Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 3
22. Bài pháp diệu kỳ

Lễ Thỉnh nguyện

Ngày 13/04/ Tân Tỵ - 05/05/2001

Hôm nay tôi lặp lại bài thuyết pháp của tổ Bồ-đề-đạt-ma, mà tôi gọi là Bài pháp kỳ diệu, dù đã trải qua hơn ngàn năm mà âm ba vẫn còn vang dội.

Tổ Bồ-đề-đạt-ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa, đến ở chùa Thiếu Lâm, ngồi xoay mặt vào vách. Lúc đó ngài Thần Quang đủ lễ nghi đến hỏi đạo mà Tổ không nhìn. Ngài Thần Quang vì muốn Tổ thấy tâm tha thiết cầu đạo của mình, nên chắp tay đứng ngoài tuyết suốt một đêm. Trong sử sách nói, tuyết ngập lên khỏi đầu gối mà ngài vẫn tươi tỉnh không có một chút gì tỏ vẻ khó chịu. Tổ Đạt-ma thương tình, xoay ra hỏi: 

- Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?

Thần Quang thưa: 

- Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ cho con. 

- Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa.

Thần Quang nghe Tổ nói như vậy, bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái đặt trước Tổ để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ biết đây là pháp khí bèn dạy:

- Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.

Giá trị của sự cầu đạo là ở chỗ quên mình, quên mình thì mới có thể đạt đạo viên mãn. Nếu cầu đạo với tâm lơ là, không thích hay gượng gạo thì tu không đến đâu hết. Cho nên hình ảnh đó chính là để đánh thức tất cả chúng ta, người nào muốn tu đạt đến chỗ cứu cánh, phải có tâm liều chết cầu đạo thì mới thành công. Đó là nói về tinh thần cầu đạo quên thân, đến đây mới là phần trọng tâm của bài thuyết pháp.

Ngài Huệ Khả thưa:

- Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?

- Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được. 

- Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.

- Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.

- Con tìm tâm không thể được.

- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Thần Quang nhân đây được khế ngộ, Tổ bèn đổi tên ngài là Huệ Khả.

Khi nghe tổ Đạt-ma bảo: Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho. Trong lúc đột ngột đó, ngài Huệ Khả liền soi lại xem tâm bất an của mình ở đâu. Tìm lại thì nó mất tăm mất dạng, nên ngài thưa: Con tìm tâm không thể được. Tổ Bồ-đề-đạt-ma liền bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay đó, ngài Huệ Khả khế ngộ liền biết được đường vào, tức là đã nắm vững được đường lối tu.

Như vậy, lời nói của tổ Đạt-ma qua hai lần chỉ dạy. Lần thứ nhất, Tổ bảo “đem tâm ra ta an cho”, sáu chữ. Lần thứ hai là khi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ bảo “ta đã an tâm cho ngươi rồi”, bảy chữ. Tổng cộng hai lần là 13 chữ. Như vậy, vỏn vẹn chỉ có 13 chữ thôi, mà ngài Huệ Khả ngộ đạo, cho nên tôi gọi là bài pháp kỳ diệu.

Tại sao tôi nói đến ngày nay âm ba kia vẫn còn vang dội? Bởi chủ trương và đường lối tu của Thiền tông không lệ thuộc vào kinh giáo, cũng không đi theo thứ lớp văn tự mà là “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Cho nên, bài kệ của tổ Đạt-ma nói:

Bất lập văn tự, 

Giáo ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.

Ngài Huệ Khả do tâm bất an nên đến Tổ cầu xin pháp an tâm, ngay khi thưa “tâm con bất an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”, ngài đang chờ nghe Tổ dạy một phương pháp tu cho tâm được an. Đang trông đợi như vậy, bất thần Tổ bảo “đem tâm ra ta an cho”. Sửng sốt quá, ngài liền tìm lại xem tâm bất an ở đâu để đem ra. Quay lại tìm thì tâm bất an biến mất, không thấy hình bóng. Ngài thật thà thưa “con tìm tâm không được”. Tổ bảo “ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Như vậy, ngài Huệ Khả làm sao an tâm và làm sao biết đường vào? Tôi chỉ cho quý vị thấy chỗ kỳ đặc đó.

Khi tìm tâm thì nó mất không còn bóng dáng, chỗ này về sau Lục tổ Huệ Năng gọi là “vô niệm”. Không còn tăm dạng, không chút suy nghĩ dấy động, ngay đó là vô niệm. Như vậy, điểm chủ yếu tổ Đạt-ma chỉ, không phải là dùng một pháp gì để đàn áp cho tâm an, mà chỉ nhìn lại, tìm tâm bất an đó thì nó tự mất. Tâm vọng động lặng, tức là an.

