần này nói về đốn ngộ tu chứng, chỉ thẳng lối tu của Thiền tông, lập tông làm giáo.
Thế nào là tông? Muôn pháp đều quy về tông. Tất cả pháp đều trở về tâm, nên nói vạn pháp duy tâm. Tông tức là tâm, chứ không gì khác. Tâm này rỗng suốt vô trụ vô vi.
Kinh nói: “Phật nói lấy tâm làm tông, lấy cửa Không làm cửa pháp.” Từ Ấn Độ đến Trung Hoa, xưa nay chư Phật đã trao tay nhau, chư tổ truyền thụ nhau, chỉ một tâm này lập làm tông thể. Thể này thanh tịnh vốn tự tròn sáng, theo dòng đời chẳng nhiễm ô, ngược dòng trở lại cũng chẳng tịnh, ở trong phàm chẳng giảm bớt, nơi thánh chẳng tăng thêm.
Tông thể tức là chủ thể của Phật giáo. Đó là chỉ thẳng cho chúng ta thấy tâm.
Thể này thanh tịnh vốn tự tròn sáng. Chúng ta phần nhiều mắc kẹt ở chữ nghĩa, nghe nói thể đó tròn sáng thì liền tưởng nó là vòng tròn sáng ngời. Nhiều người ngồi thiền có chút công phu thấy ánh sáng hiện ra, rồi tưởng thấy được tâm mình, đó là sai lầm, thật là nguy hiểm. Chỗ này diễn tả không được, cố diễn tả cũng không làm sao diễn tả được cho người hiểu, cho nên nếu bám vào những chữ đó tức là bị kẹt.
Theo dòng đời chẳng nhiễm ô, ngược dòng trở lại cũng chẳng tịnh. Tâm này luôn thanh tịnh, dù lăn lộn trong thế tục, theo dòng đời bao nhiêu năm cũng vậy, nó chẳng nhiễm, không dính dáng gì với thế tục. Khi ngược dòng trở lại tu cũng chẳng tịnh.
Ở trong phàm chẳng giảm bớt, nơi thánh chẳng tăng thêm. Thể thanh tịnh này không tăng không giảm, không nhiễm không tịnh. Vì vậy trong kinh Bát-nhã dùng bao nhiêu chữ Vô, đều cốt diễn tả tâm tánh bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm... Chúng ta nghe nói Không thì tưởng có cái tánh Không, mà không ngờ chính cái không đó là chỉ cho tánh thanh tịnh sẵn có của chính mình.
Ở trong các loài tuy khác mà tâm kia chẳng hai, trí tuệ soi nó thì quang minh hiện. Phiền não che nó thì diệu thể ẩn. Nếu lìa tâm này mà tu cái gì khác, rốt lại chỉ thành tà ma ngoại đạo.
Người nào dùng trí tuệ chiếu soi thì ánh sáng hiện, còn để phiền não che đậy thì thể mầu nhiệm liền bị ẩn mất. Đây là chỉ thẳng, người tu phải đốn ngộ tâm mình mới thoát khỏi sanh tử. Nếu rời tâm này mà tu cũng chỉ thành tà ma ngoại đạo, lẩn quẩn trong sanh tử mà thôi.
Đó là ngài giải thích về tâm, đến phần giải thích về giáo.
Tăng hỏi: Thế nào là giáo?
Sư đáp: Chư Phật thuyết pháp, phương tiện mở ra ba thừa, năm tánh. Bồ-tát tạo luận, phát minh ra muôn pháp chỉ một tâm. Người học đời sau nhân giải bày mà được yếu chỉ, đoạn hoặc về chân. Kẻ sơ cơ được thỏ quên dò, gia công tu tập để chứng lý.
Giáo là kinh luận của Phật tổ diễn bày đủ cách, để cho chúng ta nương nơi đó mà ngộ được tâm. Khi nương giáo ngộ được tâm rồi thì sao? Được cá quên nơm, được thỏ quên dò bẫy. Nghĩa là đừng mắc kẹt. Chúng ta mỗi ngày cứ lấy kinh Phật ra đọc một thời, hai thời... rồi cho đó là công phu, là quên dò chưa? Như vậy chứng tỏ chúng ta chưa được thỏ. Bởi chưa được thỏ cho nên phải lấy bẫy giò làm mục tiêu, tuy là dở mà cũng còn hay hơn, chứ sự thật nếu được thỏ rồi thì phải quên dò bẫy. Chúng ta thấy các bậc tu hành xưa, dường như không tu gì hết, mà chính đó là chỗ siêu xuất của các ngài. Có một ít người còn rất phàm tục, nhưng cũng bắt chước không tu, đó là không được thỏ mà bỏ luôn cả dò bẫy nữa, như vậy là quá dở! Kinh luận là phương tiện chỉ cho mình ngộ tâm, nếu ngộ tâm rồi mà cứ ôm kinh luận học hoài thì cũng là trong vòng lẩn quẩn. Cho nên các vị thiền sư nói năng dường như không dính dáng gì với kinh điển, mà rốt cuộc đều là kinh điển.
Hỏi: Hai môn Tông, Giáo lý nó là đồng hay biệt?
Đáp: Tông tức là giáo không chữ, Giáo tức là tông có chữ.
Tông là chỉ thẳng tâm không lời, không chữ. Giáo tức là tâm được viết thành lời thành chữ, nương nơi đó mà hiểu. Một có chữ và một không chữ, nói một không được, nói hai cũng không được. Vì cái có chữ là để trở về cái không chữ, cho nên không hai mà cũng không một.
Hỏi: Hai môn Tông, Giáo lý kia vốn một, vậy do đâu lại nói giáo ngoại biệt truyền?
Đáp: Giáo nhờ ngôn ngữ văn tự mới có thể hiểu lẽ mầu. Tông lìa ngôn ngữ văn tự, đốn ngộ nhất tâm, nên nói “Giáo ngoại biệt truyền”, lại gọi là “Tông chỉ hướng thượng”.
Căn cứ vào ngôn ngữ văn tự để hiểu được tâm, gọi đó là Giáo. Một khi đã ngộ nhất tâm thì không còn dùng ngôn ngữ văn tự nữa, nên nói “Giáo ngoại biệt truyền”, tức là lìa ngoài ngôn ngữ văn tự mà ngộ tâm, hay còn gọi là “Tông chỉ hướng thượng”. Tôi nói khác, giáo là chân lý chết, tông là chân lý sống. Tại sao? Vì những hình thức của giáo là chữ nghĩa khô cằn, đã bị đóng cứng ở trong kinh sách. Tông tức là tâm, tâm là cái sống động linh hoạt, chứ không phải khuôn mẫu khô cằn.
Hỏi: Vậy sao nói sự truyền thụ có sâu cạn?
Đáp: Sâu cạn là do người, lý vốn không hai.
Hỏi: Thế nào là lý không hai?
Đáp: Nghe giáo hiểu lý phải gia công tu chứng, tự hiệp với đạo vô vi. Tông môn đốn ngộ ắt phải mượn viên tu, mới trở lại bản tâm tịch chiếu.
Tăng hỏi: Kinh nói “phương tiện có nhiều cửa, trở lại nguồn tánh không hai”. Chưa biết cửa nào là cửa liễu thoát thẳng?
Sư đáp: Có hai nhân trong ngoài có thể liễu thoát thẳng.
Tăng nói: Xin Thầy chỉ thẳng hai nhân trong ngoài ấy?
Đáp: Nhân bên ngoài là phải đoạn dâm dục, sát sanh và trộm cắp. Nhân bên trong cốt yếu phải minh tâm kiến tánh.
Ba việc dâm dục, sát sanh và trộm cắp là nhân bên ngoài. Rõ tâm thấy được tánh là nhân bên trong. Hai nhân này sung mãn, nhất định thẳng tới giải thoát.
Hỏi: Cớ sao nhân bên ngoài phải đoạn dâm dục, sát sanh và trộm cắp?
Đáp: Chúng sanh do ý tưởng dâm dục, nên bị cột trói trong sanh tử. Sát sanh thì phải lần lượt thường mạng trả vay, nên có luân hồi. Trộm cắp thì phải trả lại cái lợi xưa, nên phải tái lai. Ba thứ nhân này nếu trừ thì dòng luân hồi vĩnh viễn cắt đứt, không tiếp tục nữa.
Dâm dục là cội gốc sanh tử. Giết người, giết vật, sau phải thường mạng nên có luân hồi. Trộm cắp thì phải trả lại cái lợi xưa, lấy của người bao nhiêu, sau phải đền lại, nên phải tái sanh. Như vậy, ba việc này đều là gốc của tái sanh, mà đã là gốc của sự tái sanh thì không thể nào có giải thoát. Muốn cắt đứt luân hồi thì phải dứt ba cái nhân bên ngoài đó, nếu còn thiếu một nhân cũng chưa giải thoát. Cho nên tôi không chấp nhận lối tân tăng của Nhật Bản, bởi vì dù cho nói thiền hay mấy, nhưng còn mắc một cái nhân bên ngoài, cũng khó giải thoát.
Hỏi: Nhân bên trong là minh tâm kiến tánh như thế nào?
Đáp: Minh tâm là rõ tâm vốn tịnh. Kiến tánh là thấy tánh vốn không.
Hỏi: Thế nào là rõ tâm vốn tịnh?
Đáp: Tâm ở đây chẳng phải là trái tim máu thịt ở trong sắc thân. Tâm này cũng chẳng phải là vọng tâm sanh diệt, vuông chừng gang tấc ở bên trong. Trái lại, tâm này biến khắp pháp giới, thấu suốt mười phương, vượt ra ngoài đối đãi, dứt các hý luận, chẳng diệt chẳng sanh, chẳng có chẳng không, mà rỗng suốt mầu nhiệm chẳng mê, ứng vật tròn đầy khéo léo, cuốn lại hay buông ra đều chẳng ngại, ra vào ngang dọc, tùy duyên mà chẳng biến đổi. Đấy là chân tâm thường trụ.
Cho nên chư Phật quá khứ đều chứng tâm này, hiện tại chư Bồ-tát đồng học tâm này, người học vị lai đều sáng tâm này. Chúng sanh ở trong mê là mê tâm này, hành nhân phát ngộ là ngộ tâm này. Một đại tạng giáo chỉ làm hiển bày tâm này, hàng thiện tri thức xưa nay đều khai thị tâm này. Tâm này quá linh diệu khó đem ra mà nói cho hết, chỉ lược nêu ra một hai để người sau tin ngộ.
Thấy rõ tâm vốn thanh tịnh là minh tâm. Thấy tánh rỗng không, không có hình tướng là kiến tánh.
Chúng ta đừng nghe nói chân tâm, rồi cho rằng chân tâm ở trong thân mình là rất lầm lẫn. Phải biết chân tâm biến khắp pháp giới, vì vậy mà nói là con mắt của Sa-môn trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, ở đâu cũng có. Chính chỗ này bao nhiêu kinh điển Đại thừa đều nhằm chỉ cho thấy. Nó không tướng không hình, nên nói là không; nhưng linh minh sáng suốt trùm khắp mười phương, nên không phải là không.
Kinh điển hay thiện tri thức cũng đều cốt chỉ cho mình thấy được cái đó, nhận ra cái đó. Nếu chưa biết thì cần phải tìm học, còn người đã biết tâm rồi thì khỏi phải học. Như có vị thiền sư tới một thiền hội, cứ ăn ngủ hoài. Tri sự thấy vị này không tu hành gì hết, nên mới đến báo với Hòa thượng. Hòa thượng đi xuống cầm gậy gõ giường kêu dậy, nói:
- Ở đây không có cơm dư để nuôi ông.
Vị tăng liền hỏi:
- Hòa thượng dạy con làm gì?
Hòa thượng bảo:
- Sao không tham thiền học đạo?
- Món ăn ngon không cần đối với người bụng no.
Sở dĩ chúng ta thấy thèm món này, muốn món kia là vì bụng đói. Người đã ăn no rồi thì dù có ai đem món gì tới cũng cứ nằm ngủ. Sự thật là như thế. Nhưng nói thì nói vậy, chứ nhận ra rồi còn phải bảo dưỡng nữa, nếu cứ ngủ hoài thì cái đó cũng mất trở lại.
Hỏi: Thế nào là thấy tánh vốn không?
Đáp: Chân như tự tánh xưa nay vốn là không tịch, không hình không tướng, lặng trong như thái hư, chẳng động chẳng lay, ngưng nhiên thường trụ, gọi là “Bản lai diện mục”, lại gọi là “Vô vị chân nhân”. Tất cả sơn hà đại địa, cỏ cây rừng bụi, sum la vạn tượng, các pháp nhiễm tịnh, đều từ trong tánh này mà lưu xuất.
Tên gọi tuy khác nhưng đều chỉ cho cái đó. Khi nhận được chỗ này rồi thì thấy cả vũ trụ không có nghĩa lý gì hết, tất cả chỉ là một trò ảo mộng, cho nên các vị thiền sư ăn to nói lớn là vậy. Chúng ta chưa nhận ra nên chợt nhớ chợt quên, lúc nhớ thì thấy mọi việc tầm thường, nhưng khi quên cái gì cũng thành quan trọng.
Lối tu của Phật giáo không giống với lối tu tiên. Tu tiên là cốt giữ cho thân thể khỏe mạnh, được cải lão hoàn đồng, biết bay... nhưng rốt rồi cũng ở trong vòng lẩn quẩn. Lối tu Phật là nhận ra được cái bất sanh bất diệt, trước khi thế giới chưa có nó đã có, sau khi thế giới hoại nó vẫn còn, cái đó trùm khắp không đâu không có. Nhận được rồi thì công dụng như hằng sa, khắp mười phương cõi. Tại sao lớn quá vậy? Vì không hình tướng. Tuy không hình tướng mà linh minh trùm khắp, chứ không phải không hình tướng như hư không.
Tất cả các pháp đều từ tánh mình mà lưu xuất, không có cái gì ngoài mình. Chúng ta còn nhiễm là vì chưa nhận ra cái đó, hoặc nhận nhưng còn yếu nên chợt tỉnh chợt mê. Khi nào đi đứng nằm ngồi đều thấy nó sờ sờ, trùm cả pháp giới không cân không lường nổi, chừng đó mới có thể mở miệng ăn to nói lớn được.
Hỏi: Bản tánh và chân tâm là một hay hai?
Đáp: Chẳng phải một cũng chẳng phải hai.
Hỏi: Thế nào chẳng phải một, chẳng phải hai?
Đáp: Bản tánh là thể, chân tâm là dụng. Bản tánh như gương, chân tâm như ánh sáng. Ánh sáng chẳng lìa gương, gương chẳng lìa ánh sáng. Cổ đức nói: “Tánh thì sáng mà mầu, ngưng đọng mà lặng trong, giống như thể của gương. Tâm thì từ mầu khởi sáng viên dung chiếu liễu, như ánh sáng của gương.” Ánh sáng và gương phân làm hai, nên chẳng phải một. Ánh sáng và gương vốn một nên chẳng phải hai.
Hai và một viên thông, nói một không được mà nói hai cũng không được. Chừng nào chúng ta đến được chỗ không một mà cũng không hai, nhận ra tâm thể bất sanh bất diệt, trùm khắp mười phương cõi, thì lúc đó thấy thân sáu bảy chục ký này không có gì quan trọng, nó không thật, không phải là mình, như hạt bụi ở trong hư không, dù còn hay mất cũng không nghĩa lý gì hết.
Đoạn này ngài chỉ thẳng tâm tánh, người sáng trí thấy rõ không nghi ngờ, còn người tối tăm thì cố gắng, từ từ cũng sẽ biết được bản tâm của chính mình.
