Thiền Tông Việt Nam
Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập I
Phẩm 01. Ngộ Pháp Truyền Y (tt2)

Này thiện tri thức! Người tiểu căn nghe pháp Đốn giáo này, giống như cỏ cây gốc rễ nhỏ nếu như gặp mưa to thảy đều bị ngã rạp, chẳng thể lớn lên. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí Bát-nhã không sai khác gì với người đại trí, nhân đâu nghe pháp chẳng tự tỏ ngộ? Bởi do tà kiến chướng nặng, gốc rễ phiền não sâu dày giống như mây to che phủ mặt trời, chẳng được gió thổi qua thì ánh sáng mặt trời chẳng hiện. Trí Bát-nhã cũng không có lớn nhỏ, vì tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ chẳng đồng. Tâm mê thì thấy tu hành tìm Phật bên ngoài, chưa ngộ tự tánh tức là tiểu căn. Nếu người tỏ ngộ Đốn giáo, chẳng chấp tu bên ngoài, chỉ đối với tự tâm thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao thường chẳng thể nhiễm tức là thấy tánh.

Người mê chấp theo tà kiến, tu hành hướng ra bên ngoài tìm cầu. Ngày nay, đa số người học đạo cũng hướng bên ngoài tìm cầu, ít ai tìm trở lại nơi chính mình, thành ra bị che mờ trí Bát-nhã. Có sẵn mà không tin, lại tin bên ngoài thì làm sao ngộ được! Thế nên tạm đặt tên là tiểu căn, nhưng cũng có trí Bát-nhã như người đại trí chỉ vì chưa tin nhận thôi.

Nếu người tỏ ngộ trở lại, không chấp tu bên ngoài, thường khởi chánh kiến nơi tự tâm, tức tự tin nơi tâm mình sẵn có trí Bát-nhã sáng suốt, trí đó, phiền não trần lao không thể nhiễm. Sáng tỏ được lẽ thật như thế thì thấy tánh, đổi lại thành đại trí, mất tên tiểu căn, chuyển tên tiểu thành đại.

Nói tiểu căn, đại căn hay đại trí cũng là cái tên tạm đặt, không nên mắc kẹt trên cái tên mà thành ngăn ngại. Người không khéo mắc kẹt trên cái tên rồi phiền não, chê khen với nhau: “tôi đại anh tiểu” thành ra càng thêm ngăn cách. Chúng ta biết lớn-nhỏ chỉ là cái tên tạm thời đặt ra, trí Bát-nhã vốn không lớn-nhỏ, đem cái tưởng lớn-nhỏ mà hiểu Bát-nhã thì trái với Bát-nhã.

Trong Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn của Thiền sư Huệ Hải, có người đến hỏi Sư:

 - Bát-nhã lớn chăng?

Sư đáp:

- Lớn.

Người hỏi:

- Lớn bằng chừng nào?

Sư đáp:

- Không có ngằn mé.

Người hỏi:

- Bát-nhã nhỏ chăng?

Sư đáp:

- Nhỏ.

Người hỏi:

- Nhỏ bằng chừng nào?

Sư đáp:

- Xem chẳng thấy!

Người hỏi:

- Chỗ nào là Bát-nhã?

Sư đáp:

- Chỗ nào chẳng phải Bát-nhã!

Vậy là hết tướng lớn-nhỏ, nói lớn-nhỏ là tạm nói. Nhưng người thường mắc kẹt nơi cái tên, nghe nói lớn thì tưởng lớn, nói nhỏ thì tưởng nhỏ, bị cái tưởng gạt. Bát-nhã không thuộc lớn-nhỏ, còn kẹt cái thấy lớn-nhỏ là chưa rõ được Bát-nhã.

Rõ được như vậy thì chỗ nào chẳng phải Bát-nhã! Có ở chỗ này, không có ở chỗ kia thì không phải Bát-nhã. Rõ được Bát-nhã, nhìn khắp nơi đều là Bát-nhã, không vướng mắc, nhìn chỗ nào cũng sáng suốt không mê lầm. Đây là chỗ người nghe đôi khi hiểu lầm, nghe nói nhìn chỗ nào cũng là Bát-nhã thì nghĩ tất cả đều là Bát-nhã, bàn ghế hay cây cỏ cũng là Bát-nhã. Trong nhà Thiền có câu: “Rỡ rỡ hoa vàng đều là Bát-nhã”. Như vậy hoa cũng là Bát-nhã, đó là hiểu lầm theo cái tưởng, bị văn tự gạt. Đúng theo đây, nói rằng chỗ nào cũng Bát-nhã là khi tâm đã sáng thì nhìn hoa, nhìn cây, nhìn cảnh vật, nhìn ra tất cả đều thấy sáng tỏ, không lầm mê, chứ không phải cái hoa, cái cây là Bát-nhã, phải hiểu rõ ràng, không lẫn lộn.

Này thiện tri thức! Trong ngoài chẳng dừng trụ, đến đi tự do, hay trừ tâm chấp, thông suốt không ngăn ngại. Người hay tu hạnh này thì cùng với kinh Bát Nhã vốn không sai khác.

Tu khế hợp với kinh Bát Nhã là phải xả trừ tâm chấp trước, nên nói trong ngoài không dừng trụ, trong tâm ngoài cảnh đều không dính mắc, đúng với tinh thần của Lục Tổ ngộ kinh Kim Cang: “Chẳng nên trụ sắc sanh tâm, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”. Không trụ vào cái gì cả, xả trừ tất cả tâm chấp trước, không dính kẹt, không ở một chỗ thì lúc nào cũng sáng suốt. Không dính vào cái gì thì đâu có gì che mờ.

Chúng ta bởi có trụ, dừng trụ vào cái gì đó thì bị cái đó làm ngăn ngại, ngay đó che lấp Bát-nhã cho nên không sáng. Tâm không dừng trụ thì luôn sáng tỏ, tâm thênh thang rộng lớn đi qua tất cả, không gì ngăn ngại. Rõ được chỗ này là thông được kinh Kim Cang, nên đây nói: “Người hay tu hạnh này cùng với kinh Bát Nhã vốn không sai khác”.

Này thiện tri thức! Tất cả khế kinh và mọi thứ văn tự Đại thừa, Tiểu thừa, mười hai bộ kinh đều nhân nơi người mà đặt thành, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập. Vì nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có. Cho nên biết, muôn pháp vốn từ nơi người mà dấy lên, tất cả kinh sách nhân nơi người mà có nói ra. Bởi trong người kia có ngu, có trí, ngu là tiểu nhân, trí là đại nhân. Người ngu hỏi với người trí, người trí nói pháp cho người ngu nghe, người ngu chợt tỏ ngộ, tâm mở sáng, thì không khác gì với người trí.

Tất cả kinh điển đều nhân nơi người mà lập thành, do có người mê nên Phật mới nói pháp để độ người hết mê. Pháp nhân nơi người mà có. “Vì nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có”. Không có người mê thì Phật nói pháp làm gì? Nói pháp là nói với chúng ta, nhưng chúng ta lại đi tìm pháp ở đâu khác, là trái với ý Phật, đó là lầm.

Muôn pháp không rời ngoài nơi người mà riêng có, không phải tìm cầu bên ngoài. Nhưng người có căn cơ chẳng đồng nên pháp có sai biệt. Người thích này, người thích kia, người có căn cơ lớn, người có căn cơ nhỏ v.v... Thế nên Phật thuyết pháp nhiều thứ sai biệt. Tùy theo người, nhân nơi người mà pháp có sai biệt. Pháp sai biệt do nơi người, không phải ở nơi pháp. Nhưng người lại mắc kẹt nơi pháp, học pháp rồi chấp theo pháp thành ngại, đâu biết rằng gốc ở nơi người.

Bởi người có ngu có trí nên mới tạm lập có tiểu có đại, không phải pháp có tiểu có đại. Hiểu vậy thì ngu hay trí, tiểu hay đại cũng không cố định. Nên nói: “Bởi trong người kia có ngu, có trí, ngu là tiểu nhân, trí là đại nhân, người ngu hỏi nơi người trí, người trí nói pháp cho người ngu nghe, người ngu chợt tỏ ngộ, tâm mở sáng thì không khác gì với người trí”. Hiểu như vậy, chúng ta cởi mở rất nhiều, không kẹt trên cái tên, có bị nói ngu cũng không quá buồn, tạm ngu thôi. Vì nếu người ngu thưa hỏi với người trí, người trí chỉ bày khiến tỏ ngộ thì không còn tên “ngu”, chuyển thành “trí”.