Quay lại tìm tâm bất an, có hai ý nghĩa. Thứ nhất là phản quan, tức là nhìn lại. Thứ hai là biết nó không thật. Vì khi phản quan nhìn lại thì tâm bất an ấy lặng, không còn tăm dạng. Biết không thật thì ngay đó tâm tự an. Như vậy, chính tâm phản quan thấu suốt được chỗ bất an, biết niệm lăng xăng vốn là vọng thì không cần dùng một pháp nào để trị tâm. Dấy lên, loạn động là hữu niệm. Nhìn lại, lặng mất là vô niệm. Tâm an hay bất an chỉ ở chỗ vô niệm hay hữu niệm mà thôi.

Khi nghe Tổ dạy, ngài Huệ Khả nhìn sâu vào tâm mình, thấy rõ được những vọng động mà trước nay lầm chấp là mình, cho nên bị nó quấy phá khiến tâm bất an. Thấy được chỗ đó rồi, tức có hướng để ứng dụng tu, nên nói được đường vào. Như vậy, Thiền tông có pháp để tu, để vì người không? Sau này, thiền sư Đức Sơn cũng nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người”. Bởi chỉ thẳng tâm người chứ không có một pháp nào cả, nên nói không một pháp cho người.

Chỉ cần nhìn lại tâm mình thì vọng liền tan biến mất. Phản quan là một lối nói để ứng dụng tu tập. Chỉ dùng trí nhìn thẳng lại tâm bất an đó thì nó tự tan mất. Vọng mất tâm tự an, không nhờ một phương tiện hay một cách thức gì để đối trị. Đây không phải là một pháp tu, mà chính là con đường thẳng tắt, để chúng ta trừ dẹp những vọng tưởng lăng xăng. Trong khi đi đứng nằm ngồi, bất cứ lúc nào vọng hiện ra thì liền nhìn lại, lập tức vọng lặng. Vậy có tu, có dẹp gì không? Không có phương tiện nào cả.

Tự nhìn lại liền biết rõ chân vọng nơi mình, điều này nói lên được ý nghĩa “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Ngay chỗ không một niệm, lặng lẽ mà biết, đó là tâm chân thật của mình. Tổ chỉ thẳng tâm chân thật nơi mỗi người, tâm ấy không sanh không diệt. Đó gọi là kiến tánh thành Phật. Như vậy, đi sâu trong chỗ chân thật, sống được với nó, gọi là kiến tánh. Kiến tánh là Phật nhân, thấy được Phật nhân rồi thì khi nào công phu viên mãn sẽ đạt được Phật quả, không có gì xa xôi hết. Tinh thần của nhà thiền là như thế.

Khi nhận biết được đường tu, từ đó về sau ngài Huệ Khả luôn ứng dụng tu hành. Một hôm, ngài bạch với tổ Đạt-ma:

- Bạch Hòa thượng, hiện giờ con đã dứt sạch các duyên.

Tổ bảo: 

- Coi chừng rơi vào không?

Ngài thưa: 

- Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

Ngay đó, tổ Đạt-ma liền chấp nhận, ấn chứng:

- Ông được như thế, ta cũng như thế, chư Phật cũng như thế.

Nhờ phản quan lại, nên tất cả tâm lăng xăng mà ngày xưa ngài Huệ Khả lầm tưởng là tâm mình, nay tan biến hết. Cho đến khi dứt hết các duyên, tức là đối với ngoại cảnh trong tâm không còn dính mắc một duyên nào nữa. Tâm không dính mắc thì không dấy niệm, không động. Đó gọi là chỗ chân thật của chính mình, nên ngài nói đã dứt sạch các duyên, tức là không còn dính các duyên.

Nghe ngài Huệ Khả nói vậy, tổ Đạt-ma e rằng ngài có thể lầm, có thể rơi vào không. Vì có những trường hợp, người tu khi không còn vọng tưởng thì ngồi khán tịnh hoặc là khán không. Tổ sợ ngài Huệ Khả nói hết duyên là trở thành không, tức không có gì, nên nói coi chừng rơi vào không. Ngài Huệ Khả liền thưa rõ ràng thường biết, làm sao không được. Khi phản quan thì không còn vọng nữa, chỉ còn cái rõ ràng thường biết của mình, đó chính là chân tâm, là Phật tánh nơi mỗi người.

