Ngày 29/05/ Giáp Tuất - 07/07/1994
Vừa rồi Thầy giảng ở Thường Chiếu, có người hỏi: “Tại sao lúc trước ở đây cất thất, Thầy nói là để cho Tăng Ni nhập thất chuyên tu. Bây giờ cất thiền viện Trúc Lâm, Thầy cũng nói là chỗ chuyên tu. Vậy hai chỗ chuyên tu đó, đồng khác thế nào?”. Thầy đáp: “Chỗ nào cũng chuyên tu. Một nơi nhập thất một mình, một nơi là sống tập thể”. Bây giờ Thầy sẽ giảng giải rộng thêm để cho tất cả Ni chúng được rõ, mai kia nếu có ai hỏi thì cũng biết mà giải thích rõ ràng.
Vì sao tại các thiền viện, Thầy cho cất thất chuyên tu? Bởi vì Thầy thấy thời gian đầu, các thiền viện mới thành lập đều vất vả, nhiều năm lăng xăng, Tăng Ni không có lúc nào được yên tĩnh chuyên tu để thấy được mình. Thế nên Thầy tạo điều kiện cho Tăng Ni được nhập thất yên tu.
Nhập thất là ở riêng một mình, cắt đứt các duyên bên ngoài, chỉ chuyên tâm vào một việc xoay nhìn lại chính mình. Tu đó là chuyên tu riêng biệt. Chuyên tu này có lợi ích lớn là tất cả thời giờ chỉ dồn vào một việc tu, không làm việc gì khác. Nhưng thời gian chuyên tu đó có hạn định, chỉ ba tháng, sáu tháng, hoặc một hai năm mà thôi.
Khi ở bên ngoài chúng ta thường bị động nhiều, nên không thấy rõ được mình. Vào trong thất ngồi yên tu mới thấy kỹ mọi tâm bệnh, cố gắng kiểm soát và điều phục nó, nên sự tu tiến nhanh. Nhưng mãn thời gian nhập thất, trở ra bên ngoài lại tiếp tục lăng xăng theo công việc, thành ra không bảo vệ được lâu bền chỗ tiến của mình. Trong thất tu có kết quả tốt, nhưng ra ngoài thì không có hoàn cảnh thuận tiện để nuôi dưỡng lâu dài.
Thiền viện Trúc Lâm không phải chuyên tu một mình riêng biệt, mà là chỗ chuyên tu tập thể, huynh đệ cùng tu nên bước tiến chậm hơn. Vì không dồn tất cả thời gian trong sự tu, mà còn có công việc chút chút. Thí dụ nấu cơm, cuốc rẫy, trồng khoai... Tuy nhiên, mỗi người đều yên lặng làm việc trong phạm vi của mình, không nói chuyện lăng xăng bên ngoài. Nếu người khôn ngoan thì khéo lợi dụng thời gian làm việc cũng tu, luôn nhớ quay lại mình. Còn người không khôn ngoan, khi làm việc cứ phóng tâm, kể chuyện này chuyện kia cho bà con cười vui, tức là mất mình thì sự tu không an ổn.
Thiền viện Trúc Lâm nằm trong khuôn viên độc lập, không có kẻ này người kia lai vãng, nên khi làm việc rất dễ chế ngự tâm mình. Như vậy ngồi thiền hay lao động đều có thể chuyên tu. Chuyên tu tập thể có hai cái lợi:
Một là, vừa có thời gian ngồi thiền ở Thiền đường, vừa có thời gian lao động ngoài trời có nắng có sương. Hai cái đó giúp máu lưu thông nên thân khỏe mạnh, ít ốm yếu bệnh hoạn, cuộc sống lâu dài không bị trở ngại.
Hai là, tuy tu chung trong tập thể mà ai cũng biết suy xét đúng đắn, nên ở chung mấy mươi người cũng vẫn yên. Chuyên tu trong cảnh động mà được yên thì cái yên đó mới thật là yên, sau này đi ra ngoài không bị xáo trộn. Còn ngồi một mình ở cảnh tịnh thì yên, nhưng ra cảnh động thì không còn nữa, cái yên đó chưa phải là thật yên.
Đó là hai chỗ khác nhau.
***
Trong nhà thiền, chư tổ thường nói “tức tâm tức Phật”. Ngay tâm mình là Phật, nghe dễ quá, nhưng mình không biết tánh Phật đó ở đâu? Phật tánh sẵn có mà từ lâu mình bỏ quên, nên khi tu là phăng tìm cho ra cái quý báu đã quên này. Hôm nào đó, vọng tưởng lóng lặng, tâm thanh tịnh lặng lẽ, bất chợt bừng sáng, thấy được cái chân thật sẵn có của mình. À lên một tiếng. Giống như người có món đồ quý giấu kín, thời gian lâu, bận chuyện này chuyện nọ rồi quên không biết ở đâu, giờ muốn nhớ lại thì phải ngồi lặng yên, buông hết mọi suy nghĩ bất thần nhớ lại liền “À!”, chạy lại lấy.