Và hiểu vậy, chúng ta không tự khinh mình, cũng không dám khinh người. Bởi người kia tuy hiện giờ chưa sáng tỏ nhưng gốc của họ cũng có đầy đủ trí Bát-nhã, nếu gặp duyên khơi dậy trí Bát-nhã họ sẽ sáng tỏ, đôi khi sáng trước chúng ta, thành ra đâu dám khinh ai. Học đạo, chúng ta thấy rõ điều đó, có người tu thời gian lâu mà chưa sáng tỏ, có người mới vô tu chưa lâu lại sáng tỏ trước, nên không ai dám khinh ai. Mọi người đều vốn sẵn có trí thể Bát-nhã như nhau, chẳng qua là người đã phát hiện trước và người chưa phát hiện nên khác nhau, nếu đồng phát hiện thì thấy như nhau. Trên lý thật không sai khác. Đó là đem lại niềm tin cho mọi người tự tin vươn lên chứ không chấp nhận ngu mê mãi, đó cũng chính là nghĩa tánh Không của Bát-nhã. Ngu cũng tánh Không, trí cũng tánh Không, cho nên ngu mới chuyển thành trí, vì là tánh Không nên nó không có tánh cố định, khi hiểu ra thì ngu thành trí. Trí cũng vậy, có trí mà không biết thì ngu. Quán sâu chỗ này sẽ có chỗ sáng tỏ rõ ràng, hiểu rõ Bát-nhã một cách thực tế.

Này thiện tri thức! Chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ thì chúng sanh là Phật. Cho nên biết, muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng ở trong tự tâm mà chóng thấy bản tánh chân như. Kinh Bồ Tát Giới nói: “Bản nguyên tự tánh của ta là thanh tịnh, nếu nhận biết tự tâm, thấy tánh thì đều thành Phật đạo”. Kinh Tịnh Danh nói: “Liền đó hoát nhiên trở lại được bản tâm”.

“Chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ thì chúng sanh là Phật”. Phật và chúng sanh chỉ cách nhau ở một niệm mê với ngộ. Phật và chúng sanh chỉ là hai cái tên tạm đặt. Không ngoài chúng sanh riêng có Phật hay ngoài Phật riêng có chúng sanh vì thể vốn không hai. Thấy thể không hai, đó là thấy tánh. Vậy không phải tìm Phật ở đâu khác, muốn thấy Phật phải thấy ngay trong chúng sanh.

Cái gì chẳng ngộ? Cái gì ngộ? Chỉ là tâm. Chính Tâm mới biết chẳng ngộ, cũng chính Tâm mới biết ngộ, không ngoài tâm riêng có. Lục Tổ dạy: “Cho nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng ở trong tự tâm mà chóng thấy bản tánh chân như”. Cần yếu là sáng tỏ trở lại nơi tự tâm, ngay trong tự tâm chóng thấy bản tánh chân thật bất động. Không cần tìm đâu khác, chìa khóa ngay nơi chính mình, muốn mở thì mở, không chịu mở thì làm chúng sanh mãi.

Vị tăng tên Huệ Siêu đến hỏi Thiền sư Tịnh Tuệ:

- Thế nào là Phật?

Thiền sư Tịnh Tuệ bảo:

- Ông là Huệ Siêu.

Ngay đó, Huệ Siêu sáng tỏ.

Thiền sư Tịnh Tuệ không giải thích Phật là thế này thế kia, chỉ bảo: “Ông là Huệ Siêu” thì biết ngay, cái gì là Phật! Thẳng tắt không phải dài dòng.

Lục Tổ dẫn kinh Bồ Tát Giới nói rằng: “Bản nguyên tự tánh của ta là thanh tịnh, nếu nhận biết tự tâm, thấy tánh đều thành Phật đạo”. Bản nguyên tự tánh, tức tự tánh sẵn có nơi chính mình, vốn tự thanh tịnh, không phải làm cho thanh tịnh nữa. Do chúng ta mê không thấy được, vọng khởi lăng xăng thành che lấp đi. Khéo nhận trở lại thì sẵn đủ, chính chỗ đó là chỗ thành Phật chứ không đâu khác. Thành Phật là thành ngay nơi tự tâm, nhưng là tâm sẵn có thanh tịnh chứ không phải tâm vọng tưởng lăng xăng.

Tổ dẫn thêm kinh Tịnh Danh tức kinh Duy Ma Cật: “Liền đó hoát nhiên trở lại được bản tâm”. Bản tâm cũng sẵn nơi chính mình, khi tỉnh ngộ thì ngay đó bỗng nhiên rỗng suốt liền trở lại “được” bản tâm, không phải tìm bản tâm ở đâu khác. Đó gọi là Đốn giáo, rất nhanh chóng. Nói “được” là tạm nói chứ không được cái gì khác, chỉ trở lại cái sẵn có nơi mình, chính là con đường thẳng tắt.

Tổ đi trước, đã có kinh nghiệm thấy rõ rồi chỉ dạy cho tất cả. Chúng ta nắm vững yếu chỉ này, tu tập theo sẽ bớt tốn công rất nhiều. Chạy quanh co rốt cuộc cũng trở về cái sẵn có, giờ đi thẳng vào đây sẽ bớt tốn công.

Này thiện tri thức! Tôi ở chỗ Hòa thượng Nhẫn, vừa nghe liền ngay lời nói tỏ ngộ, chóng thấy bản tánh chân như. Do đó tôi đem giáo pháp này truyền ra, khiến cho người học đạo chóng ngộ Bồ-đề.

Lục Tổ dẫn lại ngay bản thân của Ngài lúc ở nơi Ngũ Tổ: “vừa nghe thì ngay lời nói tỏ ngộ, chóng thấy bản tánh chân như”. Tức không kẹt nơi lời nói, mà ngay lời nói nhận lại bản tánh nơi chính mình.

Đa số người học đạo nghe pháp lâu mà không tỏ ngộ bởi duyên theo lời nói rồi phân tích, chạy theo tiếng nên không thấy được để trở lại với chính mình. Nghe như vậy là “pháp duyên” chứ chưa phải “pháp thật”, pháp thật ở ngay nơi chính mình. Cần yếu phải đạt ý quên lời, tức phải nhận được ý ngoài lời nói. Lục Tổ rất bén nhạy, nghe liền nhận được bản tánh chân như nơi chính mình. Chóng thấy tức ngay đó liền thấy. Nói lên rằng nó có sẵn, không cần trải qua thứ lớp.

Ngài nói: “Do đó tôi đem giáo pháp này truyền ra khiến cho người học đạo chóng ngộ Bồ-đề”. Tổ đã thấy được nên đem lẽ thật đó giúp cho mọi người cũng chóng thấy trở lại như Tổ. Những điều Ngài nói ra xuất phát từ kinh nghiệm chân thật của tự thân, không phải do suy luận mà nói, cũng không phải nghe người khác nói rồi nói lại. Đã trực tiếp từ chỗ chứng nghiệm nói ra, nên có sức sống rất lớn cho người học, để bảo chứng cho tất cả đầy đủ lòng tin.

Mỗi người hãy tự xét rõ tâm mình, thấy bản tánh mình. Nếu tự chẳng ngộ, cần tìm bậc Đại thiện tri thức hiểu pháp Tối thượng thừa chỉ thẳng cho con đường chân chánh. Bậc thiện tri thức ấy có nhân duyên lớn, nghĩa là giáo hóa, dẫn dắt, khiến được thấy tánh, vì tất cả pháp lành nhân vị thiện tri thức mà hay phát khởi. Chư Phật ba đời, mười hai bộ kinh vốn tự có đủ trong tánh người. Chẳng thể tự ngộ, phải cầu bậc thiện tri thức chỉ bày cho mới thấy. Nếu người tự ngộ thì chẳng nhờ tìm cầu bên ngoài. Nếu một bề chấp cho là phải cần vị thiện tri thức ấy mới mong được giải thoát, không có lẽ ấy.

Đây Lục Tổ chỉ dạy, mỗi người hãy tự xét rõ tâm mình, thấy trở lại bản tánh mình, đó là chủ yếu, ngoài tâm này không thêm gì khác. Nhưng nếu tự mình chẳng ngộ, cần phải tìm bậc đại thiện tri thức chỉ cho con đường vào. Đại thiện tri thức là người đã thấy rõ con đường chân thật Tối thượng thừa này mới có thể chỉ rõ ràng, chính xác.