Như vậy, chỉ có 13 từ mà bài pháp của tổ Đạt-ma đã trở thành bài pháp kỳ diệu. Bài pháp đó truyền tới đâu? Tổ thứ hai là ngài Huệ Khả, Tổ thứ ba là ngài Tăng Xán. Trước khi gặp tổ Huệ Khả, ngài Tăng Xán bị bệnh hủi, sống lang thang khổ sở, trong lòng đầy mặc cảm, nghĩ mình là kẻ tội lỗi nên mang thân nhiều bệnh tật, khổ đau. Thế nên, khi gặp Tổ, ngài liền bạch:

- Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội.

Tổ bảo:

- Đem tội ra đây, ta sẽ vì ngươi sám hối.

Nghe Tổ bảo đem tội ra để Tổ sám cho, ngài nhìn lại xem tội ở đâu. Tìm đáo để mà vẫn không thấy. Ngài thưa:

- Đệ tử tìm tội không được.

Tổ bảo:

- Ta đã vì ngươi sám hối rồi.

Nhìn qua chúng ta thấy hai lối dạy khác nhau, nhưng trọng tâm phản quan thì không hai. Trước đây tổ Đạt-ma dạy: Đem tâm ra ta an cho. Bây giờ đệ tử bảo: Đem tội ra ta sám cho. Tìm thử xem tội ra sao, nằm ở chỗ nào, nhưng tìm lại thì mất tiêu. Vậy nên trong thời sám hối, có bài kệ:

Tội tánh bổn không do tâm tạo,

Tâm nhược diệt thời tội diệt vong.

Tội vong tâm diệt lưỡng câu không,

Thị tắc danh vi chân sám hối.

Dịch:

Tánh tội vốn không, do tâm tạo,

Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong.

Tội trong tâm diệt, cả đều không,

Thế ấy mới là chân sám hối.

Tội tánh bổn không, tánh tội vốn không, nhưng do đâu có? Do tâm tạo. Tâm tánh vốn không nên tội tánh cũng không. Chúng ta thấy trước sau có hệ thống rõ ràng. Trước là thấy tâm không thật, sau là thấy tội không thật.

Ngài Huệ Khả tìm đến tổ Đạt-ma vì cho rằng tâm bất an là thật, khi nghe bảo đem tâm ra ta an cho, ngài quay nhìn lại thì nó biến mất, ngay đó liền an. Đến ngài Tăng Xán, bởi nghĩ tội là thật nên mới đến nhờ Tổ sám hối giùm cho hết tội. Tổ Huệ Khả muốn đánh thức cho biết tội không thật, nên bảo đem tội ra, nhưng ngài tìm lại thì tội đâu không thấy. Tâm bất an là do vọng tâm khuấy động, tội thành hình là do vọng tâm xấu ác. Bất an và tội là từ vọng tâm mà ra, mà vọng tâm vốn không thật nên tâm bất an và tội cũng không có thật. 

Trước kia, ngài Huệ Khả nhận ra chỗ tổ Đạt-ma chỉ dạy, vọng tâm không thật, ngay đó tâm lặng lẽ liền ngộ. Đến ngài Tăng Xán, khi quay nhìn lại, liền rõ tội cũng không thật, vì vọng tâm không thật thì tội cũng không thật, tức là sám tội xong. Chúng ta thấy kỳ đặc ở chỗ, tâm là gốc tạo tội, mà tâm vốn không thật nên tội cũng không thật. Đến chặng thứ hai, khi tìm tội không có thì nói “sám hối cho ngươi rồi”. Ngay đó, ngài Tăng Xán thức tỉnh, được Tổ ấn chứng. Tổ Tăng Xán ngộ cái gì? Chính là nhận ra tội vốn không thật, không có gì để sám nên được giải thoát.

Đến ngài Đạo Tín, Tổ thứ tư của Thiền tông Trung Hoa. Ngài xuất gia lúc còn để chóp. Năm 14 tuổi, ngài đến tham vấn tổ Tăng Xán, thưa:

- Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát.

Tổ hỏi:

- Ai trói buộc ngươi?

Ngài tìm một hồi, thưa:

- Bạch Hòa thượng, không ai trói buộc.

Tổ bảo:

- Đã không trói buộc, đâu cần cầu giải thoát!

Ngay đó, ngài Đạo Tín liền đại ngộ. Bởi thấy nghiệp không thật có, do lầm nên bị trói buộc thành khổ đau. Thấy nghiệp không thật thì liền giải thoát, Như vậy, từ một bài thuyết pháp của tổ Đạt-ma cho tới đời thứ hai, thứ ba, thứ tư cũng theo một hệ thống đó. Chung quy đều dạy phải phản quan. Quay lại tìm xem tâm thật không, tội thật không, nghiệp thật không? Tìm lại thì tâm, tội, nghiệp theo đó mà lặng mất.