Hỏi: Ngài đã nói tâm tánh của Phật và chúng sanh thể chỉ có một. Do đâu Phật ở cõi thánh, còn chúng sanh nơi đất phàm?
Đáp: Phật và chúng sanh tánh thể vốn không. Bởi tâm có nhiễm tịnh nên gọi là thánh hay phàm.
Phật và chúng sanh tánh thể vốn không. Đứng về tánh thể thì tên Phật và tên chúng sanh không có, nhưng vì tâm nhiễm nên gọi chúng sanh, tâm tịnh thì gọi là Phật, thành ra có phàm có thánh. Thí dụ mặt gương là sáng, nhưng khi dính bụi thì gọi là gương tối, không dính bụi thì gọi là gương sáng, còn tánh gương trước sau như nhau không khác. Như vậy, gương trong sáng hay lu mờ là vì bụi phủ hay không mà thôi. Bị che mờ đó chỉ là cái dụng bị che mờ, chứ sự thật gương không mờ không sáng.
Hỏi: Tại sao tâm có nhiễm tịnh?
Đáp: Bản tánh như gương tròn sáng không lặng, chân tâm như ánh sáng chiếu vật chẳng nhơ. Các bậc thánh vô tâm ứng đối với sự vật, tới lui không nhiễm, gọi đó là ánh sáng tịnh. Chúng sanh hữu tâm, ứng đối với sự vật phân biệt thủ xả, gọi đó là ánh sáng nhiễm. Nhiễm tịnh tuy khác nhau, nhưng thể nó không hai.
Ngài chỉ dạy sự ứng dụng tu hành rất tường tận. Sở dĩ có chia ra nhiễm tịnh là vì đối với sự vật, tâm có phân biệt thủ xả hay không phân biệt thủ xả. Phân biệt thủ xả thì nhiễm, không phân biệt thủ xả là tịnh. Thấy tất cả mà tâm không nhiễm không dính là tịnh, còn thấy cái gì kẹt cái nấy thì đó là nhiễm.
Nhiễm tịnh tuy khác nhau, nhưng thể nó không hai. Nhiễm tịnh là dụng, thể vốn không hai. Gốc của sự tu hành ở tại chỗ này. Các bậc thánh nhân hằng ngày đối vật mà tâm không chất chứa, không buồn thương, giận ghét. Còn chúng ta đối với sự vật sanh đủ thứ bệnh, gốc tại thủ xả mà ra. Vì vậy chúng ta bị gọi là phàm, các ngài được gọi là thánh.
Trong thiền tông thường nói, người tu vững rồi thì tám gió thổi không động. Chừng nào đối với tám gió không dính không nhiễm thì khi đó mới là bậc thánh, còn mỗi gió thổi mỗi động thì vẫn ở trong đám phàm. Chúng ta đừng mong cầu thần thông diệu dụng của người đắc đạo, mà hãy nhìn thẳng vào tâm của mình, xem khi gặp ngoại cảnh nó có bị xoay chuyển hay không bị xoay chuyển. Người tu cao là khi đối những cảnh thuận nghịch mà tâm vẫn an nhàn, còn người trước cảnh thuận nghịch tâm đầy đủ phiền não thì biết đó là bậc thấp. Thông thường cứ cho rằng người tu cao là phải có thần thông, người tu thấp nên không có thần thông. Nghĩ như vậy dễ bị lầm lạc vào đường tà, không thấy được lẽ chân thật. Chúng ta tu đừng ham có thần thông, đừng mong thấy cái gì kỳ lạ huyền bí; mà cần thấy rõ mình hiện giờ nhiễm hay không nhiễm, tâm còn loạn, còn kẹt cảnh hay không kẹt trong cảnh. Đó là điều quan trọng nhưng ít ai chú ý.
Hỏi: Bản thể của tâm tánh có hạn lượng chăng?
Đáp: Có.
Hỏi: Thể nó lớn lắm không?
Đáp: Gồm khắp thập hư, đầy khắp muôn cõi.
Có hạn lượng mà vô hạn lượng, vì trùm hết mười phương. Cái hạn lượng đó lấy gì đo lường? Gồm khắp thập hư, đầy khắp muôn cõi. Chỗ này không khác kinh Hoa Nghiêm nói, mỗi mỗi đều dùng số mười. Chúng ta có một cái lớn dường ấy, đầy khắp mười phương, trùm hết muôn cõi mà không chịu nhận; cứ bỏ quên rồi trở lại nhận thân tứ đại, tâm lăng xăng nhỏ xíu này, cho đó là mình. Thật đáng buồn tủi! Cho nên Phật nói đáng thương là phải.
Hỏi: Tâm tánh đã rộng lớn không ngằn như vậy, do đâu lại ở trong nhục thân này?
Đáp: Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay bị cột trói, tù hãm trong thai ngục, bị cùm gông nơi nhục thân. Vọng chấp cứng ngắc, lầm cho cái tâm tánh rộng lớn ở trong thân, rồi đi nhận giặc làm con, như tù hãm trong ngục lớn ngày nào mới được ra? Chẳng những người trời mê lầm như vậy, mà hàng Tiểu thừa cũng còn như thế.
Nếu đã to như vậy tại sao lại dồn nó vô trong thân thịt này? Bởi vì mê lầm. Chúng ta đang bị gông cùm trong nhục thân này, vậy khi nó nát ra mình có mừng không? Như người bị giam trong khám, nếu nghe nói ngày mai cái khám đó bị rã rời hết thì phải mừng chứ, tại sao nghe cái khám sắp rã lại khóc? Là có muốn ra khỏi khám hay không? Như vậy cho thấy chúng ta si mê tới bậc nào. Xưa Lục tổ Huệ Năng sắp tịch, các đệ tử khóc lóc, ngài quở uổng công ở núi bao nhiêu năm, ta đi tới nơi về tới chốn, tự do tự tại mà các ông kêu khóc là kêu khóc cái gì? Chúng ta bây giờ đau nặng một chút, nếu có ai tới thăm nói bệnh của thầy e qua không khỏi thì nước mắt chảy ròng ròng. Đó là chúng ta còn thích ở trong thai ngục, còn thích gông cùm trong nhục thân, đâu muốn ra khỏi nó.
Người nào nghe nói gần chết mà sợ thì biết người đó không bao giờ giải thoát. Chắc chắn như vậy, quả quyết như vậy. Bởi vì còn muốn giữ thân tất nhiên mất thân này sẽ tìm thân khác, không thể nào chạy khỏi. Các bậc thánh biết rõ, thấy được thể tánh chân tâm rộng lớn thênh thang, đang dồn ở trong thân nhỏ bé này là một cái khổ, nhưng lỡ rồi thì thôi mượn tạm nó để làm phương tiện tiến tu, hoặc làm lợi ích cho chúng sanh. Chúng ta thì ngược lại, bị dồn ở trong đó rồi cứ lo nuôi dưỡng, giữ cho nó còn hoài, chẳng khác nào người bị giam trong tù, mà cứ lo xây nhà tù đó được nhiều lớp cho chắc. Điều đó thật quá ngu!
Chẳng những người trời mê lầm như vậy mà hàng Tiểu thừa cũng còn như thế. Hàng Tiểu thừa không phải không muốn thoát ra, nhưng vì các ngài còn thấy tâm ở trong thân, cho nên cố kìm không cho nó dấy khởi. Tinh thần của Đại thừa là thấy tâm thể trùm khắp mười phương, nếu chỉ thấy Đại thừa là cỗ xe lớn chở nhiều, Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, là chúng ta không biết gì về Đại thừa.
Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: Thể đại, Tướng đại, Dụng đại. Người học Đại thừa là thấy được tâm tánh rộng lớn trùm khắp mười phương cõi, thể tướng và dụng của nó to lớn vô cùng, đạt được rồi thì ứng hóa vô lượng. Như Phật hiện thân vô số cõi, ở đâu cũng có. Bồ-tát thì thấy mười phương thế giới, đều có mình ở trong đó. Phật và tổ nói không hai, không khác. Như trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Như Lai Xuất Hiện cũng nói điều này. Một hạt bụi nhỏ mà chứa quyển kinh vô lượng bằng tam thiên đại thiên thế giới. Thấy như vậy mới gọi là tổ, mới gọi là người thấy đạo, là Phật.
Hỏi: Tâm tánh không ở trong thân, tôi nay hay suy nghĩ đó là gì?
Đáp: Ông nghi hỏi, cái huyễn thức trong thân hay suy nghĩ, cho là tâm ta. Đấy là bóng dáng duyên theo sáu trần, làm mê hoặc chân tánh của ông. Ông vô cớ chấp cứng ở bên trong, khó thoát khỏi thai ngục.
Nếu tâm tánh không phải ở trong thân, vậy hiện giờ cái đang suy nghĩ đó là gì? Đấy là bóng dáng duyên theo sáu trần, làm mê hoặc chân tánh của ông. Cái suy nghĩ hiện đang lăng xăng, nó là huyễn thức, là bóng của sáu trần chứ không phải chân tâm. Nếu nhận cái huyễn thức chạy theo sáu trần đó thì kiếp kiếp luân hồi, không thấy được chân tánh. Chúng ta suy nghĩ là suy nghĩ theo hình ảnh của sáu trần. Nhớ người thì hình ảnh người hiện, nhớ cảnh thì cảnh hiện. Chính nó che đậy chân tánh của mình, đừng theo nó thì chân tánh mới hiện bày.
Ông vô cớ chấp cứng ở bên trong, khó thoát khỏi thai ngục. Nếu chấp cái thức hành làm chân tâm thì không thể nào ra khỏi thai ngục, bỏ thân này mang thân khác, cứ thế vào thai để thọ thân không thoát ra được.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Phật bảo A-nan! Đấy là tướng tiền trần vọng tưởng hư dối, làm mê hoặc chân tánh ông. Từ vô thủy đến nay, ông nhận giặc làm con, làm mất cái nguyên thường của ông, nên chịu luân chuyển.”
Câu hỏi này giống như trong kinh Lăng-nghiêm, nên ngài dẫn kinh để làm chứng. Chúng ta lâu nay cứ lầm chấp cái suy nghĩ là mình, nên Phật nói nhận giặc làm con, bởi lầm giặc là con mà phải chịu luân chuyển trong sanh tử.
Nếu hướng vào trong đây mà sáng tỏ được tâm suy nghĩ, như bóng trong gương, như hoa đốm trong hư không, như dối hiện vành xe trong không, vốn không có thực chất.
Nhắm thẳng vào mà biết các suy nghĩ đó như bóng, như hoa đốm, như khi mắt nhặm nhìn mặt trăng thấy có vòng tròn như vành xe, vành xe dối hiện chứ không có thật. Chúng ta khi dụng công tu, phải biết rõ những suy nghĩ đó là huyễn thức hư giả thì sẽ sáng được tâm, không còn bị mê lầm. Nếu không thì suốt kiếp cứ ở trong mê lầm mãi mãi.
Hỏi: Cái suy nghĩ ở trong thân là do bóng dáng duyên theo sáu trần, vậy thế nào là cái chân tánh sáng suốt mầu nhiệm của tôi?
Câu hỏi này khó chỉ đây. Nếu cái đó là vọng, là bóng, vậy cái sáng suốt nhiệm mầu là cái gì?
Đáp: Chúng sanh chẳng ngộ tâm tánh rộng lớn không ở trong ngoài, mà lại nhận bóng dáng của trần cảnh lầm cho là hư không bao nhục thân, nhục thân bao nhục tâm, nhục tâm bao chân tánh, rồi bị nhiều lớp cột trói và chấp cứng vào tham ái. Há chẳng biết hư không đại địa, muôn vật thân tâm đều là những bóng dáng từ diệu minh chân tánh của ta hiện ra.
Nhục tâm là trái tim thịt. Chúng sanh lầm cho hư không ở ngoài bao cái thân thịt, thân thịt bao trái tim thịt, trái tim thịt lại bao chân tánh của mình ở trong. Rồi bị nhiều lớp cột trói, cũng như trong y học nói những sợi dây thần kinh chằng chịt trong não, rồi chấp cứng vào tham ái.
Há chẳng biết hư không đại địa, muôn vật thân tâm đều là những bóng dáng từ diệu minh chân tánh của ta hiện ra. Nói như vậy mà chúng ta có thấy rõ chưa? Cũng là dùng danh từ để nói thôi. Diệu minh chân tánh bao trùm tất cả, nhưng do chúng ta không biết cái diệu minh chân tánh là gì? Nó ra sao? Khởi hiểu là hết thấy rồi!
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Các duyên hội hợp lại dao động bên trong, rong ruổi bên ngoài, mờ mịt nhiễu loạn và tưởng nhiễu loạn, tất cả cho là tâm tánh. Một khi lầm cho là tâm rồi thì nhất định cũng lầm cho bên trong sắc thân. Chẳng biết sự vật bên ngoài sắc thân cho đến núi sông, hư không, cõi đất... tất cả đều là vật trong diệu minh chân tâm cả.”
Chúng ta lầm nhận bóng dáng dao động của các duyên hội hợp là tâm thức, rồi rong ruổi chạy theo ngoại cảnh bên ngoài, sanh ra những tưởng nhiễu loạn cho đó là tâm tánh của mình. Tôi nghĩ, tôi tính, tôi tưởng v.v... đều là tôi hết. Một khi lầm chấp thì nhất định cho cái suy nghĩ đó ở trong thân mình, cần suy nghĩ cái gì thì chúng ta bóp đầu, bóp trán để suy nghĩ, mà đâu ngờ rằng tất cả cõi đất, hư không, núi sông cho tới thân mình đều là vật trong diệu minh chân tâm, không có cái gì ở ngoài. Chúng ta không chịu tìm ra cái đó, mà cứ nhận thân này là mình. Thân này đến lúc tắt thở cũng như ống bọng, xô qua đẩy lại gì cũng được, nước bên trong trào ra dơ dáy bẩn thỉu không sao chịu nổi. Cái thật lại không biết, cứ chấp tâm suy nghĩ vọng tưởng chợt sanh chợt diệt một ngày không biết mấy trăm ngàn lần, cho đó là mình, thử hỏi không trầm luân sao được? Người chấp thân tứ đại ô uế là mình, chấp vọng tưởng sanh diệt là mình, kẻ ấy kiếp kiếp đời đời dù tu tới đâu cũng không ra khỏi luân hồi, chỉ khi nào nhận ra được diệu minh chân tâm trùm khắp, chừng đó mới tự tại.
Sợ e ông chưa ngộ, tôi xin nêu ra một thí dụ. Bản tánh như một chiếc gương lớn cùng tận pháp giới. Chân tâm mầu nhiệm chiếu soi như ánh sáng trong chiếc gương kia. Núi sông cõi đất, sum la vạn tượng, cho đến nhục thân cùng tâm thức, tất cả đều là bóng trong chiếc gương. Chúng sanh nhận bóng cho nên phải chìm đắm trong chín cõi, bốn loài. Nếu nhận gương thì trở về chân tâm trong chớp mắt.
Thí dụ này thật cụ thể mà tôi cũng thường hay nói. Nếu chúng ta cứ nhận bóng hiện trong gương chấp cho là gương thì suốt đời không thấy được mặt gương. Như trong kinh Lăng-nghiêm, Diễn-nhã-đạt-đa nhận bóng quên đầu. Nếu nhìn thấy bóng cái đầu trong gương liền cho đó là đầu của mình thì cái đầu hiện có là thừa rồi sao? Nhưng con người là vậy, cứ nhận cái suy nghĩ bóng dáng là tâm mình, cho nên bỏ quên tâm chân thật sờ sờ ngay đó. Tất cả chúng sanh đều như vậy, cái dễ hết sức dễ, gần hết sức gần mà nhận không ra. Phật nói bao nhiêu kinh, tổ nói bao nhiêu luận, thiền sư đánh bao nhiêu gậy cũng vì chuyện đó, thế mà chúng ta còn không chịu nhận. Giả sử chúng ta được ăn chừng năm mười gậy, có nhận ra không hay là khóc lóc? Nếu bị đánh không nhận ra mà cứ khóc hoài thì cho dù ăn ba chục gậy cũng vẫn còn rẻ. Ở đây tiếc vì không cho ăn gậy, nên nhiều khi cũng thấy lóe lên một chút nhưng mai mốt lại quên mất.