Sao gọi là Tối thượng thừa? Vì không còn gì trên nữa, đây là lẽ thật rốt ráo không có gì che giấu, không còn gì khác. Tìm gặp được bậc thiện tri thức này là nhân duyên rất lớn nên phải trân trọng, chớ xem thường mà bỏ qua. Bởi tuy việc lớn này là cái tự nơi mỗi người chính mình sẵn có, nhưng vì còn mê không nhận ra, bị vọng tưởng điên đảo che, do đó phải nhờ thiện tri thức là những bậc đi trước thấy trước chỉ cho chúng ta để đi thẳng vào chỗ chân thật, thì còn gì quý bằng!

Tổ dạy, tất cả kinh điển có đủ trong tánh người, không phải tìm đâu xa. Phật ngộ trở lại tự tánh, Ngài sống trọn vẹn, hết những mê lầm, từ trong đó Ngài nói ra. Chúng ta cũng vậy, ngộ trở lại tự tánh thì trong đó phát ra đầy đủ, không thiếu.

Như vậy, chưa tỏ ngộ thì cần phải nhờ thiện tri thức chỉ cho để sáng tỏ trở lại việc lớn của chính mình, tuy nhiên không phải một bề ỷ lại vị thiện tri thức bên ngoài, cốt yếu phải tự ngộ. Thiện tri thức bên ngoài không thể đem cái ngộ đến, chỉ giúp khiến chúng ta tự ngộ, nên nói: “Nếu một bề chấp phải cần có thiện tri thức ấy mới mong giải thoát thì không có lẽ ấy”. Ngài Nam Viện từng khai thị: “Dưới gậy vô sanh nhẫn, gặp cơ chẳng thấy thầy”. Gặp cơ chẳng thấy thầy tức là đã tự khế hợp được thì vượt qua ông thầy, không còn mắc kẹt nơi thầy. Nói vậy không có nghĩa là bác bỏ thầy, mà nhờ thầy chỉ dạy rồi phải tự mình sáng lên vượt qua ông thầy ở bên ngoài.

Tại sao? Trong tự tâm có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê, vọng niệm điên đảo thì thiện tri thức bên ngoài dù có truyền dạy, trọn không thể cứu được. Nếu phát khởi trí Bát-nhã chánh chân soi sáng, thì khoảng một sát-na vọng niệm đều dứt. Nếu nhận biết tự tánh thì một phen ngộ liền đến Phật địa.

Lục Tổ giải thích rõ, nơi mỗi người đều có tri thức tự ngộ không thiếu. Nhưng nếu khởi tâm điên đảo tà mê mãi thì dù có thiện tri thức bên ngoài tận tâm truyền dạy cũng không cứu được. Quan trọng là phải biết dẹp những tà mê trong tâm thì thiện tri thức bên ngoài chỉ ra mới nhận được, mới sáng được. Giống như chúng ta dọn sẵn cõi lòng cho trống sạch thì thiện tri thức chỉ cho liền nhận rõ, trong tâm để đầy rác mãi thì dù thiện tri thức bên ngoài chỉ cho cái thật nhưng chúng ta đâu nhận được.

“Nếu phát khởi trí Bát-nhã chánh chân soi sáng thì khoảng ngay một sát-na vọng niệm đều dứt”. Nếu có trí Bát-nhã chánh chân soi sáng thì vọng niệm không chỗ bám. Vọng niệm khởi được là do thiếu Bát-nhã soi sáng, vì vọng niệm thích nghi với bóng tối, tức vô minh. Bát-nhã là ánh sáng, nên có Bát-nhã thì vọng niệm phải mất, phải tan. Cho nên chúng ta tu tập cần phải có trí tuệ.

Trong nhà Thiền thường có câu: “Chẳng sợ vọng khởi, chỉ sợ giác chậm”. Giác tức là trí, có trí, biết được nó thì nó hết, không chỗ bám. Thiếu giác, vọng liền có chỗ nương; có ánh sáng giác ngộ, vọng hết chỗ nương.

“Nếu nhận biết tự tánh một phen ngộ liền đến Phật địa”. Biết được tự tánh tức là đạp lên đất Phật, chỗ thấy cùng với Phật không khác, không phải tìm thêm cái gì khác, là đầy đủ chánh nhân thành Phật.

Này thiện tri thức! Trí tuệ soi xét, sáng suốt cả trong ngoài, nhận biết bản tâm mình. Nếu nhận biết bản tâm tức vốn giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bát-nhã tam-muội. Bát-nhã tam-muội tức là vô niệm. Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp, tâm chẳng nhiễm trước, đó là vô niệm. Dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng chẳng dính tất cả chỗ. Chỉ bản tâm thanh tịnh, sẽ khiến sáu thức ra sáu cửa, ở trong sáu trần, không dính mắc, không lẫn lộn, đến đi tự do, ứng dụng thông suốt không ngưng trệ, tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là hạnh vô niệm. Nếu trăm vật chẳng nghĩ, sẽ khiến cho niệm dứt bặt tức là pháp trói, gọi là biên kiến.

Tinh thần tu tập theo Lục Tổ chỉ dạy là phải nhận biết bản tâm, muốn nhận biết bản tâm phải dùng trí tuệ để nhận biết. Trí tuệ nhận biết bản tâm phải thấu suốt cả trong ngoài. Trong là căn ngoài là trần, hay trong là tâm ngoài là pháp, không mắc kẹt trong ngoài thì soi suốt mới nhận rõ bản tâm, kẹt nơi căn vướng nơi trần liền bị che mờ.

“Nếu nhận biết bản tâm tức vốn giải thoát”. Tự tâm vốn giải thoát, vì mê mới tự trói mình vào trần, nói trói chỉ là “vọng trói”. Ví như chúng ta thấy thỏi vàng liền khởi tâm phân biệt thấy vàng là quý rồi tham luyến, là tự mình trói vào nó. Nếu tỏ ngộ trở lại, biết vàng chỉ là kim loại, là vật vô tri, không có tâm tham luyến, ngay đó là tự giải thoát.

“Nếu được giải thoát tức là Bát-nhã tam-muội, Bát-nhã tam-muội tức là vô niệm”. Bát-nhã tam-muội ở ngay nơi tự tâm, không phải ở trong chữ nghĩa. Phân tích Bát-nhã tam-muội là thế này thế kia gì đó là chữ nghĩa, chính ngay nơi tự tâm mới là Bát-nhã tam-muội chân thật. Bát-nhã tam-muội cũng tức là vô niệm. Nhưng vô niệm ở đây không phải là diệt niệm không cho nghĩ gì cả, mà chính thấy tất cả pháp nhưng tâm không nhiễm trước, không dính mắc. Như Sơ Tổ Trúc Lâm dạy: “Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.

“Dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng chẳng dính tất cả chỗ, chỉ bản tâm thanh tịnh sẽ khiến sáu thức ra sáu cửa, ở trong sáu trần, không dính mắc, không lẫn lộn, đến đi tự do, ứng dụng thông suốt không ngưng trệ tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là hạnh vô niệm”. Phải học thấu suốt chỗ vô niệm này, không khéo thành pháp trói kẹt một bên. Đây là tâm đối với tất cả pháp không nhiễm trước, không dính mắc, không trụ vào chỗ nào. Biết khắp hết không phải không biết, nhưng biết khắp mà không dính mắc, tức biết tất cả mà lìa tất cả nên đều vô ngại. Không dính thì đâu có ngại, chúng ta ngại là do bị dính. Cho nên không cấm chúng ta biết mà chỉ đừng dính, bởi tâm có dính có trụ liền đó có ngăn có ngại.

Sáu thức tuy đi ra sáu cửa (tức sáu căn), mắt thấy cũng biết, tai nghe cũng biết, có biết có phân biệt là ở trong sáu trần nhưng không lẫn lộn với sáu trần, tức là không dính với sáu trần nên tự do tự tại, ngay đó là chuyển thức thành trí, đều thành diệu dụng. Tu không phải bỏ cái gì, mà chuyển thành diệu dụng. Chúng ta vì dính mắc nên bị quở: “Sống theo thức tình, phân biệt yêu ghét hơn thua rồi sanh khởi phiền não”.

Như vậy không phải phá bỏ cái biết. Biết tất cả những trần cảnh bên ngoài mà không bị trần cảnh làm mê, không dính với trần cảnh nên không ngưng trệ, đây cũng chính là tinh thần vô trụ. Chánh định Bát-nhã là như thế. Tức là đối với sáu trần không bị mê, không dính, không loạn là chánh định. Và chánh định này sáng suốt có trí tuệ, nên gọi là chánh định Bát-nhã. Đây là chân nghĩa vô niệm mà Lục Tổ chỉ dạy, không đồng với vô niệm của người hiểu lầm một bên là dứt không cho niệm, không cho nghĩ.