Qua ba vị Tổ đủ cho chúng ta thấy chỗ lầm chấp của mình. Trước đây lầm cho tâm suy nghĩ là mình thật, nay thấy tánh nó là không. Cho tội là thật, quán chiếu lại thấy tánh nó là không. Thấy có nghiệp thật, bị nghiệp trói buộc nên luân hồi sanh tử, khi nhìn tường tận thì rõ tánh nghiệp là không. Tất cả mê lầm đó, gốc từ lầm chấp tâm là mình. Do lầm chấp tâm là mình nên theo nó tạo tội, bị nghiệp trói buộc đi trong sanh tử. Phá được chấp tâm rồi thì tội và nghiệp cũng theo đó mà sạch.

Tất cả chúng ta đang sống trên thế gian này chịu bao nhiêu phiền lụy, gốc từ đâu ra? Từ chấp tâm thật mà ra. Do chấp tâm thật, nên có thiện ác, tốt xấu v.v... rồi tạo bao nhiêu tội lỗi. Bây giờ biết rõ tâm không thật thì tội cũng không thật, tội không thật thì nghiệp cũng không thật. Như vậy là giải thoát. Chỉ có mấy lời thôi mà Tổ đã chỉ ra cho thấy một con đường đi rất thấu đáo, cho nên tôi nói “bài pháp kỳ diệu” là vậy.

Bây giờ tôi đối chứng lời Tổ với mười bức tranh chăn trâu của Thiền tông, để minh họa ý của Tổ dạy và làm cho rõ nghĩa hơn.

Tranh thứ nhất là tìm trâu. Chữ “tìm trâu” này, tôi thấy hay đáo để. Tìm trâu là tìm tâm. Tổ Đạt-ma nói “đem tâm ra ta an cho”, là bảo quay lại tìm coi tâm ở đâu? Quay lại tìm tâm là tìm trâu. Có tìm trâu thì mới biết trâu. Cho nên bước đầu trên con đường tu là phản quan, là xoay lại tìm. Tìm cái gì? Tìm con trâu của mình. Thấy nó, gặp được nó, rồi giằng co với nó. Hiện giờ mấy chú đang làm gì? Chăn trâu. Chăn nhẹ nhàng thảnh thơi hay đang giằng co vất vả? Chắc là chăn hơi vất vả. Nghĩa là không chỉ lôi đầu lôi cổ nó lại, mà còn phải một tay dùng roi quất, một tay kéo dây dàm mới lôi nổi nó.

Đây là diễn tả giai đoạn đầu phản quan, mới tìm ra dấu tích trâu. Tìm gặp trâu rồi tới chăn giữ trâu, đánh đập trừng phạt dài dài nó mới thuần phục. Cho nên tới mục thứ sáu trở lên, mục đồng mới thảnh thơi ngồi thổi sáo. Đó là minh họa đầy đủ bằng hình ảnh cho mình nhớ mà tu. Khi tìm lại trâu, nắm được nó rồi điều phục dần đến mục thứ bảy là trâu mất chỉ còn thằng chăn, đây là chỗ đặc biệt. Nhiều người nói vọng bị mình biết là sở, mình hay biết vọng là năng. Như vậy, tu biết vọng là còn đối đãi năng sở, mà còn đối đãi năng sở thì làm sao tới chỗ tột cùng được?

Căn cứ mười bức tranh chăn trâu thì ban đầu thằng chăn cốt tìm trâu, được trâu, chăn trâu... Tới chỗ trâu mất rồi thì thằng chăn một mình thảnh thơi, kế đó thì thằng chăn cũng mất luôn. Vì đâu có gì để làm nữa. Đối tượng tức là sở đã mất thì thằng chăn là năng cũng không còn. Vậy có gì phải lo. Trước tiên là vọng tưởng không còn chỉ còn cái biết vọng tức là còn năng, rồi từ từ năng cũng mất. Năng sở lặng rồi thì đâu còn hai, đâu còn đối đãi. Những bước đầu đã xong, bước qua mục thứ tám là vòng tròn. Đến đây thì thằng chăn và con trâu đều lặng, tức là chỗ vô niệm của Lục Tổ nói.

Vô niệm rồi thì sao? Nếu tới đây lặng hết không còn gì nữa thì vô vị quá. Cho nên vô niệm không phải là chấm hết. Nhận chỗ vô niệm, tất cả vọng thức lặng sạch rồi thì thức chuyển thành trí. Đến đây trâu và chăn không còn, tức vô niệm. Vô niệm rồi thì tánh Phật hiện tiền. Tới đây cần nhảy qua mục thứ chín, đó là trở về nguồn cội. Chim bay về tổ, lá rụng về cội là trở về nguồn gốc của chính mình. Nguồn gốc ấy là Phật tánh hay chân tâm. Trở về Phật tánh, chân tâm rồi thì chừng đó diệu dụng không lường được.