Nói như vầy là rụng hết lông mày rồi! Ngài đã không tiếc mấy sợi lông mày chỉ ra cặn kẽ cho chúng ta hiểu, vậy mà mắt mình vẫn chưa sáng.
Hỏi: Tâm tánh rộng lớn, biến khắp muôn loài, chẳng ở trong thân, nghĩ nó ở ngoài thân và bao trùm nhục thân, lý này phải chăng?
Đáp: Chẳng phải.
Hỏi: Bên trong chẳng thành, bên ngoài chẳng phải, lý này rất ngờ, xin thầy giải cho.
Đáp: Bản tánh là một cái Không cùng khắp, không ở trong thân, không ở ngoài thân. Chân tâm vô trụ chẳng tức là thân, cũng chẳng lìa thân. Cho nên ngài A-nan, trong kinh Lăng-nghiêm, chấp cái vọng không bằng cứ, bảy nơi mờ mịt. Nhị tổ Huệ Khả ngộ lẽ chân vốn chẳng sanh, nên chỉ một lời khế hợp với đạo. Ông nếu ngu độn tôi chỉ bày trở lại cho ông bằng một thí dụ.
Bản tánh là một cái Không cùng khắp, không ở trong thân, không ở ngoài thân. Nói không đó là không hình tướng chứ không phải không như hư không, nhớ như vậy. Chân tâm vô trụ chẳng tức là thân, cũng chẳng lìa thân. Trong kinh Lăng-nghiêm, ở đoạn “thất xứ trưng tâm”, bởi ngài A-nan chấp cái vọng không bằng cứ, bị Phật hỏi mờ mịt trả lời cái nào cũng không đúng. Ngài Huệ Khả do ngộ được lẽ chân nên chỉ một câu là hợp với đạo. Còn ông nếu ngu quá thì tôi sẽ ráng dùng một thí dụ nữa để nói cho ông hiểu.
Bản tánh như bể lớn nước trong lặng, chân tâm như ánh sáng của nước trong ấy, do gió khởi động bỗng thành bọt bể. Bọt bể là sắc thân, nước bể là pháp thân, chất ướt của bọt bể là thức tánh, chất ướt của nước bể là bản tánh.
Bể lớn, trời yên nước trong lặng phát ra ánh sáng. Đây là ngài tạm mượn thí dụ để chỉ bản tánh và chân tâm. Do gió nổi sóng, sóng vỗ vào nhau tạo thành những hòn bọt. Bọt bể dụ cho thân có hình sắc, nước bể dụ cho pháp thân. Chất ướt của bọt bể là thức tánh, chất ướt của nước bể là bản tánh. Hai thứ chất ướt này có khác nhau không?
Bọt bể ướt, nước biển ướt, tánh ướt vốn có một, cho nên chẳng phải trong chẳng phải ngoài. Nước biển ướt, bọt biển ướt, tánh ướt mỗi cái có một như có trong ngoài. Kẻ phàm phu mê chấp bọt biển, trở lại đi bỏ bể cả vô biên.
Tánh ướt của hòn bọt và tánh ướt của bể cả không khác, cho nên không thể nói tánh ướt ở trong hòn bọt hay ở ngoài hòn bọt. Vì trong hòn bọt cũng là ướt mà ngoài hòn bọt cũng là ướt, nói trong hay ngoài đều sai, sự thật nó đồng một thể tánh như nhau, không hai không khác. Bởi vì phàm phu lầm chấp cho bọt là biển, nên không thấy được biển cả.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Ví như trăm ngàn bể lớn trong lặng mà bỏ đi, rồi lại nhận một tí bọt bể cho là toàn cả nước thủy triều, đều gom trong hòn bọt ấy. Tất cả các ông là những người mê gấp bội hơn trong những người mê.”
Ngài dẫn kinh Lăng-nghiêm làm chứng. Phật nói chúng sanh mê muội đáo để, nhận được tí bọt nhỏ mà quên đi bể cả. Chúng ta cũng vậy, đang sống với thể chân tâm trùm khắp không chịu thấy, cứ lấy cái điên đảo vọng tưởng làm tâm của mình. Chỗ này trong nhà thiền thường thí dụ, như kẻ điên cuồng đang chìm ở dưới sông lút đầu cổ mà xin cho tôi miếng nước. Phật nói chân tâm, chúng ta nghe rồi cứ kiếm hoài, trong khi chân tâm trùm khắp không hay, lại chạy đi cầu người này chỉ, người kia dạy. Chúng ta chẳng khác nào kẻ chết chìm kia, ở trong nước mà kêu khát nước.
Người học đời sau nếu ngộ được nước bể và nước của bọt bể, tánh ướt vốn một thì làm gì có cái chấp nhất định rằng trong hay ngoài? Chẳng ngộ được bản tánh thật đáng buồn vậy!
Nhận rõ cái ướt của bọt bể và biển cả không hai thì không còn nói trong nói ngoài nữa. Nếu chẳng ngộ được bản tánh thật đáng buồn vậy! Ngài dùng thí dụ để cho mình hiểu, mà mình ngu quá không nhận ra, như vậy có phải đáng buồn không? Ở đây chúng ta có nhận ra chưa? Chưa, nên ngài lại ráng nói thêm lần nữa.
Hỏi: Chất ướt của nước biển dụ cho pháp giới tánh. Chất ướt của bọt biển dụ cho thức ở trong thân. Tánh ướt không hai chẳng trong ngoài. Đã chẳng trong ngoài khi báo hết mạng chung, lìa đây sanh nơi kia hiện có ra vào, đã có ra vào sao nói chẳng trong ngoài?
Ý của người hỏi nói, khi chết rồi mình sẽ đi tới chỗ khác thọ sanh, bỏ thân này thế thân khác, tức là có ra có vào. Bỏ thân là ra, vô thân khác là vào. Đã có ra vào, sao nói không trong không ngoài? Câu hỏi này thật là quá ngu! Chẳng những người hỏi ngu muội mà mình cũng ngu muội theo nữa. Phải không? Thôi, đừng thèm ngu muội đi! Bởi vì nó là hoa đốm giữa hư không, đâu có thật mà nói có ra có vào.
Đáp: Như sự khai thị ở trên của tôi, ông không thể liễu ngộ mà trở lại tìm sự sanh diệt của những bông hoa chập chờn trong hư không, có thể bảo là kẻ ngu muội thái quá. Bởi do ngay lúc đầu chẳng giữ tự tánh, một niệm vọng động nên bị trói buộc trong thai ngục, đời đời chấp cứng, nhất quyết là ở trong thân có ra có vào, có đến có đi. Trong ngoài đến đi như hoa trong hư không. Hoa tuy có sanh diệt nhưng hư không vốn bất động. Thần thức giống như có ra vào, nhưng tánh nó vốn chẳng động. Chỉ như hoa giữa hư không là huyễn, thần thức trong thân là vọng. Nay đem hoa huyễn trong không, để phát minh vọng thức trong thân, lý kia không hai, ông nên tự xét. Ông nếu chẳng ngộ xin dẫn kinh ra để dụ.
Ngộ rồi thì thốt ra một lời một câu liền biết, còn chưa ngộ cũng vẫn lẩn quẩn. Như đoạn trước dẫn, tổ Huệ Khả chỉ một câu là ngộ. Trước đây ngài cũng chấp cái suy nghĩ ở trong là tâm mình, nên ngồi thiền cứ lăng xăng lộn xộn không yên, gặp tổ Bồ-đề-đạt-ma, ngài liền hỏi: “Bạch Thầy dạy cho con phương pháp an tâm.” Tổ bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài giật mình, cái tâm mà lâu nay cho là mình đó, tìm lại không thấy đâu hết. Ngài liền nói: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Lập tức ngài ngộ. Chúng ta thấy, chỉ một câu nói như trò chơi mà ngài liền ngộ. Câu hỏi này giống như trong kinh Lăng-nghiêm đã dẫn, tổ Bồ-đề-đạt-ma chỉ một câu nói thôi đã làm sáng tỏ vấn đề này, mà chính ngài Tổ Nguyên cũng nói trắng ra rồi, vọng thức như hoa đốm giữa hư không.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Thí như có người mang chiếc bình tần-già-điểu, đậy kín hai miệng lại, bên trong đầy cả hư không, mang bình ấy đi xa ngàn dặm, rồi dùng bình ấy tặng cho một nước khác. Nên biết thức ấm cũng lại như vậy. A-nan, như hư không này chẳng phải từ phương trời kia lại, cũng chẳng phải từ phương này vào. Như vậy A-nan, nếu từ phương trời kia lại thì ở trong bình đã có chứa hư không mang đi, và ở nơi quê hương của chiếc bình, lý ưng đã thiếu một khoảng hư không. Nếu từ phương này vào thì khi mở nút trút bình ra, lý ưng thấy hư không rớt ra. Thế cho nên biết, thức ấm hư vọng vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tự nhiên.”
Nếu từ phương trời kia lại, ở trong bình đã có chứa hư không thì ở chỗ cũ của chiếc bình, lẽ ra đã thiếu một khoảng hư không. Bởi vì đã lấy bớt hư không mang đi, tất nhiên hư không ở chỗ đó phải thiếu. Nếu từ phương này vào thì khi mở nút trút bình ra phải thấy hư không rớt ra. Hư không mới chun vô bình, bây giờ trút ra thì nó phải chạy ra, vì có chun vô thì phải có chạy ra. Không ra không vào thì làm sao nói nhân duyên, nói tự nhiên được. Cho nên biết, thức ấm hư vọng vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tự nhiên. Đức Phật dùng nhiều thí dụ thật hay, nhưng mình cũng chưa hiểu, đây giải thích thêm.
Giải thích: Tần-già-điểu là tên của chiếc bình. Đậy hai miệng là dụ cho nghiệp thiện ác. Bình dụ cho nghiệp lực hay dẫn thức đi. Hư không trong bình là dụ cho thức theo nghiệp. Hư không ở bình và hư không ở ngoài, giống như có trong ngoài. Hư không không có hai thể, trong ngoài chỉ có một nên chẳng phải trong ngoài. Hư không trong bình dụ cho thức vốn không, do nghiệp thiện ác mà dẫn thần thức đi, dụ như vác bình đi xa ngàn dặm. Dùng tặng nước khác là dụ cho xả ở đây và thọ ở kia.
Xả ở đây và thọ ở kia, tức là bỏ thân này mang cái thân khác. Hư không ở trong bình và hư không ở ngoài không hai, làm sao nói trong nói ngoài được?
Kinh nói: “A-nan! Hư không ấy chẳng phải từ phương trời kia lại, mà cũng chẳng phải từ phương này vào.” Đấy là dụ cho sự xả thân như từ phương trời kia lại, nhưng mà thần thức của thân trước chưa từng thiếu. Sự thọ thân như từ phương này vào, nhưng mà thần thức của thân sau chưa từng đến. Thế nên biết, thân chết chẳng phải đi, trước khi chưa chết cũng chẳng riêng ở nơi đây. Thân sống chẳng phải đến, trước khi chưa sanh vốn cũng khắp cả nơi đây. Kẻ mê chẳng rõ, cho là ở bên trong và có ra vào. Người ngộ hiểu rằng thể vốn không đây kia, há lại có đến đi ư?
Thấy như bỏ cái kia vào cái này, nhưng sự thật bỏ cũng chưa từng đi, thọ cũng chưa từng đến. Khi chúng ta chưa chết, tánh biết chẳng phải chỉ riêng có ở trong thân này mà nó trùm khắp. Kẻ mê chẳng rõ cho là ở bên trong có ra có vào. Người ngộ hiểu thể vốn không đây kia, há lại có đến đi. Nên nói: “Như Lai vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ.” Không có đi, không có đến. Chúng ta thấy có đến đi là thấy theo vọng niệm, còn tâm thể không có đến đi.
Phần đốn ngộ này là chỉ thẳng tâm tánh, ai chưa ngộ thì ráng sáng mắt lên, còn người đã thấy phải nhìn cho thật kỹ để khỏi ngờ. Ở đây tôi hỏi lại, quý vị nghe đoạn này có thấy tâm thể mình chưa? Sao có miệng mà không có lời?
Hỏi: Người ngộ rõ biết được thể vốn không đi không lại. Hiện nay có người chết đây sanh kia, tức là có tướng đi tướng lại?
Đáp: Các duyên hội hợp thì sanh, các duyên chia lìa thì diệt. Tuy có hiện ra tướng đến đi, nhưng mà cái viên minh bản nhiên chẳng động. Kẻ phàm phu do bệnh mắt, lầm nhận hoa đốm giữa hư không có sanh có diệt, theo duyên mà lưu chuyển.
Đây lại hỏi, người ngộ rõ biết được thể vốn không đi không lại. Hiện nay có người chết đây sanh kia, tức là có tướng đi tướng lại rồi?
Ngài đáp cũng giống ở đoạn trước. Do lấy cái chết đây sanh kia mà nói, nên thấy có tướng đến đi, sự thật chân tâm viên minh bản nhiên vốn không động. Kẻ phàm phu vì con mắt bị bệnh lòa, cho nên nhìn thấy ở giữa hư không có những hoa đốm lăng xăng, sanh diệt. Hư không vốn không có hoa đốm, do con mắt bệnh mà ra. Cũng vậy, do mê nên thấy có nghiệp dẫn đi trong sanh tử luân hồi, theo duyên mà lưu chuyển.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, điên đảo nhiều lớp, giống như người lầm bốn hướng đổi chỗ. Lầm nhận tứ đại làm tướng của tự thân, sáu trần duyên bóng làm tướng của tự tâm. Ví như người bệnh mắt, thấy hoa đốm trong hư không. Cho đến những hoa ấy diệt trong hư không, cũng không thể nói rằng quyết có chỗ diệt. Tại sao thế? Vì là không sanh vậy. Tất cả chúng sanh ở trong không sanh mà lầm thấy có sanh diệt. Ấy cho nên gọi là lưu chuyển sanh tử.”
Kinh Lăng-nghiêm nói, tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay điên đảo nhiều lớp, giống hệt người lầm bốn hướng đổi chỗ. Thí dụ chúng ta đi từ đây ra Huế, hoặc qua bên Pháp. Ở đây mình phân biệt hướng đông tây nam bắc, khi qua chỗ khác đứng nhìn không biết hướng nào là đông tây nam bắc. Mình sanh nghi, hướng đông mà tưởng là hướng tây? Khi lầm hướng đông là hướng tây rồi thì bốn hướng kia cũng lầm luôn. Đó là nhận lầm phương hướng.