“Nếu trăm vật chẳng nghĩ sẽ khiến cho niệm dứt bặt tức là pháp trói, gọi là biên kiến”. Chẳng cho nghĩ gì, niệm dứt bặt, tức bị pháp trói, không được tự tại. Còn biết tất cả nhưng không dính, là cái biết tự tại, không nghiêng một bên nên không rơi vào biên kiến.

Có vị tăng đến tham vấn Hòa thượng Mễ Hồ, trên đường đi gặp bà già. Vị tăng hỏi bà:

- Bà có quyến thuộc chăng?

Bà đáp:

- Có.

Vị tăng hỏi:

- Ở chỗ nào?

Bà đáp:

- Sơn hà đại địa, hoặc cỏ hoặc cây đều là quyến thuộc của tôi.

Vị tăng hỏi:

- Bà đã từng làm sư cô chăng?

Bà không đáp mà hỏi lại:

- Thầy thấy cái gì?

Vị tăng đáp:

- Là người thế tục.

Bà nói:

- Thầy đâu chẳng phải là tăng.

Vị tăng nói:

- Bà chớ có lẫn lộn Phật pháp.

Bà liền nói:

- Tôi chẳng làm lẫn lộn Phật pháp.

Vị tăng nói:

- Bà thế ấy thì đâu không lộn Phật pháp.

Bà nói:

- Thầy là nam tôi là nữ, lẫn lộn chỗ nào?

Bà già này tuy sống ngoài thế tục nhưng đã tham thiền nhiều năm, tâm đã sáng tỏ, có chỗ thấy rất rõ ràng. Sơn hà đại địa, cỏ cây đều là quyến thuộc của bà, tức không có gì tách rời riêng có, không bỏ một pháp. Tuy nhiên không phải nói vậy là cái thấy lộn xộn, không rõ ràng. Tăng tục, nam nữ, bà thấy rõ ràng, không lẫn lộn, không có mê trong đó. Không phải nghe nói tu đến rốt ráo là phải đạt đến vô phân biệt trí của Ngài Văn-thù-sư-lợi, rồi nghĩ vô phân biệt là không biết nam nữ, hiểu vậy là lầm. Phải hiểu kỹ, vô phân biệt mà là trí, tức nam biết nam, nữ biết nữ, tăng biết tăng, tục biết tục nhưng không lẫn lộn, không lầm mê trong đó, biết rõ mà không mê, đó mới là trí tuệ khế hợp với đạo. Lục Tổ dạy rất kỹ, rất rõ ràng.

Này thiện tri thức! Người ngộ pháp vô niệm thì trọn đều thông suốt muôn pháp. Người ngộ pháp vô niệm thì thấy cảnh giới chư Phật. Người ngộ pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.

Ngài nhấn mạnh, ngộ pháp vô niệm thì thông suốt muôn pháp. Bởi vì sao? Vì không còn bị dính nhiễm, không bị pháp làm mê nên thông suốt tất cả. Chúng ta thấy có dính nên không thông suốt. Ngộ pháp vô niệm như thế thì thấy cảnh giới Phật đến địa vị Phật không nghi ngờ. Tức chính đó là nhân để thành Phật, gọi là chánh nhân thành Phật. Không thể đem tâm phàm phu, nghĩ ngợi lung tung theo tình mê mà khế hợp với Phật được, phải vượt lên những niệm kia-đây đối đãi.

Này thiện tri thức! Đời sau có người nhận được pháp của tôi, hãy đem pháp môn Đốn giáo này đối với người đồng kiến, đồng hạnh, phát nguyện thọ trì như thờ Phật, nên trọn đời chẳng lui sụt, là nhất định sắp vào Thánh vị. Song cần truyền trao theo từ trước đến nay là thầm truyền trao phó, chẳng được ẩn giấu chánh pháp ấy. Nếu người chẳng đồng kiến, đồng hạnh, ở trong pháp khác thì chẳng truyền trao, sẽ làm tổn đến người trước kia, rốt ráo không ích gì. Sợ rằng người ngu chẳng hiểu mà chê bai pháp này, thì trăm kiếp ngàn đời đoạn dứt hạt giống Phật.

Pháp này là pháp Đốn giáo, chỉ thẳng đến lẽ thật cứu cánh. Thế nên, với người đồng kiến đồng hạnh cùng nhau phát nguyện thọ trì, mới chỉ lại, mới thầm nhận với nhau. Nếu được khế hợp, tin nhận, thọ trì giống như thờ Phật, tức hết lòng trân trọng, cung kính, trọn đời không lui sụt, thì bảo đảm nhất định sắp vào Thánh vị, không còn nghi ngờ. Tức được tâm tin chắc, tâm kiên cố, không còn thối chuyển.

Nhưng pháp này phải thầm truyền trao phó là sao? Tức là tâm tâm thầm khế hợp với nhau, vượt ngoài ngôn ngữ chữ nghĩa, không phải trao trên chữ nghĩa, không phải phô trương hình thức bên ngoài. Đúng như vậy mới là chân thật chỉ nhau. Lẽ thật này không phải của riêng ai nên không được che giấu. Nếu có tâm che giấu thì chưa phải là người thật ngộ, tức thấy còn có ngã. Nếu người không đồng kiến đồng hạnh, ở trong pháp khác tức không đủ lòng tin, mà truyền trao, sợ rằng họ sanh tâm chê bai sẽ đoạn dứt hạt giống Phật. Như vậy, người nghe mà có lòng tin là đã trồng căn lành sâu dày.

Này thiện tri thức! Tôi có một bài tụng Vô Tướng, mỗi người cần tụng lấy. Tại gia hay xuất gia, hãy nương bài tụng này tu hành, nếu chẳng tự tu, chỉ ghi nhớ lời tôi, cũng không có ích gì. Hãy nghe tôi nói tụng:

Lục Tổ nói bài tụng Vô Tướng cho mọi người nhớ, ứng dụng tu hành, đây là chung cho cả hàng tại gia và xuất gia. Ngài nhắc phải nương đây tu hành mới đúng ý của Ngài, nếu chẳng tự tu, chỉ ghi nhớ lời nói thì không ích gì. Quan trọng là phải hiểu, rồi ứng dụng để thực hành.

Thuyết thông và tâm thông,

Như mặt trời trên không,

Chỉ truyền pháp kiến tánh,

Ra đời phá tà tông.

Nhiều người nghe nói Thiền Tông là giáo ngoại biệt truyền nên nghĩ tu thiền không cần giáo, là nghiêng chấp một bên, không thông. Lục Tổ dạy, cần phải thuyết thông, tâm cũng thông. Thuyết thông là thông giáo, nói năng không kẹt trên ngôn ngữ văn tự, không bị chữ nghĩa làm ngại. Tâm thông là sáng được tâm, thấu được cội nguồn chân thật. Vậy thì giáo cũng thông, tâm cũng thông. Khi nói, khéo dùng phương tiện ngôn ngữ nói ra từ chỗ tâm sáng, nên lời nói thấu lý, không mắc kẹt trên chữ nghĩa. Người tâm thông khi giảng kinh sẽ giảng thấu đáo những lý sâu xa, không vướng mắc chữ nghĩa, người nghe sẽ nghe được sâu hơn.

Đường lối của Lục Tổ là truyền pháp kiến tánh, chỉ cho người nhận ra bản tánh chân thật nơi chính mình, chỉ thẳng lẽ thật chứ không quanh co dài dòng. Đem pháp này ra đời để phá các tà tông, tức những tông chỉ còn nghiêng lệch bên này bên kia, trái với nghĩa thật kiến tánh.

Pháp tức không đốn tiệm,

Mê ngộ có chậm mau,

Chỉ môn kiến tánh này,

Người ngu chẳng thể rành.

Người không khéo sanh tâm cho ta tu theo pháp thượng thừa, pháp đốn giáo, còn người tu theo pháp tiệm, là kém hơn ta. Chính tâm đó là không tốt, nên Lục Tổ dạy pháp không có đốn tiệm, đừng có phân biệt. Bởi tùy theo căn cơ của người mà có chậm có mau, không phải ở nơi pháp. Người ngộ được pháp thấy như nhau, chớ đem tâm phân biệt chậm mau gán cho pháp mà thành ngại.