Tới bức tranh thứ mười là thõng tay vào chợ, minh họa bằng hình ảnh một ông già bụng phệ xách cá chép, quảy bầu rượu. Tại sao lạ vậy? Bởi vì, khi nhập Pháp thân rồi thì phần tự lợi đã vuông tròn nhưng chưa có lợi tha, tức là mới được phần tự giác, chưa có giác tha viên mãn, mà không lợi tha thì đâu thành Phật được. Cho nên tới chặng này, phải đi vào thế gian giáo hóa chúng sanh, đó là phần giác tha. Vào thế gian giáo hóa chúng sanh thì phải như chúng sanh, chúng sanh thích uống rượu, ăn cá thì mình cũng phải có cá có rượu. Đây nhằm nói lên ý nghĩa nhập thế để giáo hóa chúng sanh, nếu mình cách biệt lạ lùng quá thì không bao giờ giáo hóa chúng sanh được.

Trong đạo Phật thường nói ba thân. Một là Pháp thân, khi trở về nguồn là nhập Pháp thân, tức trở về bản thể Phật tánh. Hai là Báo thân, là thân hiển hiện theo hạnh nguyện, tích chứa các hạnh, có đầy đủ công đức để thành Phật. Ba là Ứng thân hay Hóa thân, là thân hóa hiện ứng theo căn cơ, nguyện vọng của chúng sanh.

Đức Phật ra đời liền đi bảy bước trên hoa sen, thâm ý muốn nói Ngài thị hiện ở trong bùn mà không tanh mùi bùn. Hình ảnh này chúng ta phải hiểu theo ý nghĩa thoát tục, chứ đừng nhìn trên sự linh thiêng mà cho rằng, ai ra đời cũng khóc oa oa, có người nào đi trên hoa sen như vậy đâu, rồi thấy đức Phật cách biệt với mình quá, mình không thể làm được như Phật. Thấy như vậy thì chuyện Phật tu hành, giáo hóa không dính dáng chi tới con người. 

Muốn ứng thân ra đời giáo hóa chúng sanh thì phải như chúng sanh. Bởi thế nên tranh này vẽ rất rõ, người đi vô thế gian thì có cá, có rượu. Vô thế gian là một ông thầy đoan nghiêm khác thường thì người trần tục đâu dám gần, như vậy làm sao giáo hóa họ? Nhập Pháp thân rồi mới hiện Ứng thân vào trong tam giới. Ứng thân ở đâu thì phải như chúng sanh ở đó, họ mới dám gần. Chúng sanh có thông cảm với mình thì mới giáo hóa được. Ứng thân Bồ-tát vào thế gian thường không khác với chúng sanh. Nếu đức Phật ra đời đi bảy bước trên hoa sen, tay chỉ trời chỉ đất như vậy, làm sao gọi là Ứng thân giáo hóa chúng sanh. Cho nên chúng ta phải hiểu theo một nghĩa khác. 

Lịch sử người xưa ghi lại, có đạo lý chân thật ngầm ở trong đó mà chúng ta không biết, nên đôi khi mình thấy dường như trái với đạo lý. Ngày xưa, người ta quý trọng những gì mầu nhiệm, linh thiêng. Nếu thấy phàm tình như mình thì mọi người coi thường không phục, vì vậy phải có chút linh thiêng thần thánh. Nhưng thời nay thì khác cái gì đúng với lẽ thật, phù hợp với thực tế thì cái đó mới có giá trị. Cho nên tùy vào hoàn cảnh mà ứng dụng cho thích hợp, phải hiểu ý nghĩa thâm sâu trong đó. Vậy mà chúng ta không tìm, không phăng tận cùng nguồn gốc nên không biết ngọn nguồn.

Mười mục chăn trâu diễn đạt đầy đủ tinh thần Thiền tông, bắt đầu là phản quan. Suốt cả chiều dài lịch sử hơn 1.000 năm của Thiền tông, từ đường lối chỉ dạy của tồ Bồ-đề-đạt-ma ở Trung Quốc, chủ đích là phản quan. Các vị thiền sư Việt Nam cũng lấy đó làm tiêu chuẩn, rõ ràng không sai lệch chút nào. Như ngài Tuệ Trung thượng sĩ, là một vị cư sĩ tu hành đắc đạo, cũng nói: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”. Nghĩa là phải phản quan lại chính mình, chứ không thể tìm bên ngoài, cũng không phải từ ngoài đến.