Như vậy tiếng “À” là thể hiện cái ngộ, tức là nhớ ra cái mình đã sẵn có mà quên. Đó là một bước tiến trên đường tu. Từ lâu quên mất nay chợt nhớ ra, lúc đó lòng vui mừng phấn khởi, không có gì ngăn cản được. Vui đó là vui thấy đạo, là cái vui suốt đời. Tại sao nói là cái vui suốt đời? Vì nhận ra rồi thì thoát khỏi trầm luân, nên nói không gì quý bằng. Vàng ngọc thế gian chỉ giúp mình sống vui vẻ mấy chục năm, còn được cái vui đó rồi thì muôn đời hết sanh tử luân hồi.
Muốn nhận ra cái thật nơi mình thì bắt buộc chúng ta phải ở yên một chỗ, bớt nói chuyện tạp, đừng suy nghĩ việc này việc kia lăng xăng, để lòng lắng lặng thì mới thấy được. Đời tu đâu phải chỉ trong cuộc sống mấy chục năm là hết, mấy chục năm chỉ là một chặng ngắn ngủi trên con đường dài vô tận. Thế nên mỗi người phải lợi dụng mấy chục năm có được của mình mà gây nhân tốt cho lâu dài, đó là người khôn, khéo biết tu. Còn cứ tạo nhiều tội lỗi, gây điều hung ác để họa lây đến mấy chục kiếp, đó là kẻ dại.
Cái chết thường làm người ta lo sợ, hoảng hốt. Chúng ta gắng tu, làm sao tới lúc chết không bị hoảng hốt, được vậy mới tốt. Lúc sắp chết mà tâm không hoảng hốt thì không ai có thể dẫn mình đi bậy, nếu tâm cuồng loạn thì sẽ đi vào đường xấu. Muốn thế thì lúc bình thường phải tập tu cho tốt, nếu bình thường tu không tốt thì e rằng khi nhắm mắt cũng không tốt.
Thiện Phát ở Thường Chiếu là học trò của Thầy nhiều năm. Ông Tăng này rất hiền từ, hệch hạc, vui vẻ. Thời gian Nhật Quang nhập thất một năm, Thiện Phát làm Trụ trì Thường Chiếu. Cứ mỗi sáng, y vo quần, vác cuốc đi công tác. Chúng theo làm thì tốt, không thì thôi, không thắc mắc cau có với ai. Người khác nhìn thấy, tưởng như không có uy đối với chúng.
Sau này Thiện Phát có chút bệnh, phải vào bệnh viện. Chú thị giả thuật lại cho Thầy nghe, ngày Thiện Phát gần tịch, chú bưng cơm lại mời, y cười rồi ăn. Chú làm cái gì, đưa cái gì y cũng cười, không nói chi cả. Lúc sắp tịch có Phật tử tới thăm, cũng cười như vậy một lát rồi đi. Đem về Thường Chiếu để vào quan tài chưa đóng nắp, những người đến thăm giở ra xem, thấy gương mặt vẫn tươi cười, trước lúc đưa đi trời mưa dầm dề, tới giờ đưa thì lạnh. Khi hạ huyệt, có vầng mây xoay vần che phủ ở trên, mọi người có mặt đều thấy mát mẻ. Một vị tu thiền trước khi ra đi vui vẻ, có điềm lành như thế. Thật là tốt!
Chúng ta được tu là phước lớn nhất trong đời nên phải cố gắng tu cho có kết quả. Biết mình có phước lớn thì mỗi người tự ý thức, tự quý trọng già tu hành của mình. Càng tu càng tiến, làm sao đến lúc sắp ra đi mình được tỉnh táo, sáng suốt, vui vẻ.
***
Chúng ta tu sao cho tâm yên định, trí tuệ sáng suốt. Muốn được định tuệ thì trước phải giữ giới, đừng bận lòng những chuyện thị phi không đáng. Nó chỉ là gió thoảng qua tai rồi mất, điều quan trọng của người tu là giải quyết vấn đề sanh tử. Nếu để tâm vướng mắc những chuyện hơn thua phải quấy là không khôn ngoan, uổng một đời tu.
Hơn thua phải quấy buông rồi thì đường tu rất dễ, ai nặng nề câu chấp sẽ khó tu. Đó là phần giữ giới. Khi tâm không dính, không bận ngồi lại dễ yên. Tâm yên định thì trí tuệ sáng suốt, sáng gọi là giác, đó là phần tự giác. Mai kia đem những điều thấy nghe hiểu biết đúng chân lý chỉ dạy cho mọi người, đó là giác tha. Nên nhớ bổn phận của người xuất gia là phải ráng tu để có đủ tự giác, giác tha.