Môn kiến tánh này chỉ thẳng bản tánh chân thật xưa nay vốn không sanh diệt nơi tự tâm của mỗi người. Đây là pháp chân thật rốt ráo, vượt ngoài tình thức phân biệt hiểu biết đối đãi. Người ngu sống trong tâm sanh diệt, đem tình thức phân biệt của người mê để hiểu pháp này thì không thể hiểu được, đôi khi hiểu lệch lạc rồi thành chê bai, xuyên tạc. Không phải pháp không cho người hiểu, do người còn dùng tâm mê nên tự che ngại. Pháp vẫn bình đẳng. Nếu vượt qua tâm phân biệt này thì tự thầm hiểu, nhận ra rõ ràng nơi chính mình có đầy đủ không thiếu. Đây cũng để ngăn ngừa người học không thể đem tâm phân biệt theo tình mê để hiểu đến pháp này, đó là lầm.

Nói tuy có muôn thứ,

Hợp lý trở về một,

Trong nhà tối phiền não,

Thường phải sanh trời tuệ.

Nói ra tuy có muôn thứ, đó là do dùng phương tiện ngôn ngữ để nói theo căn cơ của mỗi người, thế nên lời nói có sai biệt, có đốn tiệm, có pháp này pháp nọ. Cũng như Phật nói pháp có tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhưng hợp lý thì trở về chỉ một chứ không hai.

Pháp chân thật vượt ngoài lời nói. Có sai biệt, có nhiều thứ là chưa phải pháp thật, người học cần nhận rõ để không lầm. Đây nhắc cho người học chớ chấp theo những thứ sai biệt mà bỏ quên lý thật không hai. Tuy nhiên, nói “Hợp lý trở về một” nhưng đến chỗ rốt ráo cái “một” cũng phải quên. Bởi một đối với nhiều, còn vướng nơi một cũng còn dính mắc, còn ngại, quên luôn “một” thì cái thấy khi ấy mới tự tại, thấy một cũng được, thấy nhiều cũng được, thấy suốt tất cả.

Lục Tổ lại nhắc chúng ta chớ sống theo phiền não, nếu ở trong nhà tối phiền não thì phải thường khởi sanh mặt trời trí tuệ để soi sáng. Có trí tuệ soi sáng tức phiền não không có chỗ bám, bởi có trí tuệ thì không có phiền não, ngược lại, có phiền não thì không có trí tuệ.

Như vậy phiền não và trí tuệ vốn không có hai “thể”, thấu rõ chỗ này liền hiểu được nghĩa “phiền não tức Bồ-đề”. Không có cái thể riêng của phiền não, cái thể riêng của Bồ-đề. Bồ-đề là trí giác, giác phiền não tức là Bồ-đề, còn mê Bồ-đề tức là phiền não.

Tà đến phiền não tới,

Chánh đến phiền não trừ,

Chánh tà đều chẳng dụng,

Thanh tịnh đến Vô dư.

Tâm chứa tà tức trái với lý thật, là vọng tưởng điên đảo, nên chứa nó là mời phiền não đến. Tâm chứa chánh thì phiền não tự trừ, tâm không khởi vọng tưởng thì phiền não không chỗ sanh. Người khéo biết tu phải sáng suốt nhận rõ, không lầm chỗ này.

Trước, thấy “tà-chánh” để biết mà không theo “tà”, trở về “chánh”, giữ tâm chánh để tà không đến, thì phiền não không có chỗ sanh. Tiến lên bước nữa, đến cuối cùng phải vượt qua cả tà và chánh mới thật thanh tịnh, vô sanh. Bởi còn thấy có chánh có tà là còn trong phương tiện đối đãi, dùng chánh để đối với tà, nếu tà hết chánh cũng không còn dùng, nên buông cả chánh. Không thêm niệm tà-chánh, chỉ còn một tâm thanh tịnh là đến Vô dư Niết-bàn, đến đó liền hợp với tâm Tổ.

Bồ-đề vốn tự tánh,

Dấy tâm liền là vọng,

Tâm tịnh ở trong vọng,

Chỉ chánh, không ba chướng.

Bồ-đề chân thật vốn ngay tự tánh của chính mình, không phải tìm bên ngoài, vừa khởi tâm tìm Bồ-đề là thành vọng. Kinh Duy Ma Cật:

Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi thiên nữ:

- Cô đến bao lâu nữa thì được Vô thượng Bồ-đề?

Thiên nữ đáp:

- Như Ngài Xá-lợi-phất trở lại làm phàm phu, tôi mới có thể thành Vô thượng Bồ-đề.

Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

- Tôi làm phàm phu, điều đó không thể có.

Thiên nữ nói:

- Tôi được Vô thượng Bồ-đề cũng không thể có. Bởi vì sao? Bồ-đề không có chỗ trụ, thế nên không có được.

Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

- Hiện tại chư Phật được Vô thượng Bồ-đề, đã được và sẽ được, nhiều như số cát sông Hằng, đều gọi đó là gì? (Hiện tại có vô lượng chư Phật đã chứng Bồ-đề, quá khứ có vô lượng chư Phật đã chứng Bồ-đề, vị lai sẽ có vô lượng chư Phật chứng Bồ-đề, vậy là sao?)

Thiên nữ nói:

- Đều do văn tự thế tục nói có ba đời, chẳng thể bảo Bồ-đề có quá khứ, hiện tại, vị lai.

Do văn tự thế tục tạm nói có quá khứ chư Phật đã được, hiện tại chư Phật đang được, vị lai chư Phật sẽ được. Đó là phương tiện văn tự, Bồ-đề chân thật không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Bởi Bồ-đề còn có quá khứ, hiện tại, vị lai là Bồ-đề sanh diệt. Đây ngầm chỉ Bồ-đề chân thật vốn ở nơi tự tánh xưa nay, nên không thật thấy có được, ở nơi tự tánh thì còn được gì nữa! Ở trong đó mà dấy tâm lên có một cái Bồ-đề nữa liền là vọng, trái với Bồ-đề.

Tâm tịnh ngay trong vọng, không ngoài vọng riêng có. Tức ngay trong vọng mà lìa vọng, vọng không có chỗ bám thì tự lặng. Chỉ cần tâm chánh trở lại, không lầm theo vọng là vượt qua ba chướng, thông suốt tự tại (ba chướng tức phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng), vì ba chướng cũng từ tâm sanh, phiền não cũng từ tâm sanh. Nhà Thiền có câu: “Phiền não nhân tâm mà có, nếu tâm không thì phiền não ở chỗ nào?” Do tâm khởi vọng mới có phiền não, nếu tâm Không thì phiền não bám vào đâu? Cho nên phiền não cũng từ tâm sanh, rồi có tạo nghiệp, mà thành chướng.

Tâm chánh thì chuyển ba chướng, hết chướng liền tự tại vô ngại. Từ tâm thành chướng, cũng từ tâm thành giải thoát, không cần tìm đâu xa. Nên nhà Thiền gọi là Tâm Tông, nhấn mạnh nơi tự tâm, đi thẳng vào cái gốc, chính xác.

Người đời nếu tu đạo,

Tất cả trọn chẳng ngại.

Thường tự thấy lỗi mình,

Cùng đạo tức tương đương.

Người khéo biết tu hành đúng theo chánh đạo thì không có gì chướng ngại, bởi chướng ngại là ở nơi tâm chúng ta chứ không phải bên ngoài, do không khéo tu, tâm chấp trước, vướng mắc thành có ngại. Người không biết, theo cái tưởng chấp cho rằng bên ngoài làm ngại, đổ thừa do chướng duyên làm khó tu. Sự thật thì duyên không có chướng, tự ta chướng rồi đổ cho duyên chướng thành ra tu mãi vẫn không hết ngại.

Như người thường đổ thừa duyên nơi này ngại rồi đi nơi khác, nhưng nơi khác cũng có cái ngại khác, mỗi nơi đều có cái ngại riêng. Tâm chưa thông ở nơi nào cũng ngại. Người không biết cứ đổ thừa bên ngoài làm ngại, chỉ lo trừ bên ngoài không trừ bên trong, trừ mãi cũng không hết, bởi đó là trừ ngọn. Ví như chặt cây, chặt ngọn này thì ngọn khác mọc lên, chỉ cần đào gốc thì hết chỗ để mọc.