Tại sao gần đây, có một số người tu thiền lại tu thoại đầu? Thậm chí khi nói tới Thiền tông thì người ta nghĩ là phải tu theo thoại đầu. Vậy thoại đầu có đúng với tinh thần của Thiền tông từ buổi đầu truyền vào Trung Quốc không? Thoại đầu là gì? Thoại là lời nói, đầu là trước lời nói. Trước lời nói là gì? Là vô niệm. Như vậy, tu thoại đầu rốt cuộc cũng phải tới vô niệm.

Lối “trực chỉ” của Thiền tông có từ trước đời Đường ở Trung Hoa, sang đời Tống thì người tu phần nhiều thấy thiền dễ hiểu quá, nên cứ ngồi bàn thiền luận đạo với nhau, chỉ nói lý mà không chịu tu hành. Cho nên chư Tổ, từ ngài Hoàng Bá về sau, phương tiện lập ra thoại đầu để phải tu, chứ không cho lý giải nữa.

Như có vị Tăng hỏi Động Sơn Thủ Sơ:

- Thế nào là Phật?

Động Sơn đáp:

- Ba cân gai.

Nói mà không cho hiểu, chỉ bắt tu, bắt phải chết sống với câu “Phật là gì? Ba cân gai”, rồi tự đặt câu hỏi “Tại sao Phật là ba cân gai?”. Cứ như vậy mà chết trong câu thoại đầu đó, đến khi tâm trở thành một khối, không còn một niệm nào hết ngoài nghi tình. Như vậy, chư Tổ phương tiện dạy tu bằng cách không cho hiểu, không cần hiểu mà chỉ gợi cho nghi. Nghi đến khi nào tâm nghi trùm hết, đập chết mọi vọng tưởng. Tất cả vọng tưởng chết rồi, tâm hết còn lăng xăng, chừng nào khối nghi tan vỡ thì chừng đó ngộ đạo.

Thuật dùng thoại đầu này, trong nhà thiền gọi là “lấy độc trị độc” nên khi tu phải hiểu cho thấu đáo. Niệm vọng tưởng là độc, câu thoại đầu là niệm, cũng là độc. Dùng niệm thoại đầu để đập cho niệm vọng tưởng chết. Đó là lấy độc này trừ độc kia. Như vậy, khán thoại đầu là đang ở trong độc, chừng nào nó thành khối rồi tan vỡ ra, tâm hoàn toàn thanh tịnh chừng đó mới xong việc.

Như pháp tu Tịnh độ là niệm danh hiệu Phật Di Đà, phải tin triệt để có cõi Cực Lạc, khi chết đức Phật Di Đà sẽ đón mình về Cực Lạc. Lòng tin đó chính là sức mạnh. Nếu tu niệm Phật mà không tin có cõi Cực Lạc, không tin đức Phật Di Đà thì niệm Phật không thành công. Cho nên trước nhất phải có lòng tin, có lòng tin rồi mới nhất tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Cứ vậy niệm hoài, niệm cho tới vô niệm thì Phật hiện trước mắt mình. Lối tu niệm Phật được dụ như đạp gai lấy gai mà lể. Chúng ta có nhiều vọng tưởng, dụ như đang đạp gai. Giờ muốn lấy cây gai đó ra thì phải lấy cây gai khác lể nó. Dùng gai mới để lể gai cũ ra, nếu lể ra rồi để cây gai mới trong đó luôn không lấy ra thì có được không? Cây gai cũ đã được lể ra rồi, phải bỏ luôn cây gai mới, mới tới cõi Phật.

Nhà thiền dùng trí để quán chiếu tức là phản quan. Thấy rõ, biết rõ hư giả không theo thì mọi hư giả từ từ tan biến, cái chân thật hiện ra. Đó là chăn trâu, chừng nào trâu mất chừng đó không còn chăn, con trâu và thằng chăn không còn thì trở về nguồn, đó là nhập Pháp thân. Khi nhập Pháp thân rồi thì có đầy đủ ứng thân diệu dụng để giáo hóa chúng sanh. Chúng ta bây giờ cũng dùng cách phản quan, tức là nhìn thẳng nhận ra thấy được lẽ thật. Khi nhìn thẳng thấy rõ niệm là hư dối thì vọng tan mất, như vậy dùng cái gì để trị? Nên nói, lối tu này không có phương tiện.