Lầm nhận tứ đại làm tướng của tự thân, sáu trần duyên bóng làm tướng của tự tâm. Phật nói, lầm nhận tứ đại làm tướng của tự thân, lấy cái duyên theo bóng dáng sáu trần làm tướng của tự tâm. Chẳng khác nào người đã lầm phương hướng, không thể nào thấy đúng được. Như con mắt bị bệnh, lúc trời nắng nhìn vào hư không thấy có hoa đốm lăng xăng. Nếu hôm nào con mắt hết bệnh thì nhìn không thấy hoa đốm lăng xăng nữa. Lúc mắt bệnh thấy hoa đốm gọi là hoa đốm sanh, khi mắt hết bệnh thấy không còn hoa đốm nữa nên nói hoa đốm diệt. Nhưng sự thật hoa đốm có sanh có diệt không? Sanh diệt đó là do con mắt bệnh và hết bệnh thôi. Nếu không bị bệnh mắt thì sanh diệt không có gì, vì hoa đốm không thật thì lấy gì sanh diệt. Một khi mê lầm thân tứ đại là mình, vọng tưởng là tâm mình thì lúc đó có sanh diệt, có luân hồi. Còn nhận ra được thể tánh chân tâm trùm khắp thì không còn thấy sanh diệt nữa. Đó mới thật giải thoát, thật tự tại. Cho nên nói, người tu muốn giác ngộ giải thoát mà không nhận được thể tánh chân tâm, dù cho tu một ngàn năm cũng không ngộ. Vì ngộ là ngộ thể tánh chân tâm, mà mê là mê thể tánh chân tâm. Ngộ được thể tánh chân tâm mới dứt vòng luân hồi, gọi là giải thoát. Nếu không ngộ được thì làm sao khỏi luân hồi. Tu nhiều, công quả lắm thì được sanh các cõi trời, hưởng hết phước rồi cũng đọa lại, chứ chưa thể giác ngộ. Đó là chỗ then chốt nhưng ít người nhận ra, nên cứ ở trong luân hồi tạo nghiệp mãi mãi. Nếu nhận ra rồi thì sự sanh diệt còn mất không nghĩa lý gì nữa.
Người học đời sau chẳng đốn ngộ được sự sanh diệt của huyễn thức, và tâm thể viên giác thường trụ chẳng động. Tổ Sư nói: “Thân thể tuy có hợp có tan, nhưng có một vật mầu nhiệm còn mãi.” Nếu liễu đạt được tâm này thì có gì là sanh tử?
Không nhận ra thức phân biệt là huyễn, tánh viên giác là thường trụ, nên tổ sư nói thân thể tuy có hợp tan nhưng trong đó có một cái mầu nhiệm không bao giờ mất. Nói “trong đó” cũng là phương tiện mà nói. Nếu liễu đạt được tâm này thì có gì là sanh tử? Các ngài coi sanh tử như trò chơi, không có nghĩa lý gì hết, còn chúng ta vì thấy sanh tử thật, cho nên mới lo sợ.
Hỏi: Ngài khai thị quá rõ ràng không thể chẳng hiểu, nhưng chẳng biết do đâu ngay lúc ban đầu lại có thân tâm của ta?
Đáp: Nguồn chân trạm tịch, biển giác lặng trong. Vốn không có đầu mối của năng sở thì làm sao có dấu tích của danh tướng? Bởi ngay lúc ban đầu chẳng giác ngộ, bỗng có động tâm, nhân minh lập ra chiếu, theo chiếu mà lập ra trần. Do đó nên kiến phần bỗng chốc hưng khởi, rồi danh tướng bày khắp, giống như gương hiện tướng, thoắt khởi ra căn thân, kế đó tùy theo tưởng mà thế giới thành sai khác. Về sau do yêu ghét mà nghiệp quả tiếp nối, từ đây mê chân mà bị chìm đắm trong ba cõi, dối thọ luân hồi không lúc ngơi nghỉ.
Kiến phần tức là cái hay thấy. Đây ngài nói cũng giống như trong kinh Lăng-nghiêm. Thể tánh lặng lẽ, trong sáng, vốn không có đầu mối, không có dấu tích, vì mê nên mới khởi động, khởi động nên có năng sở, từ năng sở rồi theo tưởng tạo nghiệp, lập ra chúng sanh và thế giới, không biết bao nhiêu vòng tiếp nối liên miên, đó gọi là mê chân mà đắm chìm trong ba cõi không ngơi nghỉ.
Hỏi: Nếu thật như lời ngài nói ngay lúc ban đầu chẳng giác ngộ, chợt có động tâm, thoắt khởi ra căn thân. Cái huyễn thân này quả báo hết, bốn đại phân tán, cái huyễn thức trong thân đầu thai như thế nào?
Đáp: Kẻ phàm phu suốt ngày cứ chạy đuổi theo tình thức mà kết nghiệp hoặc thiện hoặc ác, rồi theo nhân đã tạo mà cảm quả. Đến lúc lâm chung cõi đất tối đen, lúc ấy thần thức gặp được chỗ có duyên, thấy một đốm sáng chạy đến thấy cha mẹ hai tướng giao cấu, bèn khởi ra ý tưởng yêu ghét, dồn tưởng ấy rồi nhảy vào hai giọt nước đỏ trắng, giống như đá nam châm hút sắt. Trong chớp mắt những khuấy động kia dừng lại, bây giờ ở trong thai lần lượt trải qua năm giai đoạn.
Bảy ngày đầu gọi là tạp uế. Bấy giờ tinh cha và huyết mẹ lắng lại như váng sữa mỏng, cùng hòa hợp với nhau gọi là tạp, chẳng sạch gọi là uế. Bảy ngày thứ hai gọi là thương bào, giống như huyễn đậu. Hình dáng của thương bào như sữa gần đặc, nhưng mà chưa có sanh máu. Bảy ngày thứ ba gọi là ngưng kết, lần lần có dáng ngưng đọng lại như có máu. Bảy ngày thứ tư gọi là ngưng hậu, lần lượt cứng chắc, năm tạng lần lần sanh. Bảy ngày thứ năm gọi là hình vị, lúc bấy giờ gió bên trong thổi nên sanh ra hình dáng của các căn, một thân mình và tứ chi sai khác, bảy ngày thứ năm ngũ căn đều đủ. Bảy ngày thứ sáu gọi là phát trảo xỉ. Bảy ngày thứ bảy gọi là cụ căn, tất cả tạng phủ và ngũ căn đều xong xuôi. Đủ mười tháng ra khỏi thai làm người, ở trong sự ràng buộc của thức tình, phân thành sáu công dụng, thấy nghe hiểu biết tùy theo cảnh mà tạo nghiệp, sanh tử tiếp nối xoay vần không ngừng.
Chúng sanh hằng ngày sống với nghiệp thức, theo đó gây nên nghiệp thiện nghiệp ác, tất nhiên khi chết phải theo quả mà trả. Như đá nam châm hút sắt, tới đó liền bị hút vô rồi kết thành thai, trải qua năm giai đoạn.
Bảy ngày đầu gọi là tạp uế. Thân mình ngay từ đầu, chủng tử của nó đã là ô uế rồi, cho nên khi kết thành thân nhất định phải ô uế, không thể chối cãi được. Từ đó ngưng kết ở trong bụng mẹ, gió nghiệp thổi làm cho các căn từ từ hình thành, tóc răng móng đều mọc, mắt tai mũi lưỡi thân hoàn toàn đầy đủ, đủ mười tháng ra khỏi thai làm người, bị ràng buộc bởi thức tình, tạo thành nghiệp mà có sanh tử xoay vần.
Chúng ta thấy thân mình rõ ràng là huyễn, ban đầu chạy tới nhập vô rồi nương đó mà thành hình. Lớn lên lại trả trở về, rồi chạy vô nhập vào đó nữa. Cứ như vậy mà đời này kiếp nọ loanh quanh lẩn quẩn, cho nên nói là nghiệp thức. Như vậy, từ huyễn thức gây nên huyễn thân, tạo thành huyễn nghiệp, ba thứ đó cuốn luôn không dừng. Nếu không nhận được cái bất sanh bất diệt thì cứ thế mà đi, không biết tới bao giờ mới thôi.
Hỏi: Thần thức lúc đầu thai có hình trạng chăng?
Đáp: Có.
Hỏi: Hình trạng như thế nào?
Đáp: Thần thức lúc đầu thai gọi là trung hữu là khoảng giữa của tử hữu và sanh hữu. Thân trung hữu của loài người hình trạng như lúc sống, hình trạng của nó chẳng hơn ba thước, lớn như đứa con nít năm sáu tuổi. Thân trung hữu của loài súc sanh, hình trạng giống loài súc sanh, ngoài ra các loài khác cũng vậy. Tất cả đều như lúc còn đang sống. Hình trạng của thần thức tuy nhỏ, nhưng hay tạo tác các nghiệp. Đầu thai bên cha mẹ, rồi sanh niệm điên đảo yêu ghét. Người thường gọi là hồn ma.
Trung hữu còn gọi là trung ấm. Tử hữu tức là tiền ấm. Sanh hữu là hậu ấm. Ở đây nói ba thước là ba thước tàu chứ không phải ba thước tây. Một thước bằng bốn tấc tây, ba thước tức khoảng một thước hai.
Hình trạng của thần thức tuy nhỏ, nhưng hay tạo tác các nghiệp. Đầu thai bên cha mẹ, rồi sanh niệm điên đảo yêu ghét. Thân trung ấm tưởng như mình còn đang sống, chứ không nghĩ mình đã chết. Theo trong sách Phật thường nói, chính tâm niệm yêu ghét mà thành ra con trai hay con gái. Cho nên con trai thường thương mẹ, con gái thì hay thương cha, chúng ta thấy phần đông cũng có như vậy.
Hỏi: Ở đời có người chẳng đầu thai mà đoạt xá là sao?
Đáp: Ở đời có những kẻ sĩ học đạo, hoặc là người có phúc. Những người ấy chẳng nhập vào thai bào, đợi gặp chỗ có duyên, khi mẹ vừa sanh, chợt có tiếng động. Lúc bấy giờ điểm linh của thức quang xẹt thẳng vào thông môn, ép cho thần thức của thai dang ra, để chiếm nhà thành người. Đây là cảnh giới không thể nghĩ nghì, không thể dùng ý thức tạo tác mà có thể hiểu được.
Đoạt xá là cướp nhà. Người học đạo hoặc là người có phúc, những vị này không vào thai mẹ mà đợi gặp chỗ có duyên, lúc mẹ sửa soạn sanh thì lại đuổi thần thức của thai văng ra rồi giật thân của họ, gọi là đoạt xá. Trong nhà thiền cũng thường có việc này xảy ra. Như các vị thiền sư, đợi tới chừng người mẹ sửa soạn sanh, các ngài tịch rồi tới đó cướp nhà mà sanh ra liền. Nhưng cướp nhà này là cướp lúc vừa sắp lọt lòng mẹ, đây là việc lạ thường chúng ta không thể hiểu nổi. Bởi vì theo quy luật chung, thần thức lúc thấy ánh sáng từ cha mẹ phát ra thì tới, rồi nhập vào thai. Còn trường hợp đoạt xá khó hiểu nổi, nên ngài nói đây là cảnh giới không thể nghĩ nghì, không thể dùng ý thức tạo tác mà có thể hiểu được.
Hỏi: Chúng sanh ở thế gian khi báo hết mạng chung, tự đầu thai vào cha mẹ, hoặc đoạt xá. Như vậy, sự thọ tội nơi địa ngục, tôi nghĩ rằng chưa ắt là có thật?
Đáp: Địa ngục chẳng không, nhân tâm mà có. Tất cả chúng sanh mười tập kết nghiệp, bởi do tập thành nên theo nghiệp thọ báo. Tâm hiện ra địa ngục, chứ chẳng phải cảnh ngoài. Bài kệ trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Nên quán tánh của pháp giới, hết thảy chỉ do tâm tạo.” Vậy nên biết, sự chịu báo ở địa ngục là do tự tâm mình hiện ra. Kinh Lăng-nghiêm nói: “A-nan! Đấy gọi là địa ngục mười nhân sáu quả. Tất cả đều do sự mê vọng của chúng sanh mà gây ra.”
Kẻ hậu học nên cẩn thận, chớ nghe nói địa ngục là hư huyễn mà khinh thường, mà chẳng dứt được ác nghiệp. Cứ đùa bỡn với tập nhân mà phải theo nghiệp, lúc ấy tự tâm địa ngục chợt ở trước mắt. Muốn thoát khỏi cảnh địa ngục ấy, há chẳng khó sao?
Như người sanh ra ở đời, làm lành hoặc tạo ác lớn nhỏ chẳng đồng, rồi tùy theo nhân mà thọ quả báo. Người gieo điều lành lớn tự tâm cảm sanh lên thiên đường. Kẻ tạo ác nhiều tự tâm cảm đọa vào địa ngục. Người thiện ác quân bình tự đầu thai vào cha mẹ. Kẻ tội và phúc đều kém, chưa thọ sanh liền, bỗng nhiên có hình gọi là thân trung ấm. Từ không mà chợt có, gọi đó là hóa sanh, có thân hình chừng ba thước, sáu căn lanh lợi, tới lui nhậm lẹ, không chỗ nào ngăn ngại, người khác xem như bóng mà thôi, bảy ngày chết rồi lại sanh, sống lâu không quá bốn mươi chín ngày, sống ngắn chừng hai ba thất liền thọ sanh, thói thường gọi là hồn.
Hỏi, nếu chúng sanh tự vào thai mẹ hoặc các vị tu hành đoạt xá thì chắc là không có địa ngục? Ngài nói, địa ngục là do tâm chúng ta tạo ra chứ không phải ai làm sẵn cho mình. Như bài kệ trong kinh Hoa Nghiêm “Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo”, nên quán tánh của pháp giới, hết thảy chỉ do tâm tạo. Tâm mê việc ác thì lúc sắp chết hiện ra cảnh dữ hay địa ngục, mê thích việc thiện thì lúc đó hiện ra cảnh lành hay thiên đường. Nếu đã gây nhân thì nhất định phải chịu quả. Như nhân thập ác hay thập thiện, rồi tùy đó mà cảnh lành dữ hiện ra, không chạy đâu cho khỏi.
Hỏi: Bản tánh rộng lớn, thể trùm thái hư. Chân tâm vô trụ chẳng ở trong ngoài. Thức tâm trong thân, bị giam hãm cột trói nơi thai ngục. Xin hỏi rằng bên trong của thức tâm có chân tâm, hay lìa ngoài thức tâm có chân tâm riêng khác?
Đáp: Trong quặng có vàng, trong sóng có nước. Tạng thức tại triền che lấp chân như. Người sơ học phải ngộ lẽ chân và vọng. Nương vào chân tâm thì mau chứng Bồ-đề, chạy theo vọng tâm thì phiêu lưu trong sanh tử.
Người hỏi nghi, không biết chân tâm ở trong huyễn thức hay ngoài huyễn thức?
Ngài đáp, khi tạng thức còn bị ràng buộc thì che lấp chân như. Người biết trở về chân tâm, mau chứng Bồ đề; chạy theo vọng tâm thì phải phiêu lưu trong sanh tử.
Hỏi: Chưa biết thức tâm ở trong thân, cái nào là chân, cái nào là vọng?
Đáp: Chân tâm là linh tri, lấy tịch và chiếu làm tâm. Vọng tâm là hữu tri, lấy phan duyên làm tâm.
Chân tâm là cái biết sáng suốt ở trong, lấy lặng lẽ mà chiếu soi làm tâm. Còn vọng tâm là cái biết duyên theo ngoại cảnh, bám vào bóng dáng của sáu trần, lấy đó làm tâm. Hai cái này khác nhau.
Hỏi: Thế nào bảo vọng tâm là hữu tri, lấy phan duyên làm tâm?
Đáp: Vọng tâm vốn không, nhân năng sở mà có, theo cảnh khởi phân biệt, yêu ghét thủ xả, niệm niệm phan duyên, tâm tâm loạn tưởng, duyên theo sáu trần chẳng thôi nghỉ, trụ loạn tưởng chẳng dừng. Thiên đường địa ngục vần xoay các nẻo. Chẳng sanh nhận là sanh, chẳng tử cho là tử. Như khỉ nhảy nhót trên cành, như ngựa giong ruổi trôi nổi trong ba cõi không có ngày dừng.
Năng là cái hay biết, sở là cái bị biết. Hoặc nói, năng là cái hay duyên với pháp trần, sở là chỉ cho pháp trần. Ở trên ngài đã chỉ chân tâm rồi, đến đây là chỉ vọng tâm. Chân vọng rõ ràng, chúng ta chỉ cần chịu khó nhận ra, minh tâm kiến tánh ngay đó thành Phật.
Hỏi: Vọng tâm có biết tại sao nó là hư huyễn?
Đáp: Vọng tâm như trăng đáy nước, có biết như hoa đốm giữa hư không, từ năng sở mà sanh ra, nhân phân biệt mà có, rồi phát thức dụng nơi phù căn, thành ra cái vọng biết của đối cảnh. Nếu lìa tiền trần thì tâm này không có cái thể.
Nếu có biết thì lẽ ra không phải huyễn, sao lại nói là huyễn? Ngài nói, vọng tâm như bóng mặt trăng dưới đáy nước, cái biết đó như hoa đốm giữa hư không, chợt có chợt không, do mê lầm từ năng sở mà sanh ra, rồi nhân phân biệt phát thức dụng nơi phù căn, thành cái vọng biết đối cảnh. Phù căn là căn thô phù ở bên ngoài duyên theo sáu trần, chỉ cho mắt tai mũi lưỡi. Nếu lìa tiền trần thì tâm này không có thể, đó là lẽ thật. Chúng ta thấy bao nhiêu vọng tưởng suy nghĩ của mình, có cái nghĩ nào rời sáu trần không? Một niệm rời sáu trần cũng không được, nghĩ cái gì cũng dính trong sáu trần. Cho nên nếu rời bóng dáng sáu trần thì nó không còn, vì nó không có tự thể.
Nhân cảnh khởi ra chiếu soi, nếu cảnh diệt sự chiếu soi cũng mất. Tùy theo niệm mà sanh trần, niệm không thì trần cũng tàn. Nếu đem hình ảnh của việc này mà làm chân thể của Phật thì có thể gọi là cái nhân hư vọng, lại cũng thành cái quả đoạn diệt. Hư huyễn như vậy đâu có thể là chân thật.
Trong kinh Lăng-nghiêm Phật quở ngài A-nan, lấy nhân huyễn mà tu thành Phật, cũng là Phật huyễn. Lấy vọng tưởng mà tu rốt cuộc chỉ là tu càn, nếu có được cũng chỉ là được cái vọng thôi. Rời tiền trần mà không mất, cái đó không phải mình thì là cái gì? Có người nào rời tiền trần không? Rời sáu trần bên ngoài mà vẫn còn thì mới thật là mình, còn rời sáu trần mà mất thì cái đó không phải là mình.
Hỏi: Thế nào là chân tâm linh tri lấy tịch chiếu làm tâm?
Đáp: Chân tâm trạm nhiên, chiếu soi mà không theo cảnh. Tùy duyên bao hàm cùng khắp mà chưa từng tác ý, sáng tỏ chẳng mê, rõ ràng thường biết, trải ra không dấu, cuốn lại không vết. Như đầm nước lắng trong sáng. Giống như chiếc gương sáng treo trên hư không, muôn tượng sum la bỗng nhiên soi suốt. Chẳng ra chẳng vào chẳng có chẳng không. Đây là chỗ ngàn thánh thầm về, ba đời chư Phật thường trụ. Cũng gọi là thiên chân Phật tánh, cũng gọi là thanh tịnh pháp thân. Lìa đây mà tu rốt lại chỉ thành tà ma ngoại đạo.
Chân tâm trạm nhiên, chiếu soi mà không theo cảnh. Tùy duyên bao hàm cùng khắp mà chưa từng tác ý, không lúc nào không biết, không lúc nào mê. Trải ra không dấu, cuốn lại không vết. Như đầm nước lắng trong sáng. Câu nói này giống như trong Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, khi có các vị tăng tới hỏi đạo lý, ngài Huệ Hải nói “như đầm nước lóng trong, mặc tình mò bắt”. Giống như chiếc gương sáng treo trên hư không, muôn tượng sum la bỗng nhiên soi suốt. Chẳng ra chẳng vào chẳng có chẳng không. Đây là chỗ ngàn thánh thầm về, cũng là chỗ thường ở của ba đời chư Phật. Gọi đó là Thiên chân Phật tánh, cũng gọi là Thanh tịnh pháp thân. Khỏi kiếm pháp thân ở đâu hết, ngay đó là thấy, nếu lìa đây mà tu thì rốt cuộc cũng trở thành tà ma ngoại đạo. Quả là ngài chỉ thẳng đường đi, không có gì giấu giếm.
Hỏi: Chân tâm linh tri tại sao chân thật?
Đáp: Chân tâm lặng lẽ mà chiếu soi, trong lặng không ngằn mé, khắp cõi không thể thấy, tà ma ngoại đạo không thể tìm. Dao bén không thể làm hại, kiếp hỏa không thể đốt, núi Thiết Vi không thể hãm, luân hồi không thể chìm đắm. Vẻ đẹp từ xưa thường sáng rỡ ràng cho đến nay chẳng mê. Người ngộ được tâm tánh chân thật này, thì sự thành Phật không ở tại kiếp số.
Chúng ta ngộ được chân tâm thì ma không biết đâu mà kiếm, cho tới Phật cũng không thấy. Liền đó thành Phật, không nói kiếp số gì nữa.
Đoạn này ngài nói rất kỹ, tôi không nói gì thêm được nữa, mọi người chỉ cần nhướng mắt lên thì thấy! Sờ sờ trước mắt, nhưng bởi chúng ta không nhận ra nên chìm hoài trong luân hồi. Nếu nhận ra nó thì hết luân hồi, chắc chắn bảo đảm một trăm phần trăm như vậy. Còn không nhận ra mà cứ chạy theo vọng thì tất nhiên là luân hồi. Rất tiếc là vì chúng ta còn nuôi dưỡng ý thức, con trâu này nó dùng dằng chạy hoài nên chúng ta nắm không được.
Hỏi: Như thế nào dứt hữu tri để thành linh tri, chuyển vọng tâm để thành chân tâm?
Đáp: Vọng từ sáu căn mà cột, chân từ sáu căn mà mở.
Làm sao mà chuyển vọng tâm để thành chân tâm? Ngài dẫn ý từ kinh Lăng-nghiêm, vọng tâm là do sáu căn cột, chân tâm là do mở sáu căn mà được.
Hỏi: Thế nào là vọng từ sáu căn cột và chân từ sáu căn mở?
Đáp: Tròn sáng không lặng. Vốn không thế giới và thân tâm. Chợt vọng tâm hưng khởi, theo căn trần bày khắp, rồi theo trần mà sanh yêu ghét, giống như con thiêu thân nhảy vào đèn.
Chúng ta đừng nghe nói thể tròn sáng rồi lại tưởng chân tâm tròn vo và sáng như mặt trăng. Không phải vậy? Nếu tưởng như vậy thì tội nghiệp lắm! Vốn không có thế giới và thân tâm, chợt vọng tâm hưng khởi theo căn trần sanh ra yêu ghét. Giống như con thiêu thân nhảy vào đèn, cứ thế mà chết hết đợt này tới đợt khác.
Giong ruổi theo tình thủ xả, như con tằm tự trói mình trong kén. Nếu căn trần chẳng dính nhau thì linh quang tự nhiên chiếu sáng một mình. Nếu vật và ngã nhất như thì sáu căn tự nhiên hỗ dụng.
Như con tằm nhả tơ rồi tự cột trói mình trong kén. Nếu căn trần chẳng dính nhau, mắt đối sắc, tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị không dính thì lúc đó linh quang sáng ngời. Như trong nhà thiền, khi có người hỏi: Thế nào là giải thoát? Thiền sư trả lời: Căn trần không dính nhau, ngay đó là giải thoát.
Căn trần không dính nhau là giải thoát. Chúng ta bây giờ con mắt thì dính với sắc, lỗ tai thì dính với tiếng, cho nên cứ luân hồi. Sắc trần là sanh diệt, thanh trần là sanh diệt... mà cứ dính với nó cho nên mình cũng theo đó mà sanh diệt. Nếu tâm và cảnh không dính, người và mình đều nhất như thì sáu căn tự nhiên hỗ dụng, gọi là được lục thông.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Ông chỉ không theo sự động tịnh, hợp ly, điềm tịnh hay chuyển biến, thông suốt hay nghẽn bít, sanh diệt, tối sáng... mười hai tướng hữu vi như vậy. Tùy theo cái nào nhổ một căn, thoát được cái nêm ngầm bên trong, thầm trở về nguyên chân. Lúc bấy giờ gốc minh diệu phát khởi, diệu tánh phát sáng. Ngoài ra năm cái nêm khác cũng nhổ thoát xong. Chẳng cho tiền trần khởi tri kiến, cái sáng chẳng theo căn, nhờ căn mà cái sáng phát khởi. Do vậy nên sáu căn hỗ dụng.”
Lại nói: “A-nan! Nay các căn ông nếu nhổ xong xuôi rồi thì cái sáng suốt bên trong phát hiện. Như vậy các phù trần và khí thế gian cùng những tướng biến hóa, tất cả như nước nóng làm tan băng, liền đó biến thành tri giác cao tột.”
Ngay nơi sáu căn mà nhổ một căn đừng cho dính với sáu trần thì các căn kia liền được nhổ theo. Việc tu thật khó mà cũng thật dễ. Nếu không nhổ nổi sáu căn, chạy hoài theo sáu trần thì việc tu thật là khó, đời đời không xong. Còn ngay nơi sáu căn mà nhổ đừng cho dính sáu trần thì linh quang độc chiếu, sờ sờ ở trước mắt. Mỗi căn đều phát ra diệu dụng, lục căn thành lục thông hết. Sáu căn nhổ xong rồi, tất nhiên lúc đó cả thân căn và thế giới đều không có gì là thật, chẳng khác nào như nước nóng tiêu băng, lúc đó mới được cái tri giác cao tột.
Ông nếu chưa ngộ tôi xin nói lại rõ ràng về chân tâm và vọng tâm. Chân tâm vọng tâm đều lấy cái biết làm thể. Vọng tâm nương căn trần có biết mà biết. Còn chân tâm lìa căn trần không biết mà biết. Người mới học có lòng mộ đạo, phải ngộ chân vọng cho rõ ràng, rồi hạ thủ dụng công thì tự nhiên đốn chứng.
Người mới tu học ráng nhận cho ra cái đó, chính nhận ra tôi mới thấy cốt yếu của sự tu hành là phải ngồi thiền. Nhờ ngồi thiền mới thấy được tia sáng của nó, còn không thì cứ nghe hoài nhưng không nhận ra nổi. Nhận ra rồi thì an lành, hết sợ sệt. Mỗi người nên thầm thầm mà nhận lấy. Ở đây có ai bụng no rồi không cần sữa ngon nữa không?
Hỏi: Như ngài đã khai thị ở trên, tôi tuy được liễu ngộ, nhưng nghiệp tôi còn nặng, tâm tôi còn phù động không an, lại căn cơ kém nhỏ, chẳng thể đốn chứng. Như vậy phải làm sao?
Đáp: Tánh vốn không ngộ, nhân mê mà có ngộ. Tâm vốn không tu, nhân nhiễm mà có tu. Sở dĩ phiền não có sâu cạn, tập khí có dày mỏng nên mới bày ra phương tiện. Tu có đốn tiệm. Đốn tu khiến người cấu bẩn nhẹ chóng viên thông. Tiệm tu khiến người chướng nặng lần lần trở về bản tánh. Nay giả nêu ra ba căn tánh để tùy cơ mà vào.
Phần trước là vấn đáp để làm sáng tỏ chân tâm, tới đây là phần nói về trình độ tu chứng khác nhau như thế nào.
Người hỏi thưa, ngài dạy thì tôi hiểu rồi, nhưng căn cơ phù động, nghiệp chướng nặng nề làm sao tâm an ổn được?
Ngài đáp, tánh vốn không ngộ, nhân mê mà có ngộ. Bản tánh không có mê ngộ, bởi vì quên bản tánh nên gọi là mê. Bây giờ được nghe thiện tri thức chỉ dạy hoặc nhân xem kinh điển mà thấy, gọi đó là ngộ. Mê ngộ chỉ là đối đãi của quên và nhớ, chứ chân tánh không có mê ngộ.
Tâm vốn không tu, nhân nhiễm mà có tu. Tâm mình nguyên là thanh tịnh thì có gì là tu hay không tu, bởi vì nhân theo sáu trần mà có nhiễm, cho nên mới đặt ra sự tu để gỡ bỏ cái nhiễm đó.
Sở dĩ phiền não có sâu cạn, tập khí có dày mỏng, nên mới bày ra phương tiện. Phật tổ bày ra phương tiện là vì phiền não của mỗi người có sâu cạn, tập khí có dày mỏng khác nhau. Nhất là những vị lớn tuổi mới tu thì tập khí dày lắm, bởi vì sống theo tập quán của thế tục lâu, thành ra gỡ hơi khó. Còn những người từ bé đã vào chùa, họ không quen lối sống ở ngoài thế gian nhiều, nên tập khí mỏng hơn.
Tu có đốn tiệm, tùy căn cơ mà vào. Nói ba căn tánh cũng là giả lập bày ra mà thôi, không phải là sự thật.
Hỏi: Ba căn tánh thế nào?
Đáp: Người căn tánh bậc thượng thì đốn tu, bậc trung thì tiệm tu, bậc hạ thì gắng tu.
Ai cũng tu được hết, thượng thì đốn, trung thì tiệm, hạ thì gắng tu. Nỗ lực thì ai tu cũng được, Phật không bỏ người nào. Nhiều khi chúng ta cứ tưởng, mình căn cơ hạ liệt quá tu không được, đó là vô lý, hạ liệt thì cố gắng. Thí dụ người ta tu năm ngày, mình mười ngày; người ta ba năm mình sáu năm, cứ như vậy mà tu cũng được, không có gì trở ngại.
Hỏi: Người căn tánh bậc thượng đốn tu như thế nào?
Đáp: Hàng căn tánh bậc thượng, căn cơ bén nhạy đã huân tập hạt giống đạo từ trước. Khi một lời buông ra thì tâm địa người ấy liền mở suốt. Tùy trường hợp mà bảo nhiệm hầu trừ sạch dòng lưu thức. Niệm động chẳng tiếp tục, niệm không chẳng giữ, một tâm bình thản lặng lẽ tự hết. Lúc bấy giờ chạm mắt gặp duyên đều là diệu dụng. Ngài Quy Sơn nói: “Ông chỉ tâm không gá vật, thì vật nào có thể ngại người.” Lại nói: “Mỗi niệm phan duyên, nhưng tâm tâm hằng tịnh. Viên dung khắp pháp giới, đốn chứng vô sanh.” Nếu như căn cơ ngu độn lại bày phương tiện để lần hồi trở về.
Người bậc thượng không phải ngẫu nhiên thành bậc thượng, mà đã huân hạt giống đạo lâu đời về trước, cho nên bây giờ ra đời là thuần thục. Chúng ta tu thường hay so sánh thấy mình thua sút người khác rồi buồn. Việc đó không nên. Người có chủng tử lâu nên khi ra đời nghe một câu đạo lý họ liền ngộ; còn người đời trước mới nghe sơ sơ thì làm sao ngộ được, đó là chuyện thường.