Người xưa nói thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Cảnh quan và khí hậu ở đây không ai chê. Cảnh và khí hậu là địa lợi, thiên thời là gạo cơm đủ ăn không đói, giờ chỉ cần nhân hòa là đủ. Nhân hòa là toàn chúng sống đúng lục hòa. Ở đây không có danh lợi gì, chỉ còn chuyện tu. Vậy mà không yên ổn tu thì thật là đáng trách! Ở thiền viện chuyên tu, coi như tiêu cực không làm lợi ích cho ai. Nhưng chính cơ hội này tạo duyên tốt cho mình tu tiến. Bản thân chúng ta phải thật sự giải thoát, sau này mới lợi lạc cho nhiều người. Đó là bổn phận chánh của người xuất gia.
Trong cuộc sống, việc gì đến phải khéo buông xả. Mỗi ngày đều như thế thì một năm sống an vui, nếu không chịu hỷ xả thì cứ buồn hoài. Ai rồi cũng chết, ôm giận hờn làm gì! Tội gì ôm ấp buồn phiền mất thời gian, bởi vì có gì đáng buồn đâu. Buồn nhất là mình tạo nghiệp ác đọa ba đường dữ. Nay tu là buông bỏ hết, tinh tấn đi từ phàm lên thánh, đó là niềm vui. Vui thì khỏe mạnh tu hành tinh tấn. Hằng ngày chỉ cần buông xả, không thấy việc gì là quan trọng thì đến lúc chết cũng không khổ sầu.
Thật ra, chuyện tu hành rất thực tế, đơn giản không có gì xa xôi. Trong khi tu mỗi người ráng tránh những điều sơ sót, đừng phạm những lỗi lầm không đáng. Ở trong chúng có hai điều thiết yếu:
Điều thứ nhất là đừng nói chuyện tào lao, cái gì đáng nói thì nói, không đáng thì thôi. Bình thường tập cho quen thì sau này tự nhiên có đủ tư cách. Nói năng bừa bãi quá sẽ thiếu cẩn thận, nhiều khi gây sự hiểu lầm hoang mang đủ thứ. Thân đi đứng đàng hoàng, miệng nói lời đáng nói, ý nghĩ điều hay. Đó là khéo tu ba nghiệp. Nếu ba nghiệp khéo tu, tự nhiên là người mẫu mực, nội tâm cũng dễ an. Tâm mình xao xuyến, ngôn ngữ bừa bãi, dễ vấp nhiều lỗi lầm sau phải hối hận.
Điều thứ hai là, sống trong huynh đệ đừng bao giờ có ác cảm thù hiểm nhau, dù hiềm khích nho nhỏ cũng đừng có. Lúc nào cũng hòa vui trong sự thanh tịnh, không tranh cãi hơn thua. Phải yêu thương vui hòa, đừng có chiến tranh lạnh, tuy không bùng nổ mà cứ ngấm ngầm mãi cũng khó tu. Đừng đứa này nhìn đứa kia tỵ hiềm đố kỵ, dù chưa nổi bật nhưng cũng đã ngầm gây chia rẽ rồi. Chia rẽ thì hết hòa khí trong chúng, đó là điều không tốt. Nên nhớ, không ai giống ai một trăm phần trăm. Huynh đệ cùng đồng một lý tưởng quyết tu, đó là chỗ giống nhau cao cả hơn hết. Mỗi người vì cái cao cả mà bỏ qua những điều xấu dở nhỏ nhặt, được vậy thì cuộc sống trong chúng luôn an vui, hòa nhã.
Thiền viện là nơi để mình chiến đấu với ma quân, chứ không phải chiến đấu với huynh đệ. Tất cả những thứ giận, phiền, ganh ghét chính là ma quân, phải chiến thắng, đừng nuôi dưỡng nó. Ma quân thắng tức là mình bị lui sụt, thối Bồ-đề tâm. Chúng ta tu phải khôn ngoan, thấy rõ trong từng tâm niệm. Niệm dấy lên liền bỏ, mọi việc qua đều xả hết, không có gì quan trọng bằng đạt được lý tưởng tu hành của mình. Hơn thua, phải quấy, thương ghét chỉ là chuyện nhỏ nhặt tầm thường không đáng kể. Đừng vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn. Đó là người biết tu.
Ni chúng phải nhớ, người tu nếu chưa thấy được ông chủ thì phải khéo vận dụng trí tuệ Bát-nhã của mình. Khi gặp cảnh không vui, cứ dùng trí tuệ Bát-nhã thấy rõ thì có gì đâu mà phiền. Chỉ tại không vận dụng trí Bát-nhã, nếu vận dụng trí Bát-nhã thì không có gì khó buông. Thân mình nay mai cũng tan rã, không có gì quan trọng. Buông dễ thì tu mới khỏe, buông khó thì tu yếu, bị giằng co lôi kéo hoài.
Vậy nên tất cả phải luôn vui tươi, dù gặp chông gai hoặc vấp té, cũng đứng dậy cười, đâu có gì phải thối chí.