Niệm Phật bặt hết vọng tưởng tới chỗ vô niệm, khán thoại đầu đến khối nghi tan vỡ tức vô niệm, còn lối phản quan thì thấy tất cả tâm niệm không thật nên không còn niệm. Như vậy, chúng ta thấy ba lối tu khác nhau, hai lối kia là phương tiện vì có dùng một pháp để tu, còn phản quan là trực chỉ vì không dùng phương tiện. Nhưng chỗ gặp nhau thì không khác, đó là vô niệm. Chúng ta phải biết, vì trình độ căn cơ khác nên mỗi lối tu có khác, nhưng đích đến cuối cùng thì không khác. Ba pháp tu, đường đi từ đầu tới cuối rất rõ ràng, không có gì dị thường khác lạ, cũng không có những lối tẽ, nay nghĩ cái này mai tưởng cái kia, trở thành lộn xộn.

Người tu nếu không đủ lòng tin hoặc không thấy được lối đi, cứ hướng ngoại cầu xin, nay đi đường này mai đi lối kia, thì sẽ không tới đâu. Thế nên khi tu phải hiểu đường lối cho thật rõ, đã chọn con đường nào thì đi cho tới nơi tới chốn, chứ không nên lưng chừng. Nếu đi đúng đường chắc chắn gặp nhau ở chỗ cuối cùng. 

Như có bốn người cùng leo lên một ngọn núi. Ở bốn phía của ngọn núi đều có đường đi lên tới đỉnh, người đi hướng đông, người đi hướng tây, người đi hướng bắc, người đi hướng nam. Mỗi đường mỗi phương khác nhau nhưng khi lên đến đỉnh thì đều gặp nhau. Lúc ở dưới chân núi thì không ai biết ai, nhưng lên tới đỉnh gặp nhau thì như anh em một nhà, không có gì khác biệt. Cũng vậy, đường lối tu của đạo Phật tuy khác nhau nhưng điểm đến cuối cùng không khác. Thế nên, nếu tất cả chúng ta tu cho đến nơi đến chốn thì kết quả sẽ giống như nhau.

Đường lối tu theo tinh thần của tổ Đạt-ma dạy: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, là lối tu thẳng tắt nhất. Đi thẳng, không quanh co, không nhờ phương tiện. Tôi thường ví dụ tu theo Thiền tông như người đi qua cầu độc mộc, chỉ có một cây cau hoặc cây dừa bắc ngang sông rạch, không có tay vịn. Người đi qua được thì hay, không đi được thì té nhào, chứ không nương nhờ phương tiện nào khác. Tu theo các phương pháp có dùng phương tiện thì thấy dễ hơn, nhưng để đạt đến cứu cánh cũng không phải dễ. Tu theo lối trực chỉ này, khi mới tu thấy dường như khó, nhưng nếu quyết tâm miên mật thì có kết quả thiết thực không sai chạy, bởi ngay hiện tại tâm an lạc giải thoát, chứ không phải chờ đến lúc nào đó mới giải thoát.

Đường lối tu này khó đi, bởi tuy rõ được lý rồi tức đã biết con đường đi nhưng vì không có phương tiện, nên nhiều người sợ không dám đi. Hoặc nghe nói “kiến tánh thành Phật”, tưởng như dễ thành thánh, thành Phật lắm. Nếu chỉ nghe nói thôi mà không chịu tu, cứ đi uống trà, nói dóc với nhau hoài thì không thể nào thành tựu được. Để khắc phục điểm yếu đó, người tu phải ngồi thiền, công phu miên mật thì việc tu mới có kết quả. Còn nghe hiểu mà không chịu tu, cứ thả trôi, nói suông tán gẫu hoài thì chỉ thành bệnh nói dóc, rốt cuộc chỉ có hại chứ tu không tiến. 

Từ tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền đến tổ Huệ Năng, lời các ngài dạy khiến người học dễ ngộ như trở bàn tay. Chỉ thẳng, không giấu giếm chút nào hết. Tổ Đạt-ma bảo tổ Huệ Khả: “Ðem tâm ra ta an cho, hoặc như tổ Huệ Năng nói với ngài Huệ Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?”. Những lời nói này đều là chỉ thẳng, gọi là “trực chỉ nhân tâm”. Tăng Ni phải hiểu rõ đường lối, chủ trương tu của mình. Tới thiền viện tu mà không hiểu rõ rồi sanh ra ngờ vực, đó là điểm yếu. Rõ được mới thấy mình thật đại phúc đại duyên, vì không những được gặp Phật pháp mà còn được hiểu lý sâu xa để tu hành.