Người bậc thượng nghe một câu của thầy tổ hoặc của Phật thì liền ngộ, khi ngộ rồi tùy trường hợp mà giữ gìn cho dòng thức không còn trôi chảy liên miên, hay nói cách khác là chặn đứng nó lại. Vừa dấy niệm động liền buông không tiếp tục, khi không có niệm cũng không cố kìm giữ, chỉ một tâm bình thản lặng lẽ, bấy giờ chạm mắt gặp duyên đều là diệu dụng. Ngài Quy Sơn nói: “Ông chỉ tâm không gá vật, thì vật nào có thể ngại người.” Tâm không dính mắc vào sự vật thì sự vật đâu làm chướng ngại được mình, sở dĩ chúng ta bị vật làm chướng ngại vì tâm theo vật, thấy vật liền phân biệt tốt xấu rồi sanh ra yêu ghét, nên trở thành chướng ngại.
Lại nói: “Mỗi niệm phan duyên, nhưng tâm tâm hằng tịnh. Viên dung khắp pháp giới, đốn chứng vô sanh.” Chữ phan duyên này không phải phan duyên theo cách của phàm phu, mà đối cảnh mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, tâm vẫn biết... đó gọi là phan duyên. Vẫn thấy biết nhưng tâm không chạy theo, không dính mắc nên tâm tâm hằng thanh tịnh, chóng chứng được quả vô sanh. Vì không có niệm khởi tức là trở về tâm thanh tịnh, không sanh không diệt. Tâm đó tròn đầy trùm khắp cả pháp giới. Đây là nói cho bậc đốn ngộ đốn tu, nếu người ngu độn quá thì lập ra phương tiện cho tu, để lần hồi được trở về.
Hỏi: Người đốn ngộ đốn tu, nhân đâu chứng đạo quá mau?
Đáp: Thật có lý này, chẳng phải dối truyền. Thật vậy, nếu “trực hạ minh tâm”, một niệm viên tu đốn chứng, thì chẳng trải qua a-tăng-kỳ, đâu cần kiếp số?
Trực hạ minh tâm là liền đó sáng được tâm. Như trường hợp của Lục tổ Huệ Năng, nghe một câu liền sáng được tâm thì chẳng trải qua a-tăng-kỳ. A-tăng-kỳ là vô số kiếp. Thường nói người tu phải trải qua ba vô số kiếp, nhưng ở đây nói nếu nhận được tâm rồi, viên tu đốn chứng thì khỏi phải trải qua vô số kiếp nào hết. Ngài dẫn kinh làm chứng.
Kinh Đại Niết-bàn nói: “Ví như có người cưỡi thuyền muốn vượt biển cả, nếu thuận buồm xuôi gió thì chỉ trong chốc lát có thể vượt được vô lượng dặm. Còn trái lại, tuy ở lâu vô lượng năm cũng không rời chỗ cũ. Lúc nào đó thuyền hư rã, chìm xuống nước mà chết. Chúng sanh cũng như vậy.”
Kinh Đại Niết-bàn nói, như có người cưỡi thuyền muốn vượt biển cả, nếu thuận buồm xuôi gió thì chỉ trong chốc lát có thể vượt được vô lượng dặm. Còn ngược gió ngược nước thì tuy ở lâu vô lượng năm cũng không rời chỗ cũ. Loay hoay một chỗ hoài, lâu ngày thuyền hư mục rã ra, chìm lĩm xuống nước mà chết.
Kinh Lăng-nghiêm nói: “Như huyễn tam-ma-đề, chỉ khoảng khảy móng tay có thể vượt qua hàng vô học. Cho nên hàng Tam thừa không biết, hàng Thập địa thì sợ hãi. Một niệm thành Phật, thoắt vượt a-tăng-kỳ.”
Chỉ một khảy móng tay liền vượt qua hàng Vô học, hàng Tam thừa thì không hiểu nỗi chỗ đốn ngộ này, còn hàng Thập địa cũng sợ hãi. Chỉ một niệm mà thành Phật, cho nên vượt khỏi kiếp số a-tăng-kỳ.
Hỏi: Người trung căn tiệm tu như thế nào?
Đáp: Bậc thượng căn đốn tu như gió thổi mây bay, hiện vầng trăng sáng rỡ trên nền trời. Hàng trung cơ tiệm tu, giống như lau chiếc gương nhơ, khi bụi hết thì ánh sáng hiện.
Bậc thượng căn đốn tu như gió thổi mây bay, bao nhiêu phiền não chỉ một phen đùa qua là sạch hết. Kiểm điểm lại, trong chúng ta đây có lẽ chưa ai được liệt vào bậc thượng, nếu được thuộc bậc trung cũng là tốt lắm rồi.
Hàng trung cơ tiệm tu, giống như lau chiếc gương nhơ. Lau gương với gió thổi mây bay, hai cái khác nhau. Gió thổi đùa qua thì đám mây tan hết, còn lau gương được một chút thì gương sáng một chút, phải lau đi lau lại năm mười lần gương mới thật sáng.
Như có người hậu học, liễu ngộ được bản tâm, nhưng tập khí từ trước còn nồng hậu, trí thì kém, tâm lại phù động không an, nên suốt mười hai giờ động tịnh bên trong, tất cả đều buông xuống, thiện ác chớ nghĩ, niệm khởi liền giác, giác rồi liền không.
Tuy nói tiệm tu nhưng cũng phải ngộ bản tâm rồi mới tiệm tu. Ngài dạy tu rất rõ ràng. Tất cả những gì suy nghĩ phải buông xuống hết. Không nghĩ ác mà nghĩ thiện hoài cũng không được, cho nên thiện ác đều chớ nghĩ. Niệm khởi liền giác, giác rồi liền không. Đây là cái khó! Niệm khởi làm sao giác được? Thí dụ chúng ta định đi mua đồ thì phải tính xem mua chỗ nào rẻ, chỗ nào mắc. Nếu giác rồi niệm suy tính đó mất tiêu, làm sao biết chỗ nào rẻ mắc để đi mua? Hoặc như có người sắp tổ chức đám tiệc, cần phải nghĩ mua sắm cái này, lo sắp đặt việc kia... Chúng ta thường cho rằng, những việc này cần phải nghĩ, nếu giác thì mất ý kiến hay, nên cứ giữ mãi mà thành thói quen. Đó là chỗ làm cho chúng ta bị kẹt. Vì vậy cần hiểu kỹ, mình vô sự tức là làm tất cả việc mà trong tâm đừng để dính mắc, thì niệm khởi liền giác, giác nó liền không; còn hữu sự thì giác không thể được.
Người xưa nói: “Chẳng sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm.”
Niệm khởi là chuyện dĩ nhiên, ai cũng như ai. Từ vô thủy tới giờ mình chứa trong tiềm thức không biết bao nhiêu thứ vọng tưởng, nó còn nằm sẵn ở đó khi nào rảnh là trồi đầu dậy. Đó là chuyện không sao tránh được, nhưng điều quan trọng là khi niệm khởi liền biết là vọng không theo thì nó tan hoại. Còn không giác mà chạy theo nó cả nửa giờ hoặc mười lăm phút, đó là sống với vọng, tức là nhận giặc làm con. Thường cái nào được chấp nhận thì cái đó sống mãi với mình, cái nào không được chấp nhận thì sớm muộn gì nó cũng phải hết. Bởi lẽ lâu nay mình chấp nhận vọng tưởng, khắng khít không rời, nên nó cứ theo mình. Bây giờ biết rõ rồi không còn lầm nhận nữa, cứ mỗi lần trổi dậy là mỗi lần mình đuổi mắng quở trách, lâu ngày nó tự hết. Nên nói, chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm.
Dụng tâm như vậy, lâu ngày không vọng khởi, phải tự đợi đến lúc người pháp đều mất thì căn trần đốn thoát, chân tâm riêng chiếu, trải ra hay cuốn lại đều vô ngại.
Lúc đó muốn yên hay muốn động cũng được, vì đều vô ngại. Hàng trung căn tiệm tu như đây nói, có lẽ có nhiều người tương tự. Các ngài đã chỉ chỗ thật tu của Thiền tông, như lối chăn trâu của Mã Tổ đã dạy. Vậy thì chúng ta phải ráng nỗ lực tu, vì đây chính là phương pháp cần yếu và nhanh chóng nhất, không có pháp nào nhanh hơn.
Hỏi: Sự công phu của pháp tiệm tu, nên nghiêng về tịnh tọa hay thông cả động tịnh cũng có thể tu chứng?
Đáp: Đốn ngộ tiệm tu tịnh nhiều dễ thành công, còn bậc thượng sĩ động tịnh đều thiền cả. Hàng căn cơ bậc trung bỏ sự nghiêng về lý, đúng như thế ngồi tập cho thuần thục thì tự nhiên động tịnh đều vô ngại.
Đốn ngộ tiệm tu mà được tịnh nhiều thì dễ thành công, nếu động nhiều thì dễ bị chướng ngại. Đó là chỗ chúng ta phải chú ý. Bậc thượng sĩ là bậc đốn ngộ đốn tu nên động tịnh đều thiền, như ngài Vĩnh Gia nói: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền. Nói nín động tịnh thảy an nhiên.” Nhiều người không biết, nghe các tổ nói như vậy, lầm chấp cho rằng làm gì cũng thiền, rồi đi đứng nằm ngồi lăng xăng, rốt cuộc gặp gì loạn nấy, không thể nào yên được.
Chúng ta biết mình là hạng bậc trung thì phải dùng cảnh tịnh nhiều mới dễ thành công. Trong kinh nghiệm cá nhân tôi và của những người chung quanh, tôi thấy rõ điều này. Người nào được cảnh tịnh nhiều người đó tu tiến, người ở trong cảnh động nhiều tu khó tiến. Cho nên phải biết căn cơ của mình mà dùng cho đúng mới có lợi ích lớn, còn không biết mình thấp mà tưởng cao thì rốt cuộc đều bất lợi.
Hàng căn cơ bậc trung bỏ sự nghiêng về lý, tức là đừng mắc kẹt trong hình thức nhiều, đừng nặng về sự; mà phải chuyên nhớ về lý, luôn luôn không rời niệm thanh tịnh của bản tâm. Tập như thế cho thuần thục rồi, lúc đó tự nhiên động tịnh đều vô ngại. Hàng thượng căn không cần tập ngồi, vì các ngài luôn vô ngại. Nếu trung căn thì cần ngồi thiền nhiều, rồi sau mới tới chỗ động tịnh vô ngại.
Hỏi: Hạng căn cơ bậc hạ phải gắng tu như thế nào?
Đáp: Kẻ hạ căn ngu độn, tâm tư chậm chạp, hôn trầm dày nặng, trạo cử lẫy lừng, khó làm cho sách phát. Đối với hạng này, phải y vào sự khai thị và dẫn dắt, nhỏ nhiệm chỉ bày giúp cho căn cơ họ phát khởi. Hạng này phải có tín tâm, chớ lìa tòng lâm, thường theo bậc thiện tri thức chí thành nghe dạy dỗ, chớ nhận cảnh ma, ngày ngày nhận sự rèn luyện, giờ giờ tự mài giũa, đối trước Phật sám hối tội nghiệp của mình. Ở trong chúng phải hạ tâm, sau khi được ngộ không thể lìa thầy. Đại khái phải quên trần thế, bồi dưỡng sâu dày, lâu ngày tu tập như vậy mới được tương ưng.
Kẻ hạ căn ngu độn, tâm tư chậm chạp, hôn trầm dày nặng, trạo cử lẫy lừng. Ngồi yên thì gục, hết gục thì loạn, hai cái đó thay phiên nhau, không có phút giây nào yên ổn, gọi là căn cơ bậc hạ ngu độn nhiều, khó tiến lên được. Những người này phải tin tưởng vào vị thầy chỉ dạy dẫn dắt. Vị thầy lấy kinh nghiệm riêng nhỏ nhiệm chỉ bày, giúp cho căn cơ phát khởi, mình phải tin làm. Phải có tín tâm mạnh, chớ lìa tòng lâm, luôn ở yên một chỗ hoặc nương chùa chiền vắng vẻ để tu. Thường theo bậc thiện tri thức chí thành nghe dạy dỗ, chớ nhận cảnh ma. Ngày ngày nhận sự rèn luyện, giờ giờ tự mài giũa tâm mình, đối trước Phật sám hối cho tiêu tội nghiệp cũ.
Tóm lại, đối với bậc thầy thì nghe nhận lời dạy, đối với tự tâm thì gắng mài giũa, đối với Tam bảo thì luôn luôn sám hối cho tiêu nghiệp. Ở trong chúng phải hạ mình, lúc nào cũng thấy mình là kẻ thấp. Sau khi ngộ cũng không nên lìa thầy. Những người này phải quên hết trần thế, ráng bồi dưỡng cho nhiều, lâu ngày tu tập như vậy dày công gắng sức mới được tương ưng. Hàng căn cơ bậc hạ gắng tu thì cũng có kết quả tốt.
Hỏi: Kẻ hạ cơ ngộ tu, do đâu lại phí sức như vậy?
Đáp: Kẻ căn cơ trì độn, phiền não nồng hậu, hôn trầm trạo cử, tâm lại phù động, ngu muội che nặng, nếu không cần cù tu tập thì linh cơ khó phát. Người xưa nói: “Kẻ hạ căn dùng muôn ngàn thí dụ nói cho cũng không thể lãnh hội.” Kẻ này dù được một ít hiểu biết cũng cho là triệt ngộ, chẳng nhận dạy dỗ, ngã mạn khinh người. Bọn người như vậy phải sanh hổ thẹn, không như vậy thì điên cuồng và rơi vào đường tẽ.
Linh cơ tức là máy linh. Người xưa nói: “Kẻ hạ căn dùng muôn ngàn thí dụ nói cho cũng không thể lãnh hội.” Dùng hết thí dụ này qua thí dụ kia, nói bao nhiêu cũng không biết. Đã tối tăm lại không chịu nghe lời chỉ dạy, thêm ngã mạn khinh người. Người thấy căn cơ mình kém thì phải luôn luôn hổ thẹn để cố gắng tu, nếu tự ngã mạn cống cao thì thế nào cũng đi lạc đường không thể ra được.
Đó là ba hạng người căn cơ sai khác, nhưng tùy theo khả năng mà người nào cũng có thể tu được. Nếu trình độ lanh lợi thì tu nhanh, hơi trung trung thì tu chậm, còn hạ liệt thì công phu tu phải nhiều hơn.
Hỏi: Người ngộ lý bảo dưỡng chắc chắn, làm thế nào biết chân tâm hiện tiền?
Đáp: Người ngộ lý khi tập khí chưa hết gặp cảnh còn thất niệm, nên cần phải hậu dưỡng. Như người chăn trâu, dắt trâu đi chỗ nào cũng ghìm roi, đợi cho tâm nó thuần thục, bước đi ổn thỏa, không phạm đến lúa mạ mới có thể buông tay, chẳng cần chăn nữa.
Người đối với lý chân tâm đã ngộ, nhưng tập khí chưa sạch khi gặp cảnh bị thất niệm. Thí dụ, người trước đây hay chơi nhạc, bây giờ tuy ngộ lý tu hành, nhưng bất thần nghe đánh đàn ở đâu đó, thì tập khí cũ liền trổi dậy, không làm chủ được, nên cần phải nuôi dưỡng cho sâu dày.
Như người chăn trâu, dẫn trâu đi đâu cũng cầm roi ghìm sẵn trong tay, chừng nào con trâu thuần rồi, đi đâu thấy cái gì nó cũng không thèm liếc nhìn, lúc đó mới buông roi. Nếu vừa thấy lúa mạ mà nó quay đầu thì phải cầm roi quất, nếu không thì nó kéo lôi luôn cả mình. Đó là thuật khéo chăn trâu.
Nếu muốn thí nghiệm chân tâm coi được thuần thục hay chưa, nên đem việc bình thường mình đã yêu hay đã ghét, tìm cho ở trước mặt, thấy nghe để thử nó. Nếu y như trước mà khởi tâm yêu hay ghét thì biết rằng đạo chưa thuần thục. Nếu gặp cảnh thuận hay nghịch mà chẳng khởi tâm yêu ghét thì biết đã gần đạo và chân tâm hiện tiền.
Thí dụ lúc bình thường mình thích ăn ngon, bữa nay đợi bụng đói lại trước món ăn ngon thử coi mình làm chủ được chưa? Nếu thấy mà không bị nó lôi thì khả dĩ hơi thuần. Hoặc bình thường mình ghét người đó lắm, không muốn thấy mặt; bây giờ thử ngồi nói chuyện với người đó coi còn ghét nữa không? Nếu nói một hồi sanh ghét thì biết chưa được, còn an nhiên không buồn giận là đã được rồi. Ghét cái gì, thích cái gì, thì tự lấy những việc ấy mà thử mình. Nhiều khi tưởng mình đã thuần, nhưng lúc gặp cảnh liền nổi lên yêu ghét không hay. Cho nên muốn biết thuần hay chưa thì phải chịu khó thử nghiệm. Nếu giống hệt khi xưa, trước ghét giờ cũng ghét, trước thích giờ cũng thích thì biết là chưa thuần thục. Khi gặp cảnh thuận nghịch vẫn như như, không thương không ghét thì biết đã gần đạo, tâm đã thuần thục rồi. Đó là việc tu hành chính yếu, chứ không phải đợi thấy hào quang sáng rỡ, hay thấy Phật rờ đầu.
Có nhiều vị dạy tu thiền, nói những cảnh huyền bí trong khi ngồi thiền, rồi đem những cảnh đó mà luận gần đạo hay xa đạo. Thiền tông thì khác, chỉ căn cứ tâm mình thuần hay chưa thuần, nếu nói sao tu ba tháng, bảy tháng, một năm... không thấy gì lạ hết, thì đó là người không hiểu gì về Thiền tông. Tu theo Thiền tông là vậy, rất đơn giản, không có chút hư huyễn nào hết. Thấy cảnh lạ thì sợ hoặc mừng. Như thấy ánh sáng hoặc thấy Phật xoa đầu thì mừng, thấy ma hiện đâm ra hoảng sợ, rất dễ lạc vào cảnh ma. Nguy hiểm là ở chỗ đó.
Tu theo Thiền tông thì đơn giản, niệm vừa khởi là đã không chấp nhận, vì dứt bặt tâm tưởng thì làm sao thấy cảnh lạ được. Hai lối tu khác nhau như vậy. Người không biết nghe nói tu thiền cứ hỏi được cái gì, thấy gì lạ không? Có tưởng mới thấy, không tưởng thì lấy gì mà thấy. Trong khi tu, nếu có thấy những cảnh lạ cũng không chấp nhận, chứ không phải thấy rồi cho mình cao. Vì vậy ở đây ngài dạy mình kỹ càng, nếu gặp cảnh thuận hay nghịch mà chẳng khởi tâm yêu ghét thì biết đã gần đạo và chân tâm hiện tiền.
Chỗ gần đạo hay xa đạo chỉ là khi đối cảnh thuận nghịch, tâm có khởi yêu ghét hay không? Không khởi yêu ghét là gần đạo, còn yêu ghét là xa đạo. Đó là chỗ rất thực tế, không có gì huyền bí.
Nếu muốn thí nghiệm tâm yêu, nên tưởng tượng cảnh yêu thích nào đó. Tâm yêu thích này hoàn toàn lặng lẽ chẳng khởi. Muốn thí nghiệm lại tâm ghét, nên tưởng cảnh giận ghét nào đó, tâm giận ghét hoàn toàn chẳng khởi. Đến đây mới có thể tự tại tùy duyên, đối vật không ngại.
Trước đây mình yêu ghét cái gì, cảnh đó hiện giờ không có nhưng tưởng tượng để thử coi tâm mình còn yêu ghét nữa không? Nếu tưởng ra cảnh đó mà tâm như như, không thích không ghét là đã thắng. Như vậy mới gọi là tùy duyên tự tại đối vật không ngại, nếu còn tưởng yêu ghét là chưa được vô ngại.
Hỏi: Chân tâm chưa hiện tiền, khi dụng công dứt vọng, đồng thời cũng làm các điều lành, hầu giúp cho đạo dễ thành công. Như vậy lý kia có nên không?
Đáp: Dứt vọng tâm là chánh tu, làm các điều lành là trợ tu. Nếu hữu tâm làm thiện lại dính mắc vào thiện thì nhất định rơi vào phước báo cõi người, cõi trời.
Dứt vọng tâm là chánh tu, làm các điều lành là trợ tu. Ở đây chấp nhận đồng thời dứt vọng, đồng thời làm thiện, nhưng làm thiện mà đừng dính mắc vào thiện, nhớ vậy. Nếu dính mắc thì rơi vào quả báo cõi người cõi trời.
Nếu vô tâm tương ưng với điều thiện thì có thể bảo đó là một sự trợ giúp cho việc tu hành. Kinh Bát-nhã nói: “Tu-bồ-đề! Bồ-tát nếu không trụ tướng bố thí, thì phước đức kia không thể nghĩ lường.” Nay thấy có người học, chấp nghiêng về một bên chẳng thấy toàn diện. Có chút ngộ lý liền tựa vào thiên chân chẳng làm các điều lành, nên phước kém mà ma lại mạnh.
Người làm điều lành có phước lớn nên ma tránh xa, còn chỉ giữ cái thiên chân mà không làm lợi ích cho chúng sanh thì phước không có, nên ma mạnh làm chướng ngại sự tu. Cho nên người biết tu, thời gian còn sống trong chúng chưa làm lợi tha ở bên ngoài nhiều, phải trải thân mình làm việc giúp đỡ trong chúng, gây phước lành cho bớt nghiệp chướng, đó là tốt. Còn ỷ hiểu được chút ít ngồi đó sai thiên hạ, không làm phước cũng không tu, là tự làm cho mình tổn đức lâu ngày thành chướng, sự hiểu biết của mình cũng tự lui sụt. Phước giúp chúng ta vượt qua những khó khăn một cách dễ dàng, thiếu phước thì toàn gặp chướng làm cho mình bị trở ngại.
Hỏi: Muôn điều thiện hữu vi là phước đức. Kiến tánh vô vi là công đức. Tại sao lại gồm tu cả hữu vô lộn xộn như thế?
Đáp: Hữu vi mà dính vào hữu vi thì được quả báo trời người, hữu vi mà không nhiễm thì công phu ấy được hiển hiện tánh đức.
Tuy làm phước hữu vi mà không nhiễm không mắc, đó vẫn là hiển hiện được tánh đức.
Hỏi: Khi đã ngộ tâm chứng lý, liền có thần thông biến hóa. Thời nay người ngộ lý rất nhiều mà người đủ thần thông rất ít. Tại sao thế?
Đáp: Hiển hiện thần thông biến hóa là ngọn, cần phải đạt được cái gốc của nhất tâm. Khi gốc được thành lập thì đạo sanh, lúc bấy giờ thần thông tự nhiên hiện. Nếu chuyên lấy cái thắng tướng của thần thông biến hóa làm đạo thì thiên ma ngoại đạo, yêu mị thần long đều là Phật cả.
Phần hỏi về thần thông này rất cần yếu cho người tu thời mạt pháp. Thời mạt pháp gọi là pháp nhược ma cường, cho nên đa số người tu đều lầm lẫn, rồi mắc kẹt trong yêu quái mà không biết. Chúng ta cứ nghe hôm nay ở đằng kia nổi lên một ông, ít hôm ở đằng nọ nổi lên một bà. Họ dùng bao nhiêu thứ yêu mị để lừa bịp thiên hạ, vậy mà người ta đổ xô nhau tin tưởng. Cho nên phải học thật kỹ, biết đâu là tà ngụy, đâu là chân chánh, để bỏ tà mà tu chánh. Dù cho một đời không ngộ nhưng tu đúng chánh pháp thì hạt giống tốt của mình cũng đã tăng trưởng, tuy chưa thành cây nhưng ít ra cũng được nảy mầm. Nếu lạc vào đường tà, chẳng những không lợi cho mình mà có thể là tai họa cho kẻ hậu tấn. Vì mình đi lầm thì đồ đệ cũng lầm theo, hại mình hại người thật là tai họa lớn!
Hiển hiện thần thông biến hóa là ngọn, cần phải đạt được cái gốc của nhất tâm. Đối với sự tu phải nắm được gốc, đó là nhất tâm. Thần thông biến hóa là ngọn ngành, không phải là việc chánh. Chúng ta cứ mê theo ngọn mà bỏ gốc, nghe ai có thần thông liền chạy tới mà không biết cái gốc nhất tâm của mình.
Khi gốc được thành lập thì đạo sanh, lúc bấy giờ thần thông tự nhiên hiện. Nắm được gốc vững tức là nhất tâm thì đạo hiện tiền, lúc ấy thần thông tự có, đâu cần phải mong.
Nếu chuyên lấy cái thắng tướng của thần thông biến hóa làm đạo thì thiên ma ngoại đạo, yêu mị thần long đều là Phật cả. Nếu ngồi tu mà cứ mong làm sao cho tai mình nghe được tiếng người nói cách ba bốn chục cây số... Lấy cái nghe ấy cho là được đạo, đó là sai lầm. Thiên ma ngoại đạo, yêu mị thần long đều là Phật hết. Vì sao? Vì yêu ma, quỷ mị, thần long đều có thần thông như Phật, vậy họ là Phật hết rồi! Cho nên theo ngọn là bị lầm.
Muốn được thần thông chân thật cần phải chứng pháp Nhất thừa. Pháp Nhất thừa này hay phát ra diệu dụng Bát-nhã. Ngay nơi trần lao mà thành Chánh giác, hiện trong sanh tử mà chứng Niết-bàn.
Khi đạt pháp Nhất thừa, tức là thấy được chân tâm. Bởi thấy được chân tâm cho nên biết các pháp ở thế gian đều hư huyễn, gọi là được diệu dụng Bát-nhã. Được diệu dụng Bát-nhã thì hiện tại ở trong trần lao mà thành Chánh giác, ngay trong sanh tử đã chứng Niết-bàn rồi.
Chỉ khoảng một sát-na mà bỏ phàm làm thánh, trong chốc lát biến có trở về không. Thần biến như thế chẳng phải là pháp huyễn có thể làm được.
Làm thánh là do mình có trí ngộ đạo, chứ không phải do có thần thông. Thần thông yêu ma quỷ mị cũng có, cho nên thánh và phàm khác nhau chỗ mê ngộ, chứ không phải khác nhau ở chỗ có thần thông hay không thần thông. Chúng ta thường lầm lẫn, cứ nói thánh có thần thông còn phàm không có thần thông, rồi cứ như vậy chạy theo mà không ngờ ma cũng có thần thông. Nếu tỉnh ngộ thì từ phàm trở nên thánh, chứ đâu phải đợi có thần thông mới gọi là thánh. Khổng Tử đâu có thần thông mà người ta vẫn tôn xưng là thánh. Như vậy để thấy rõ rằng, thánh là người ngộ được lẽ chân, có trí biết rõ sự vật không lầm, chứ hoàn toàn không ở thần thông.
Khi ngộ được các pháp như huyễn, trong chốc lát là bỏ phàm vào thánh, biến có về không, thần thông của ma quái làm sao có thể làm được việc này. Thí dụ ngay cái bàn này, biết tánh nó là không, có đó như huyễn, tức là ngay cái có mình đã biến thành không. Trí tuệ của mình, phép biến hóa không thể nào sánh nổi, vì đó là cái thật. Phép biến cái này ra cái kia, những người học ảo thuật họ cũng làm được. Nó không phải là pháp chân chánh, mà đại đa số người tu hành cứ mắc kẹt trong đó.
Cổ đức nói: “Thông có năm loại, một là Đạo thông, hai là Thần thông, ba là Y thông, bốn là Báo thông, năm là Yêu thông.
Gì là yêu thông? Yêu thông là loài hồ ly già biến hóa ra, tinh ba của cây đá hóa ra, thần nương tựa vào người thông tuệ kỳ lạ, đấy là yêu thông.
Chúng ta nghe kỹ, ráng nhớ năm thứ thông này để sau không lầm.
Yêu thông là do loài hồ tinh biến hóa ra, nó là con chồn già ở trên núi lâu ngày hóa thành tinh. Hoặc từ tinh ba của cây thật già, những hòn đá lớn lâu năm, hoặc những pho tượng mà người ta tạc thành... Thần nương tựa vào người, nói năng thông minh lưu loát thông tuệ kỳ lạ, nhưng không giữ giới luật, tự xưng này kia khiến người bái phục cho là Bồ-tát tái thế.
Bây giờ chúng ta cũng thấy có nhiều hình tướng do yêu ma nương tựa vào người mà không biết, tưởng là thánh. Những thứ đó, gọi là yêu thông. Trong kinh thường nói, khi mới nương tựa nó còn tử tế, sau dần nó dẫn dắt mình phá trai phạm giới, lúc ấy đã nhiễm rồi thì khó mà gỡ ra được, vì đâu còn biết gì. Như có vị tự xưng là giáo chủ mà hai vợ, ăn mặn, vậy mà người ta vẫn tin. Do yêu quái có tuệ thông kỳ lạ, biết được ý người nào thích cái gì nó nói đúng sở thích, khiến cho người đó say mê theo.
Vừa rồi có người thuật lại tôi nghe, một bà hồi xưa mua bán khá giả sau muốn đi tu. Bà tìm tới chỗ có người xưng là Di-lặc giáng thế, mới vào ngồi thì cô nhập về gọi tên và cả pháp danh của bà. Pháp danh đó là lúc bà còn nhỏ, mẹ đem vô chùa xin Thầy cho, chỉ có bà và mẹ biết thôi chứ người ngoài không ai biết, mà sao cô về kêu đúng pháp danh. Cô còn nói bà có một ngôi vị sẵn ở trên trời, ráng tu để trở về kịp hội Long Hoa. Nghe nói đúng tên họ, đúng cả pháp danh, bà mừng quá tin rằng mình đã có ngôi vị sẵn, cho nên về bán hết đồ đạc trở lại ở luôn trong đó. Như vậy, Di-lặc là ai? Đều là cây đá, hồ ly... hóa thành tinh dựa vào người, nói những điều kỳ lạ, biết được việc quá khứ vị lai khiến người mê hoặc, đó là yêu thông mà thôi.
Gì gọi là Báo thông? Báo thông nghĩa là quỷ thần biết nghịch, chư thiên biến hóa, sự liễu sanh của thân trung ấm, sự ẩn biến của thần long, đấy gọi là báo thông.
Báo thông tức là những loài quỷ thần có hiểu biết trái lạ. Việc người thường không thể thấy, không thể biết được mà những loài quỷ thần này nó biết được, nên gọi là biết nghịch. Những vị này sanh vào các loài có thân hình dị thường, mang quả báo có những tướng lạ như thần long, a-tu-la... gọi là báo thông.
Gì gọi là Y thông? Nghĩa là nương pháp mà biết, nương nơi thân mà dùng, nương nơi đạo bùa mà tới lui, thuốc bổ mầu biến, đấy là y thông.
Nương một phương pháp nào đó mà biết được việc này việc kia, nương nơi thân này mà dùng được những cái hay lạ, nương nơi bùa chú mà có thần dụng tới lui phi thường, hoặc nương thuốc bổ mầu nhiệm biến ra những triệu chứng lạ... Những thứ này đều gọi là y thông.
Gì gọi là Thần thông? Thần thông là tịnh tâm soi vật, túc mệnh ghi giữ, muôn ngàn phân biệt đều từ định lực, đấy là thần thông.
Thần thông là từ định lực mà có. Do tâm thanh tịnh soi chiếu sự vật, những mạng sống của vô lượng đời trở về trước thảy ghi nhớ hết, muôn ngàn sự phân biệt hiểu biết đều do sức định mà biết, đó gọi là thần thông.
Gì gọi là Đạo thông? Vô tâm ứng vật, duyên biến hóa khắp vũ trụ, như trăng ở đáy nước, như hoa ở trong hư không, bóng hình không chủ, đấy là Đạo thông.
Chỉ Đạo thông này là chân, ngoài ra các thông khác đều là tà ngụy. Ngụy thì chẳng chân, tà thì chẳng chánh, làm cho tâm hoặc loạn sanh và mê mờ bản tánh. Cho nên người học đạo chân thật chẳng giữ thần thông sợ trái chân lý.
Đạo thông là đối với tất cả sự vật không dấy tâm động niệm, ở trong vũ trụ thấy những biến hóa của sự vật thảy đều biết như trăng ở đáy nước, như hoa đốm trong hư không, đều không có chủ. Hoặc nói dễ hiểu, tâm mình lặng lẽ như như, đối duyên xúc cảnh tự tại, biết tất cả pháp đều là huyễn hóa, không có ngã thật, đó là Đạo thông.
Chỉ có Đạo thông này là chân thật, ngoài ra các thông khác đều là tà ngụy, ngay cả thần thông do định mà có cũng là tà ngụy. Như vậy thông này ai có? Chỉ những người thật tu mới có. Thần thông kia có thể mất, còn đạo thông này thì không mất. Vì biết các pháp là huyễn hóa đó là cái của mình, đâu ai làm cho mất được.
Từ thần thông trở lên yêu thông, bốn thứ đó đều là tà ngụy. Ngụy thì không thật, tà thì không chánh. Bởi ngụy và tà mê hoặc tâm mình, làm cho mình bị mờ tối, cho nên khi tu đừng ham những điều đó. Người học đạo chân thật thì không thích thần thông, vì thần thông trái với chân lý.
Trong sách Phụ Hành Ký nói: “Người tu tam-muội, chợt phát thần thông, phải mau mau trừ bỏ nó, vì là pháp hữu lậu hư vọng vậy.” Trong Chỉ Quán nói: “Thần thông hay làm chướng Bát-nhã. Kẻ hạ căn vọng cầu thần thông làm chánh đạo. Bậc trí quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. Chỉ như bậc ứng hóa Bồ-tát chứng lý thánh hiền, rốt sau bày hiện thần biến ắt chẳng ở đời. Nếu còn ở đời mà hiện thần thông để giáo hóa người, đây chẳng phải yêu thì cũng là ma mị.”
Khi tu được định sâu thần thông hiện ra, phải bỏ liền đừng khởi tâm vui mừng, cũng không tìm kiếm. Được phát thần thông còn phải bỏ không dùng, huống là tìm kiếm. Vì dùng nó là trái với chân lý. Hiểu rõ thì sự tu mới vững, còn không hiểu mà tu dễ bị lầm lẫn.
Lâu nay người ta thường nói tu thiền điên. Tôi dám nói quả quyết ngược lại, không biết tu thiền mới điên. Tu thiền mà không biết rành rõ cho nên mới điên, chứ biết rành rõ rồi thì làm gì điên! Mình không chấp nhận những tà ngụy, làm sao nó dẫn mình được mà điên. Sở dĩ điên là tại mong cầu, mong có thần thông, thấy hào quang, thấy Phật... thấy đủ thứ hết. Đến khi những thứ đó hiện ra mừng quá, bị nó nhập tâm dẫn đi thành điên cuồng. Nếu biết tất cả những thứ đó đều là hư vọng, tà ngụy, không thật thì mình không theo, không theo làm sao điên được. Dù là tự trong tâm phát ra sáng suốt, biết được quá khứ vị lai cũng vẫn bỏ, không chấp nhận thì cái gì dẫn được mà điên. Đó là lẽ thật. Nắm được chỗ cốt yếu này rồi chúng tôi mới dám dạy tu thiền. Trước đây khi chưa nắm được chỗ này, nghe ai nói tu thiền cũng nghi nghi, lỡ điên làm sao? Cho nên hiểu thật rõ rồi, tôi dám chắc tu thiền không điên, điên là tại vọng cầu, bởi vọng cầu nên ma nhập sanh điên.
Trong Chỉ Quán nói: Thần thông hay làm chướng Bát-nhã. Bởi vì thần thông là biến hóa, nó làm cho mình không còn trí sáng suốt để phán xét sự vật như huyễn nữa, nên nói làm chướng Bát-nhã.
Kẻ hạ căn vọng cầu thần thông làm chánh đạo. Bậc trí quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. Kẻ hạ căn ngu độn cứ mong cầu thần thông, cho đó là chánh đạo. Còn bậc trí thì quán thật tướng của thân, thấy thân này là hư giả, tự tánh của nó là không. Quán Phật cũng vậy, những hình tượng của Phật cũng chỉ là hư giả.
Hằng ngày chúng ta tụng kinh có câu “Năng lễ sở lễ tánh không tịch”, đó chính là quán thật tướng của thân và của Phật, tánh đều vắng lặng. Năng lễ là mình hay lạy, sở lễ là đức Phật để mình lạy, cả hai tự tánh đều rỗng không lặng lẽ, do duyên hợp cho nên huyễn có thân này, huyễn có tượng Phật. Nhưng “Cảm ứng đạo giao nan tư nghì”, thấy được như vậy rồi cảm ứng giữa Phật với mình không thể nghĩ bàn. Nếu chấp hình tướng Phật là thật, thân mình là thật là thành mê lầm, mê lầm thì không cảm ứng được. Nên nói, bậc trí quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy.
Chỉ như bậc ứng hóa Bồ-tát chứng lý thánh hiền, rốt sau bày hiện thần biến ắt chẳng ở đời. Như ngài Đặng Ẩn Phong, hai bên giặc đánh nhau, vì muốn giảng hòa nên ngài phi thân lên hư không, giặc thấy vậy ngừng đánh. Ngài trở về nhập Niết-bàn, vì hiện thần thông là trái luật Phật.
Nếu còn ở đời mà hiện thần thông để giáo hóa người, đây chẳng phải yêu thì cũng là ma mị. Nhớ như vậy, chúng ta phải lấy câu này làm thước đo. Còn sống ở đời mà hiện thần thông để dạy người, rằng tôi có phép lạ này phép lạ kia, không phải yêu ma thì là gì? Đó không phải là thánh, không phải là người đạt đạo thật.
Những đoạn này thật hay, chúng ta cần phải học để nắm vững đường lối tu, không thì dễ bị lầm lẫn. Thời của chúng ta là thời hỗn độn, vàng thau lẫn lộn, không biết đâu mà phân biệt chánh tà, chỉ dạy người cũng không căn bản, tà quái hưng thịnh làm cho Phật pháp suy đồi.
Hỏi: Người chưa ngộ, mê mờ chân lý, đuổi theo vọng tình, tạo nhân thiện ác, phải trả quả khổ vui, tùy theo nghiệp mà thọ sanh, lý kia chẳng còn nghi. Kẻ sĩ ngộ lý, nhanh chóng trở về chân tâm, vượt các nhân quả, dứt các đối đãi, điểm linh của thân sau, nương gá chỗ nào?
Đáp: Tất cả chúng sanh tùy theo nhân mà thọ quả, lấy duyên làm chỗ sanh, nên bảo đấy là chỗ nương gá. Kẻ sĩ ngộ lý, người chứng đạo, chẳng đồng với phiêu linh lãng tử ở thế gian. Như quỷ thú vô chủ cô hồn, trôi nổi không chỗ nương chỗ gửi. Nếu khế ngộ được bổn lý hiện tiền thì bốn phương trên dưới đều là chân tâm. Đấy là toàn thân thọ dụng, không có chỗ nương gá nào riêng khác. Cổ đức nói: “Suốt cõi đất là mắt của Sa-môn.” Lại nói: “Suốt cõi đất là già-lam.”
Chỗ này đa số người nghi, không biết tu thiền chết gá về đâu? Ngài giải thích, tất cả chúng sanh tùy theo nhân mà thọ quả, tạo nhân nào thọ quả nấy. Lấy duyên làm chỗ sanh, nhân duyên đến thì phải thọ sanh, có chỗ có nơi nên gọi là nương gá.
Kẻ sĩ ngộ lý, người chứng đạo chẳng đồng với phiêu linh lãng tử ở thế gian, trôi nổi phiêu bạt; hay như những loài quỷ thú vô chủ cô hồn, lang thang đói khát; mà là người khế ngộ được bổn lý hiện tiền, bốn phương trên dưới khắp tất cả đều là chân tâm.
Đấy là toàn thân thọ dụng, không có chỗ nương gá nào riêng khác. Người ngộ lý, đạt được tất cả chỗ đều là chân tâm trùm khắp thì nơi nào không phải là chân tâm, cho nên toàn thân thọ dụng, không gá nương riêng một chỗ nào. Nên cổ đức nói, suốt cõi đất là mắt của Sa-môn, suốt cõi đất là già-lam. Cả quả đất này đều là con mắt của Sa-môn, ở đâu cũng là ngôi già-lam thanh tịnh hết thì còn lựa chọn chỗ nào!
Thượng thư Ôn Tháo hỏi ngài Khuê Phong rằng: “Người ngộ lý một phen tuổi thọ hết, phải nương gá chỗ nào? Khuê Phong đáp: Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ giác tánh linh minh, cùng Phật không khác. Nếu hay ngộ tánh này tức là pháp thân thì vốn tự vô sanh có gì nương gá? Cái tánh linh minh này là cái sáng suốt mầu nhiệm chẳng mê, rõ ràng thường biết, không từ đâu đến và cũng không trở về đâu.
Ngộ được giác tánh linh minh này, đó là pháp thân Phật của mình. Pháp thân trùm khắp, còn nương gá vào chỗ nào? Không sanh không diệt thì gọi chỗ nào là chỗ nương gá? Vì tánh linh minh này sáng suốt, rõ ràng thường biết, mầu nhiệm chẳng mê, không từ đâu đến cũng không trở về đâu.
Chỉ lấy không tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân. Lấy linh tri làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi đều chẳng theo nó, thì khi lâm chung nghiệp không thể trói buộc.
Lấy rỗng không lặng lẽ làm tự thể, đừng chấp thân tứ đại làm mình. Lấy hiểu biết sáng suốt làm tâm, chớ nhận vọng niệm. Không theo vọng niệm thì nghiệp không buộc ràng mình được.
Tuy có thân trung ấm mà chỗ đến tự tại, cõi trời, cõi người tùy ý gửi nương. Tất cả những dòng trôi chảy nhỏ nhiệm đều rỗng cả, chỉ còn có viên giác đại trí soi sáng. Tùy cơ hóa độ chúng sanh có duyên, ngộ tâm chứng lý, đồng thành Phật đạo”.
Bỏ thân này rồi tuy có thân trung ấm, nhưng mà tự tại ưng đi đâu thì đi. Lúc đó tùy duyên mà hóa độ, chứ không nhất định phải đi đâu, đến chỗ nào. Nếu ngộ tâm thấy tánh, không còn bị vọng niệm lôi cuốn nữa thì khi chết tự tại, đâu đâu cũng là nhà. Ứng hóa thân vô lượng, muốn giáo hóa ở đâu thì tùy duyên mà đến đó.
Hỏi: Xưa có những bậc cao tăng, toàn thân ngồi hóa, lâu năm chẳng hư hoại, móng và tóc mọc dài ra, chưa biết việc này là đạo lý gì?
Đáp: Đấy là hàng Tiểu thừa thân trụ trong diệt định. Định này chỉ diệt đệ lục thức, còn đệ bát thức duy trì thân thể. Tất cả đều do chán hữu thích không, tạm mong dừng hơi thở. Tuy nhiên, nhập định này trải qua thời gian dài lâu mà hơi ấm chẳng diệt mất, về sau thức khởi dậy như rét cách ngày. Phải ngộ tánh định mới thoát khỏi luân hồi.
Có những vị tu ngồi tịch luôn, lâu ngày tóc móng tay ra dài, chúng ta thấy chắc là kính trọng lắm, nhưng dưới cái nhìn của ngài thì khác. Đó chỉ là trụ trong diệt định, lâu dần thức cũng sống dậy như rét cách ngày, phải ngộ tánh mà định mới ra khỏi luân hồi.
Hỏi: Ngài Ca-diếp đắc diệt tận định, cùng với diệt định của Tiểu thừa là đồng hay khác?
Đáp: Đại thừa lý diệt, Tiểu thừa sự diệt. Diệt tận của Đại thừa do đầy đủ năm uẩn, hai thức thứ bảy và thứ tám hay dẫn oai nghi, định hay tán đều vô ngại, sự và lý đều chẳng bỏ. Hàng Tiểu thừa tuy có sắc hành, tiền lục thức đã lặn mất, nhưng toàn thiếu oai nghi, định và tán chẳng viên mãn, bỏ sự nghiêng về tịch, cho nên định chẳng đồng.
Định của Đại thừa khác Diệt tận định của Tiểu thừa. Định của Đại thừa thuộc về lý diệt, đi đứng nằm ngồi vẫn như thường, bởi vì thức thứ bảy và thức thứ tám hay dẫn oai nghi, định hay tán đều vô ngại, sự và lý đều chẳng bỏ. Vì vậy các thiền sư vẫn đi đứng, nói năng, làm việc, ăn uống... bình thường mà tâm như như, định mà không thấy định.
Diệt tận định của Tiểu thừa thuộc về sự diệt, nghĩa là phải ngồi lặng lẽ dứt tất cả tưởng và thọ, coi như thân chết không cựa động tợ cây khô, cho đến người ta lấy lửa thiêu luôn; hoặc có vị ở trong bộng cây nhập định, trải qua mấy trăm năm không hay biết gì hết.
Nhớ lại khi xưa mới tìm đường tu thiền, tôi có học qua thiền Tiểu thừa. Lúc đó tôi ngồi thiền quên cả thân, say trong cái định không biết gì hết, rồi tưởng mình tinh tấn cho là được định, nhưng sau biết ra đó vẫn chưa phải. Ngồi an định biết tất cả mà tâm không động, đó mới thật là định. Ở Nhật Bản, ngồi thiền mà tờ giấy trên bàn bay xuống, người ta đưa tay ra chụp. Tới giờ đánh chuông xả thiền, vị nào vẫn còn ngồi yên không hay thì bị thổi lỗ tai. Cho nên biết mà tâm không động, không loạn, đó mới thật là định của thiền tông.
Nhiều người tu còn hiểu lầm nên cứ than phiền, sao ngồi hoài mà không định? Họ nghĩ rằng định là phải quên tất cả, mà không biết rằng khi vọng tưởng lặng vẫn thấy biết rõ ràng, chính lúc đó là định. Ngài Huyền Giác nói: “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải, tỉnh tỉnh loạn tưởng sai.” Tỉnh táo mà lặng lẽ thì phải, tỉnh táo mà loạn tưởng thì sai. “Lặng lặng tỉnh tỉnh phải, lặng lặng hôn trầm sai.” Ngồi lặng lặng mà tỉnh sáng thì phải, lặng lặng mà mơ mơ gục lên gục xuống thì sai. Làm sao trong tất cả oai nghi tâm đều như như, không để bị say trong định. Vì vậy lối ngồi thiền của thiền tông khác hơn các thứ thiền khác.
Chúng ta học hiểu tường tận thì không nghi, không nản. Ngồi là một phương tiện, đi đứng cũng vậy, cốt làm sao đừng khởi dính mắc, tâm luôn như như là định, chứ không phải quên hết là định.