Lại khéo biết tu thì thường phải tự thấy trở lại lỗi nơi mình, thấy trở lại chính mình, rõ được chính mình tức cùng đạo tương đương. Đây cũng chính là tinh thần Phản Quan Tự Kỷ trong nhà Thiền, Soi Lại Chính Mình là quan trọng. Buông các duyên mà soi sáng lại chính mình, khi chính mình sáng thì nhìn ra tất cả đều sáng, tâm sáng nhìn cái gì cũng sáng. Tu hành đúng như thế sẽ ít thấy phiền não, vì phiền não vừa khởi lên là thấy, liền trừ, thành ra phiền não đâu có nhiều, ít phiền não thì ít xa với đạo. Ngược lại, lỗi mình không thấy mà chỉ thấy lỗi người thành đi xa với đạo.

Sắc loại tự có đạo,

Đều chẳng não hại nhau,

Lìa đạo riêng tìm đạo,

Trọn đời chẳng thấy đạo.

Sắc loại chỉ cho tất cả chúng sanh trong các loài. Ngay trong mỗi chúng sanh vốn tự có đạo, không phải tìm bên ngoài, ý này nhắc chúng ta soi lại chính mình. Nghĩa là mỗi chúng sanh đều có đủ tánh giác, là có đạo, đạo đó chân thật. Đã có đạo như nhau nên không não hại nhau cũng không ngăn cách nhau.

Nếu sống trở về với tánh giác thì không ai làm não hại ai, không ai chướng với ai, vì tánh giác đâu có chướng. Sở dĩ có não hại, có ngăn cách nhau là do quên mất đạo chân thật nơi mình mà chấp vào cái ngã hư dối. Luôn nhớ cái ngã này thì làm sao thấy đạo được! Thấy ta là cái này, người là cái kia, có ta có người thành ngăn cách. Nếu nhìn trên tánh giác thì đều như nhau, cho nên giây phút ngộ đạo là giây phút vắng bóng cái ngã này. Chúng ta tu tập phải nắm vững yếu chỉ này để tu hành sẽ không đi lạc.

Nơi chính mình vốn tự có đạo, cho nên tu hành muốn thấy đạo thì phải soi lại chính mình. Trái lại, hướng ra ngoài tìm thì trọn đời cũng không thấy đạo. Nếu có thấy thì đạo đó là đạo ở trong kinh điển, trong sách vở, chữ nghĩa. Nhưng đạo đó có giúp chúng ta hết phiền não, có giúp chúng ta giải thoát không? Không thể được. Chính đạo ngay trong tự tâm mới giúp chúng ta hết phiền não, giúp chúng ta giải thoát. Tìm ngay trong tự tâm mới là đạo chân thật, đó là nghĩa thiết thực.

Lăng xăng qua một đời,

Cuối cùng lại tự hận,

Muốn được thấy chân đạo,

Hành chánh tức là đạo.

Chạy ra bên ngoài lăng xăng tìm mãi, nhọc nhằn phí cả cuộc đời rốt cuộc rồi tự hận không có được gì. Đó gọi là bỏ của báu trong nhà chạy tìm ngói gạch bên ngoài. Ngói gạch thì không dùng được nên dù có được rồi cũng phải bỏ. Phải lấy của báu ngay trong nhà đem ra dùng mới có lợi ích thiết thực.

Cho nên muốn thấy được đạo chân thật, phải ngay nơi hạnh, thực hành cho chánh. Hành chánh tức chánh trở lại tâm của chúng ta, tâm chánh thì hợp đạo. Tâm không chánh dù tìm mãi cũng không thấy đạo. Tâm chánh là buông đi những niệm tà vạy, buông tâm nghiêng lệch bên này bên kia, tâm chạy đuổi tìm bên ngoài, buông những tâm niệm đó thì chánh lại tâm chúng ta. Theo những tâm niệm đó là theo tâm tà vạy là tâm nghiêng lệch, yêu người này, ghét người kia, dẫn chúng ta đi lệch ra ngoài, làm sao thấy được!

Nếu tự không đạo tâm,

Hạnh tối chẳng thấy đạo,

Nếu người thật tu đạo,

Chẳng thấy lỗi thế gian.

Tự mình không đạo tâm tức là quên tâm đạo của chính mình, không tin nhận tâm là đạo rồi hành theo hạnh tối, làm sao thấy được đạo! Hạnh tối tức thiếu trí tuệ, sống theo tình mê, trái bỏ tâm đạo. Vậy là tự mình trái bỏ chính mình, sống với vô minh.

Người thật biết tu hành theo chánh đạo chẳng thấy lỗi của thế gian, không thấy ra bên ngoài. Nếu chỉ thấy ra bên ngoài, tâm lo nhìn lỗi thế gian, thấy lỗi người này người nọ rồi theo đó mà chê khen càng sanh thêm phiền não, đâu thể thấy đạo. Thế nên Lục Tổ nhắc kỹ:

Nếu thấy lỗi người khác,

Lỗi mình đến bên cạnh,

Người lỗi ta chẳng lỗi,

Ta chê, tự có lỗi.

Thấy lỗi người khác tưởng mình hay, nhưng không ngờ mình đã có lỗi. Lỗi căn bản là lỗi quên mình, thêm nữa là lỗi xen vào việc người. Lỗi của người không liên hệ đến ta, ta vốn trong sạch thanh tịnh, nhưng khi nhìn thấy lỗi của người liền sanh tâm chê bai, hoặc chỉ trích thì ngay đó tự chuốc lấy lỗi. Thấy đau chưa? Lỗi của người, không dính đến ta, vậy mà ta lại nhảy vào đó cho dính theo. Người làm lỗi là phần của người, tại sao ta xen vào để mang lấy vạ, mang lỗi vào mình? Đó là cái lầm mê của chúng sanh!

Người thế gian nếu không học đạo, dễ mắc phải bệnh này. Nhờ học đạo, Đức Phật hoặc chư Tổ đem trí tuệ chỉ cho chúng ta sống theo con đường trí tuệ, mới thấy được những cái mê lầm đó. Thế gian có khi thấy nhiều lỗi của người khác rồi còn tự hào. Tự hào ta là người sành đời, ai có lỗi thì ta đều biết, không ai qua mắt ta. Nhưng như vậy là lỗi càng thêm nặng mà không hay biết. Lỗi nặng ở chỗ lớn thêm cái ngã, tức lớn thêm vô minh.

Mới thấy Lục Tổ chỉ dạy rất chí thiết “Người lỗi ta chẳng lỗi, Ta chê tự có lỗi”. Luôn nhớ vậy thì sống ngăn ngừa lỗi lầm, sống ít phiền não.

Chỉ tự bỏ tâm quấy,

Phá tan hết phiền não,

Yêu ghét chẳng bận lòng,

Duỗi thẳng hai chân ngủ.

Người khéo biết tu hành thường soi lại chính mình để tự bỏ đi những tâm quấy, là tâm lỗi lầm của chúng ta, những tâm tà vạy. Không khởi theo, không bám theo nó, đồng thời phá tan hết những phiền não nơi ta, được vậy mới quý. Ngược lại, chỉ thấy lỗi người trong khi lỗi ta lại mê. Việc người thì sáng nhưng việc mình lại mù quáng, từ đó mà lỗi sanh thêm lỗi. Thế nên chúng ta tu hành phải đi ngược chiều của thế gian.

Không bận lòng yêu-ghét thì duỗi thẳng chân ngủ, thật là khỏe! Chúng ta khởi yêu, khởi ghét làm sao ngủ yên? Bởi có yêu-ghét là có thiên lệch theo bản ngã, thuận theo ta thì yêu, nghịch theo ta thì ghét. Lấy cái tôi làm trung tâm để thành yêu-ghét. Ví như người đó quấy nhưng vuốt theo ta thì ta cũng yêu người đó, như vậy không phải thiên lệch sao? Thiên lệch theo bản ngã, thì không còn trong sáng. Từ đó có lấy-bỏ, có kia-đây, ngay đó là trái với tâm đạo.

Kiểm lại xem, người đời chỉ vì yêu-ghét mà gây ra biết bao sóng gió cuộc đời, tạo ra biết bao khổ đau trên thế gian, càng sống xa với đạo. Tu hành là phải sáng suốt để chuyển cái nhìn trở lại, nhìn đúng thấy đúng rồi làm đúng, cho nên quan trọng là chuyển cái nhìn.

Toan muốn giáo hóa người,

Tự phải có phương tiện,

Chớ để họ nghi ngờ,

Tức là tự tánh hiện.

Đây là nói về tinh thần lợi tha. Lục Tổ dạy muốn giáo hóa người thì tự mình phải có phương tiện, có những cách thức khéo léo để thích hợp với họ chứ không thể nói lý suông. Dù hiểu hay, nhưng nói lý mãi mà không hợp với người thì cũng không độ được. Thí dụ như chúng ta hiểu lý thiền cao, nhưng với người mới học đạo mà đem lý thiền cao nói thì họ không thể nghe. Nên phải có phương tiện để khế hợp với họ, họ nghe hiểu mới là khéo là hay. Cho nên giáo hóa không phải là phô bày cái hiểu biết của ta, mà biết cách dùng Phật pháp cho khế hợp với căn cơ, không cố chấp một chiều.

Phải có phương tiện khéo khiến cho họ thầm hợp, họ không có nghi ngờ, không do dự thì tự tánh mới hiện, mới sáng tỏ. Đây là giúp cho họ tự tin nhận trở lại nơi chính mình. Nhưng không phải bảo người làm mà chính mình lại không làm, chúng ta phải làm trước để xác quyết cho người có đủ lòng tin không nghi ngờ, như vậy người mới làm theo, mới sáng tỏ.

Phật pháp ở trong đời,

Chẳng lìa đời có giác.

Lìa đời tìm Bồ-đề,

Giống hệt tìm sừng thỏ.

Phật pháp ở ngay trong thế gian này, không phải lìa thế gian mà tìm giác ngộ. Bỏ thế gian mà tìm giác ngộ thì giác ngộ cái gì? Bởi thế gian có lầm mê nên mới có giác ngộ cái lầm mê đó. Như thế gian vô thường mà chúng ta tưởng thường, đó là mê, thấy rõ trở lại, đó là giác. Hoặc thế gian là khổ mà chúng ta tưởng vui, tham luyến theo đó, là mê. Giác ngộ trở lại cũng ngay nơi khổ đó mà giác, không phải tìm cái gì khác, tìm ở đâu xa xôi. Người không biết, nghĩ rằng giác ngộ phải tìm ở trong chùa, nghĩ trong chùa mới có giác ngộ, mà quên rằng giác ngộ không phải ở chùa, nếu vào chùa mà sanh phiền não mãi cũng không thể giác ngộ. Giác ngộ là ngay nơi phiền não, ngay thế gian lầm mê này. Hiểu vậy mới thấy Phật pháp ở khắp nơi, không riêng ở chỗ nào.

Trong nhà Thiền, có một vị ni tên Duy Cửu, tức Không Thất Đạo Nhân, tham thiền ngộ đạo. Bà cất nhà tắm ở Bảo Ninh. Để nhắc nhở, cảnh tỉnh mọi người khi vào nhà tắm, bên ngoài cửa phòng tắm, bà treo một tấm bảng đề:

“Một vật cũng không, rửa cái gì?

Mảy trần nếu có, từ đâu khởi?

Nói lấy một câu Tử Huyền,

Mới có thể đồng vào tắm.

Cổ Linh chỉ biết kì lưng,

Khai sĩ đâu từng sáng tâm.

Muốn chứng quả Ly Cấu địa,

Phải toàn thân toát mồ hôi.

Trọn nói nước hay rửa bụi,

Đâu biết nước cũng là bụi.

Dù cho nước-bụi chóng trừ,

Đến đây cũng phải rửa hết”.

Nghĩa là lý thật xưa nay vốn “không một vật” thì rửa là rửa cái gì? Rồi bụi tức là trần, trần từ đâu khởi? Chỉ là vọng khởi. Vậy thì tắm là tắm cái gì?

Tử Huyền chỉ cho Quách Tượng, ông có biện tài vô ngại, tức phải nói một câu thông suốt mới được vào tắm.

Cổ Linh tức Cổ Linh - Thần Tán. Trước, Sư tu ở chùa quê với thầy Bổn sư. Sau khi tham học với Tổ Bá Trượng được ngộ đạo, Sư về lại chùa ở quê hầu thầy.

Một hôm, Sư hầu thầy Bổn sư tắm, khi kì lưng thầy, Sư nói:

- Điện Phật này đẹp mà không có Thánh!

Thầy Bổn sư xoay đầu ngó lại, Sư nói tiếp:

- Tuy không Thánh nhưng vẫn thường phóng hào quang!

“Điện Phật này đẹp mà không có Thánh”. Tức nói thầy chưa ngộ. “Xoay đầu ngó lại” là trong đó còn có cái gì rồi, nên “thường phóng hào quang”. Nhà Thiền gọi sáu căn thường phóng hào quang. Khi xoay đầu ngó lại, ngay đó sáng tỏ là phóng hào quang. Đây nói “Cổ Linh chỉ biết kì lưng”, là nhắc cho người cần tự mình khéo thấy.

Khai sĩ tức nói đến Ngài Bạt-đà-bà-la và mười sáu vị Khai sĩ đồng bạn. Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn: “Khi chư Tăng tắm gội, con theo thứ lớp vào nhà tắm, bỗng ngộ được chân tánh của nước, đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa thân, trong khoảng giữa yên lặng, được không có gì. Do cái túc tập chẳng quên, cho đến hôm nay theo Phật xuất gia, mới thành được quả Vô học. Đức Phật ấy gọi tên con là Bạt-đà-bà-la do phát minh được diệu tánh của xúc trần mà thành bậc Phật tử trụ”. Những vị Khai sĩ vào nhà tắm, khi dội nước tắm thì tỏ ngộ ngay nơi xúc trần. Nhưng đây nói: “Khai sĩ đâu từng sáng tâm”. Chuyện đó của Ngài nhưng ai biết! Đó là muốn nhắc phải soi lại chính mình, làm sao mà thấy biết được những vị Khai sĩ đó sáng tâm!

“Ly Cấu địa” là địa thứ hai trong thập địa, Ly Cấu là không còn nhơ nhớp. Chứng được chỗ không còn nhơ nhớp, toàn thân phải toát mồ hôi mới được, không thể nói lý suông.

“Trọn nói nước hay rửa bụi, Đâu biết nước cũng là bụi”. Thường chúng ta tắm, dùng nước để rửa bợn nhơ bụi bặm. Chữ Hán trần cũng có nghĩa là bụi. Nước là sắc trần. Vậy tắm là đem trần rửa trần, tức đem bụi rửa bụi làm sao rửa sạch hết được! Cho nên hôm nay tắm, ngày mai lại phải tắm tiếp, bởi chỉ rửa tạm, không thể rửa sạch.

Nên bà nói: “Trọn nói nước hay rửa bụi, Đâu biết nước cũng là bụi. Dù cho nước-bụi chóng trừ, Đến đây cũng phải rửa hết”. Đến chỗ rốt ráo, nước và bụi trừ sạch, rồi cũng phải quên luôn cái trừ mới là thật rửa, rửa đến tột cùng. Rửa được vậy thì thấy được Pháp thân. Vậy ngay trong nhà tắm cũng có Phật pháp, nên Lục Tổ nói “Phật pháp tại thế gian”, đó là lẽ thật. Người tâm sáng thấy đâu đâu cũng là Phật pháp, người tâm chưa sáng đôi khi Phật pháp lại thấy thành tà pháp hoặc thấy không phải Phật pháp.

Thí dụ ngồi thiền là Phật pháp, nhưng nếu tâm không thanh tịnh, không khéo tu, đang ngồi thiền mà nghe tiếng nói chuyện ồn ào liền khởi phiền não. Khi ấy, ngồi thiền không còn là Phật pháp. Thế nên, tâm chánh thì không phải Phật pháp cũng thấy thành Phật pháp, tâm không chánh thì Phật pháp lại thấy không phải Phật pháp, có khi chê bai Phật pháp. Người tâm không chánh, đôi khi tìm những lỗi trong kinh điển rồi chỉ trích, vậy có phải thành tà pháp không? Người tâm chánh, trong nhà tắm đâu phải là kinh điển mà cũng thấy thành Phật pháp. Phải thấy rõ chỗ này, hiểu cho chín chắn thì việc tu của chúng ta sẽ thông suốt, ít có chướng ngại.

Hãy nhớ, Phật pháp ở ngay tại thế gian, không lìa thế gian mà tìm giác ngộ được. Bởi giác ngộ là giác ngộ những mê lầm ở thế gian, giác ngộ những phiền não. Có phiền não mới có Bồ-đề, không phiền não thì Bồ-đề với cái gì? Giác cái gì? Cho nên, lìa đời tìm Bồ-đề hay tìm giác ngộ giống như tìm sừng thỏ.

Chánh kiến gọi xuất thế,

Tà kiến gọi thế gian,

Chánh tà đều quét sạch,

Tánh Bồ-đề sáng ngời.

Chánh kiến là thấy đúng như thật, đúng với chánh pháp, vượt ra khỏi cái thấy lầm mê điên đảo của thế gian tức xuất thế. Tu hành xuất thế thì chánh kiến rất trọng yếu, trong Bát chánh đạo mở đầu là Chánh kiến, trong Thiền Tông thì Lục Tổ dạy kiến tánh. Có thấy đúng mới nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng. Ngay buổi đầu phải thấy, nhận định đúng đắn, chính xác, sáng tỏ thì đường tu được thông suốt. Chưa có cái thấy đúng đắn, khi tu gặp những việc hơi khó khăn, hơi chướng thì dễ do dự, dễ sanh tâm khác.

Tà kiến là thấy theo chiều lầm mê, điên đảo, che mất trí tuệ sáng suốt, nên chìm theo thế gian, đóng bít con đường xuất thế.

Nói chánh nói tà cũng là đối đãi hai bên, là phương tiện đối với người mê mà nói, tạm nói đây là chánh đối với tà để chúng ta không lầm theo tà, trở về chánh. Tiến thêm bước nữa, phải sạch hết cái thấy hai bên chánh tà, bởi còn có chánh tức còn có tà. Chánh là chánh với tà, không có tà thì chánh với gì? Chính chúng ta quên tánh sáng suốt rồi khởi niệm tà, nên giờ mới khởi niệm chánh để bỏ niệm tà. Khi không còn niệm tà thì chánh cũng quên. Thế nên, còn “chánh-tà” là còn trong phân biệt đối đãi, còn dấu vết của tình mê. Phải sạch hết niệm chánh-tà, tâm mới rỗng rang sáng suốt, tánh Bồ-đề hiện tiền, bởi tánh Bồ-đề vốn sáng ngời thì đâu có chánh-tà trong đó.

Tụng này là Đốn giáo,

Cũng gọi đại pháp thuyền,

Mê nghe trải nhiều kiếp,

Ngộ ắt khoảng sát-na.

Lục Tổ chỉ rõ đây là pháp Đốn giáo, chỉ thẳng con đường giác ngộ nhanh chóng, vượt qua những thứ lớp phân biệt, cũng là thuyền đại pháp đưa người đến bờ giác ngộ thành Phật, gọi là “Kiến tánh thành Phật”. Bởi đây là pháp rộng lớn, người muốn nghe được pháp này cũng phải mở tâm rộng lớn để đón nhận. Nếu chấp theo tâm ý nhỏ hẹp làm sao nghe nhận được, là tự làm chướng ngại mình, bỏ mất cái lớn lao.

“Mê nghe trải nhiều kiếp, ngộ ắt khoảng sát-na.” Là nói theo tinh thần Đốn giáo. Bởi tánh giác hay tánh Bồ-đề vốn sẵn sáng suốt nơi chính mình, do chúng ta quên nó mới theo những tình mê trải qua nhiều kiếp, khi ngộ thì ngay đó đầy đủ.

Đó là bài Tụng Vô Tướng, Lục Tổ vừa nhắc người xuất gia cũng nhắc người tại gia.

Sư lại nói:

- Nay ở chùa Đại Phạm nói pháp Đốn giáo này, nguyện khắp cho pháp giới chúng sanh, ngay lời nói thấy tánh thành Phật.

Lúc ấy, Vi Sử quân cùng với quan liêu, đạo tục nghe những điều Sư nói thảy đều tỉnh ngộ, đồng thời làm lễ và đều khen ngợi:

- Lành thay, đâu ngờ Lĩnh Nam có Phật ra đời!

Lục Tổ nói pháp này tại chùa Đại Phạm, xác định rõ đây là pháp Đốn giáo, mở rộng tinh thần lợi tha nên “Nguyện khắp cho pháp giới chúng sanh ngay lời nói đều được thấy tánh thành Phật”. Ngay lời nguyện đó là ngầm nhắc cho tất cả nghe pháp này phải ngay lời nói liền thấy tánh, tức không kẹt trên ngôn ngữ. Học pháp này là học pháp thấy tánh thành Phật, do đó phải học thẳng vào lẽ thật để thấy được tự tánh chính mình chứ không phải học trên ngôn ngữ, chữ nghĩa. Cho nên một phen ngộ là vượt qua cả nhiều kiếp lầm mê.

Học được như vậy, thì lúc nào cũng thấy mới. Người học trên ngôn ngữ chữ nghĩa nghe giảng lại lần thứ hai là thấy chán, thấy tôi đã học qua rồi, đến lần thứ ba hết muốn học, bởi chỉ nhớ đến chữ nghĩa, bao nhiêu chữ nghĩa đó trước nghe rồi, giờ nghe lại nên thấy chán. Người học thẳng vào trong tự tánh thì lúc nào cũng thấy mới mẻ, mỗi lần nghe mỗi lần mới. Chính chỗ này là chỗ chúng ta cần phải học.

Có người nói những bài pháp đó đã cũ rồi, từ Đức Phật truyền đến nay đã trên hai mươi lăm thế kỹ, lâu quá thành cũ. Sự thật thì pháp có cũ không? Cũ là do gì? Do tâm chúng ta cũ chứ pháp không có cũ, tâm chúng ta nghĩ tưởng theo danh từ chữ nghĩa nên thấy cũ, chính cái cũ đó mà nghe thành cũ. Người có tâm thiết tha tu hành, nghe được pháp, sống đúng với pháp, thể nhập trong đó liền đạt được trí tuệ sáng suốt, thâm nhập được pháp, là chứng đạo, giống như thời Đức Phật, đâu có cũ. Thế nên, từ Đức Phật dạy cho đến ngày nay và mãi về sau pháp vẫn luôn mới, phải nên thấy rõ như thế để không lầm.

Chúng ta thường đổ thừa hiện nay thời mạt pháp, khó tu khó chứng đạo, tu cầm chừng cũng được rồi. Tâm niệm đó làm chúng ta dễ buông lung. Sự thật pháp không có mạt, mạt là do người. Pháp có mạt là pháp phương tiện bên ngoài. Pháp chân thật thì trước Phật, ngay thời Phật hay sau Phật thì pháp vẫn là pháp, người ngộ được cũng dứt phiền não được giải thoát, vậy thì đâu có mạt. Nhất là trong nhà Thiền, thấy được pháp tánh chân thật thì lúc nào cũng sáng ngời.

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Như Lai Thọ Lượng, Phật nói Đức Phật vẫn thường ở núi Linh Thứu thuyết pháp, nhưng người mê không biết cho là Ngài nhập Niết-bàn. Người mở Tri kiến Phật thấy Phật vẫn thuyết pháp, vẫn luôn hiện hữu, tức là thấy Pháp. Trong kinh Nguyên Thủy, Phật nói: “Ai thấy Pháp là thấy Như Lai, ai thấy Như Lai là thấy Pháp”. Hiểu vậy thì sự học hiểu của chúng ta đi sâu, không dừng trên chữ nghĩa.

Lục Tổ là bậc đại ngộ, đây là những lời từ tâm sáng tỏ nói ra, nên những lời chỉ dạy không mắc kẹt trên chữ nghĩa. Cho nên, Vi Sử quân và mọi người nghe được những điều trước giờ chưa từng nghe, không ngờ Phật pháp thực tế, gần gũi như thế. Mọi người rất vui mừng, tán thán: “Lành thay! Đâu ngờ Lĩnh Nam có Phật ra đời”. Bởi khi ấy Lục Tổ ở vùng Lĩnh Nam. Nếu mỗi người chúng ta cảm sâu được những lời Lục Tổ dạy thì cũng thấy như vậy.

Chính vì Lục Tổ là người không biết chữ mà ngộ đạo nên Ngài giảng nói rất bình thường chân thật, không có văn chương bóng bẩy hay văn chương bác học. Tuy lời lẽ giản dị nhưng nghĩa lý sâu xa, sáng tỏ, thế nên ai nghe cũng được. Chúng ta cũng phải học điều đó, không phải lúc nào cũng lệ thuộc vào văn chương. Đôi khi cũng dùng văn chương bóng bẩy để độ tầng lớp trí thức, nhưng không phải mắc kẹt trong đó mãi. Khi nói về lẽ thật trong mỗi người cũng nói ngay văn chương bình dân cho mọi người đều nghe đều thấu, nhưng phải có nghĩa lý sâu xa, lột tả được đạo lý chân thật. Muốn được vậy, chính mình phải thật sự sống trong đó, tâm phải sáng, lời nói từ kinh nghiệm trong nội tâm, bằng sức sống chân thật, người nghe mới cảm sâu được. Thế nên, học, nghe, hiểu rồi phải thực hành mới cảm sâu được!

Mục Lục