Bài pháp của tổ Huệ Năng dạy ngài Huệ Minh “không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” rất sâu xa. Chỉ cần rõ được tinh túy trong đó thì việc tu hành không có gì khó. Nghĩ thiện, nghĩ ác là còn tạo nghiệp. Tạo nghiệp lành thì sanh cõi lành, tạo nghiệp dữ thì sanh cõi dữ. Ở cõi lành hết phước cũng bị rơi xuống, ở cõi dữ hết tội thì trồi lên. Cứ như vậy mà trồi lên tuột xuống, không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, không biết chừng nào ra khỏi. Luân hồi là đau khổ. Đức Phật thương xót chúng ta ở chỗ đó.

Bởi người thế gian thấy cuộc đời là thật, là khổ, nên thích tạo nghiệp lành để được quả giàu sang, vui sướng. Thế nên Phật dạy tu Thập thiện hoặc Ngũ giới là để an ủi chúng sanh, muốn cho chúng sanh bớt khổ, chứ không phải cầu sanh về cõi lành là điểm chủ yếu rốt ráo của Phật. Cứu cánh của đạo Phật là giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử thì phải không còn dính hai bên. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính là dẹp hai bên, cứu cánh giải thoát sanh tử.

Không nghĩ thiện, tức không còn niệm thiện. Không nghĩ ác, tức không còn nghiệp ác. Không có thiện ác, tức là vô niệm. Tâm còn dính hai bên là còn tạo nghiệp sanh tử. Tâm không còn dính hai bên, tức không còn tạo nghiệp, ngay đó là giải thoát, không còn nghi ngờ. Hiện tại, nơi mỗi người chúng ta, đều có đầy đủ khả năng vượt ra khỏi luân hồi sanh tử. 

Bài thuyết pháp tuyệt diệu của tổ Bồ-đề-đạt-ma, chỉ có mười mấy chữ mà giờ chúng ta tu học theo cả đời chưa xong. Như vậy mới thấy, người xưa không cần nói nhiều mà chỉ thẳng. Tuy nhiên chỉ thẳng đó là chỉ thẳng với hạng người có trí, chứ còn gặp ai cũng chỉ thẳng thì người ta không thể hiểu nổi. Cho nên người đi giáo hóa, phải biết trình độ chúng sanh để tùy duyên độ họ, làm sao đưa họ đi từng bước tiến đúng mục đích nhắm.

Người hướng dẫn phải hướng dẫn đúng và có con đường đi rõ ràng. Không thể nay chỉ đường này, mai chỉ đường kia, mốt chỉ đường nọ. Người đang ở hướng tây thì bảo họ đi thẳng, hướng mãi một đường sẽ tới chóp núi. Người ở hướng đông thì bảo đi đường hướng đông thẳng lên tới đỉnh, sẽ gặp nhau... Đừng một lúc mà chỉ dẫn đi hai ba đường, làm cho người ta bán tín bán nghi, không biết lối nào mới tới đỉnh. Nếu cứ đi loanh quanh hoài, chừng nào mới lên tới chóp núi?

Phật dạy đường lối tu nào cũng đều có điểm chủ yếu, chúng ta tu cần phải nắm cho rõ. Tu theo Thiền tông thì dùng trí phản quan của chính mình. Tu thiền công án hay thoại đầu thì dùng nghi. Tu về Tịnh thì tín hạnh nguyện phải đầy đủ. Tóm lại, tu pháp nào cũng phải thiết tha, đặt hết tâm mình vào đó. Tin phải tin cho thiết tha, nghi phải nghi cho thật đáo để, còn phản quan thì phải thật thấy tới nơi. Tu như vậy mới có kết quả.

Thời đại ngày nay khoa học phát triển, con người mở mang hiểu biết nhiều. Cho nên, đa phần thích dùng trí hơn dùng lòng tin. Chính vì vậy mà Phật tử hưởng ứng tu thiền nhiều. Ngày xưa ông bà mình tin đủ thứ, tin có Phật, có quỷ thần v.v... do lòng tin nhiều nên dạy những gì về lòng tin thì người ta dễ làm, còn dạy về trí thì khó làm. Ngày nay con người ít nghiêng về lòng tin mà dùng trí nhiều, cho nên chúng ta bắt đầu khơi mào để hướng mọi người đi vào con đường khai mở trí tuệ. Hướng đi này nói lên lẽ thật, ai thích dùng trí tuệ để thấy được lẽ thật thì theo đó mà tu, một khi đã thấy được lẽ thật rồi thì tiến mãi không lùi. Mỗi thời đại có mỗi cái hay riêng, không thể nói đâu là ưu, đâu là liệt.

Mục Lục
Danh sách chương: