Thiền Tông Việt Nam
Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập I
Phẩm 01. Ngộ Pháp Truyền Y

CHÁNH VĂN:

Bấy giờ Đại sư đến chùa Bảo Lâm, Thích sử Thiều Châu là Vi Cừ cùng quan liêu vào núi thỉnh Sư ra tại giảng đường chùa Đại Phạm vì chúng mở bày duyên pháp nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật.

Sư thăng tòa, Thích sử và quan liêu hơn 30 người, hàng học sĩ bên Nho hơn 30 người, hàng Tăng Ni và cư sĩ hơn 1000 người, đồng thời làm lễ nguyện nghe pháp yếu. Đại sư bảo chúng:

- Này thiện tri thức! Hết thảy hãy lắng lòng niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật.

Đại sư im lặng giây lâu, bảo chúng:

- Này thiện tri thức! Tự tánh Bồ-đề xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm này, thẳng ngay đây tỏ ngộ thành Phật. Này thiện tri thức! Hãy lắng nghe tóm tắt về nguồn gốc thân thế và việc đắc pháp của Huệ Năng. Cha của Năng quê quán tại Phạm Dương (Hà Bắc), bị giáng chức đày ra Lĩnh Nam, làm thường dân ở Tân Châu. Thân này chẳng may cha lại mất sớm, mẹ góa con côi, dời đến Nam Hải, gian khó nghèo khổ, thường ra phố bán củi. Một hôm có người khách mua củi bảo gánh đến tiệm của khách. Khách thu củi xong, Năng nhận tiền, rồi đi ra ngoài cửa, gặp một người khách tụng kinh “Nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”, Năng vừa nghe qua lời kinh, tâm liền tỏ ngộ, bèn hỏi người khách tụng kinh gì? Khách bảo: “Kinh Kim Cang”. Lại hỏi thêm: “Từ đâu đến mà trì kinh này?” Khách bảo: “Tôi từ chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, Kỳ Châu đến đây. Chùa ấy hiện do Ngũ Tổ Đại sư Nhẫn làm chủ giáo hóa, đệ tử Ngài có hơn ngàn người. Tôi đến trong đó lễ bái, nghe nhận kinh này. Đại sư thường khuyên trong hàng tăng, tục, chỉ trì kinh Kim Cang tức tự thấy tánh, thẳng ngay đây tỏ ngộ thành Phật”.

Năng nghe nói, nhờ có duyên từ đời trước, bèn được một người khách lấy mười lạng bạc cho Năng để giúp nuôi dưỡng mẹ già và bảo hãy qua Hoàng Mai gặp Ngũ Tổ.

Năng sắp đặt cho mẹ xong, liền từ giã ra đi, chẳng hơn ba mươi ngày thì tới Hoàng Mai, lễ Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi Năng:

- Ông là người phương nào? Muốn cầu vật gì? 

Năng đáp:

- Đệ tử là người dân thường ở Tân Châu, thuộc Lĩnh Nam, từ xa đến đây lễ thầy, chỉ cầu làm Phật, chẳng cầu cái gì khác.

Tổ bảo:

- Ông là người Lĩnh Nam, lại là mọi rợ, làm sao kham làm Phật?

Năng thưa:

- Người tuy có Nam có Bắc, Phật tánh vốn không Nam Bắc. Thân mọi rợ này chẳng đồng với Hòa thượng, song Phật tánh đâu có gì sai khác!

Ngũ Tổ còn muốn nói thêm, nhưng thấy đồ chúng thảy ở bên cạnh, mới bảo theo chúng làm việc. Tôi thưa:

- Huệ Năng kính bạch Hòa thượng, đệ tử tự tâm thường sanh trí tuệ, chẳng lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng bảo làm việc gì?

Tổ bảo:

- Gã mọi này căn tánh rất lanh lợi, ngươi chớ nói nữa, hãy xuống nhà sau đi!

Huệ Năng lui xuống hậu viện. Có một hành giả sai Năng bửa củi, đạp chày giã gạo, hơn tám tháng. Một hôm Tổ chợt gặp Năng, bảo:

- Ta nghĩ cái thấy của ngươi đáng dùng được, song e có kẻ xấu hại ngươi, mới chẳng cho ngươi nói, ngươi có biết chăng?

Năng thưa:

- Đệ tử cũng biết ý Thầy, chẳng dám đi đến nhà trên để cho người chẳng biết.

Một hôm, Tổ gọi hết thảy trong hàng đệ tử đến bảo:

- Ta nói cho các ông rõ, đời người, sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử. Nếu tự tánh đã mê, phước điền đâu thể cứu! Mỗi người trong các ông hãy đi tự xem lại trí tuệ chính mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm chính mình, rồi tự làm một bài kệ đem đến trình ta xem. Nếu tỏ ngộ được đại ý, ta sẽ trao y, pháp cho người ấy làm Tổ đời thứ sáu. Hãy gấp rút, nhanh đi, chẳng được chậm trễ! Nghĩ ngợi tức chẳng trúng dùng. Người thấy tánh cần ngay lời nói liền thấy. Nếu người như thế, khi múa đao ra trận cũng thấy. 

Chúng được sai bảo rồi, liền lui về lần lượt bảo nhau:

- Mỗi người chúng ta chẳng cần lắng tâm dụng ý làm kệ đem trình Hòa thượng, đâu có ích gì! Thượng tọa Thần Tú hiện đang là thầy giáo thọ, chắc hẳn Ngài sẽ được, bọn ta có dối làm kệ tụng cũng uổng dụng tâm lực thôi. 

Mọi người nghe nói, thảy đều hết tưởng mong, đồng bảo: “Chúng ta sau này sẽ nương tựa với thầy Tú, đâu nhọc làm kệ cho mệt!”.

Thần Tú suy nghĩ: “Mọi người chẳng trình kệ, vì ta là thầy giáo thọ của họ, ta cần phải làm kệ đem trình Hòa thượng. Nếu chẳng trình kệ, Hòa thượng làm sao biết chỗ thấy hiểu trong tâm ta là cạn hay sâu. Ta trình kệ, ý trong đó vì cầu pháp là tốt, còn mong tìm làm Tổ là xấu, lại đồng với tâm phàm muốn đoạt ngôi Thánh kia đâu khác. Nếu ta chẳng trình kệ thì trọn chẳng được pháp. Rất khó! Rất khó!”.

Trước nhà của Ngũ Tổ có hành lang ba gian, Tổ định mời quan Cung phụng Lư Trân vẽ tranh “Lăng Già biến tướng” và “Ngũ Tổ huyết mạch đồ” để lưu truyền cúng dường. Thần Tú làm kệ xong, mấy lần muốn trình, vừa đi đến trước nhà trên, trong tâm hồi hộp, toàn thân xuất mồ hôi, toan trình mà chẳng được. Trước sau trải qua bốn ngày mà mười ba lần trình kệ chẳng được. Thần Tú bèn suy nghĩ: “Chi bằng chép ở phía dưới vách hành lang, tùy Hòa thượng có xem thấy, nếu chợt bảo là hay, ta bèn ra lễ bái, nói là của Tú làm; nếu nói chẳng kham thì uổng cho ta mấy năm ở trong núi chịu người lễ bái, trọn tu đạo gì?”.

Đêm ấy, vào canh ba Sư chẳng cho ai biết, tự cầm đèn chép bài kệ nơi vách hành lang phía nam để tỏ bày chỗ thấy trong tâm.

Bài kệ:

Thân là cây Bồ-đề,

Tâm như đài gương sáng.

Luôn luôn siêng lau chùi,

Chớ để dính bụi nhơ.

Âm:

Thân thị Bồ-đề thọ,

Tâm như minh cảnh đài.

Thời thời cần phất thức,

Vật sử nhạ trần ai.

Thần Tú viết bài kệ xong, liền trở về phòng, không ai biết. Sư lại suy nghĩ: “Sáng mai Ngũ Tổ thấy bài kệ mà vui mừng, tức ta có duyên với pháp. Nếu như chẳng kham tự là ta mê mờ, nghiệp chướng đời trước sâu nặng, chẳng khế hợp được pháp, Thánh ý khó nghĩ lường”.

Ở trong phòng, Sư cứ nghĩ tưởng, ngồi nằm chẳng yên, suốt tới canh năm.

Tổ đã biết Thần Tú chưa được vào cửa, chẳng thấy tự tánh. Sáng ngày, Tổ gọi quan Cung phụng họ Lư tới vẽ đồ tướng nơi vách hành lang phía nam. Tổ chợt thấy bài kệ ấy, bèn nói với quan Cung phụng:

- Thôi, chẳng cần vẽ, thực nhọc ngài từ xa tới. Kinh nói: “Hễ cái gì có tướng đều là hư dối”, chỉ giữ lại bài kệ này cho người tụng trì, nương theo bài kệ này tu hành sẽ chẳng rơi vào đường ác, nương theo bài kệ này tu hành sẽ được lợi ích lớn.

Tổ bảo môn nhân thắp hương lễ bái, trọn tụng bài kệ này tức sẽ được thấy tánh. Môn nhân tụng kệ đều khen: “Hay quá!”.

Canh ba, Tổ gọi Thần Tú vào phòng, hỏi:

- Có phải ông làm bài kệ ấy chăng?

Thần Tú thưa:

- Quả thật con làm, chẳng dám vọng cầu ngôi Tổ, chỉ mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng?

Tổ bảo:

- Ông làm bài kệ này, chưa thấy bản tánh, chỉ đến ngoài cửa chưa vào trong cửa. Thấy hiểu như thế mà mong tìm Vô thượng Bồ-đề trọn không thể được. Vô thượng Bồ-đề cần ngay lời nói nhận biết bản tâm mình, thấy bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt, ở trong tất cả thời niệm niệm luôn tự thấy, muôn pháp không làm ngưng trệ. Một chân thì tất cả chân, muôn cảnh tự như như. Tâm như như tức là chân thật. Nếu thấy như thế tức là tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông hãy đi về suy nghĩ một hai ngày, rồi làm một bài kệ khác đem đến đây cho ta xem. Nếu bài kệ của ông vào cửa được, ta sẽ trao phó y pháp cho ông.

Thần Tú làm lễ rồi lui ra. Trải qua mấy ngày, Sư làm kệ chẳng xong. Trong tâm hồi hộp, tinh thần không yên, giống như trong mộng, đi ngồi chẳng vui.

Thêm hai ngày nữa, có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, xướng tụng bài kệ ấy. Năng vừa nghe, liền biết bài kệ này chưa thấy bản tánh, dù chưa được chỉ dạy mà đã sớm biết đại ý, liền hỏi chú bé:

- Tụng đó là bài kệ gì?

Chú bé đáp:

- Ông mọi này, chẳng biết Đại sư bảo: “Đời người, sanh tử là việc lớn, muốn được có người để truyền trao y pháp, mới bảo môn nhân làm kệ đến trình cho Ngài xem, nếu ngộ đại ý tức sẽ trao y pháp, làm Tổ thứ sáu”. Thượng tọa Thần Tú đã chép bài kệ này nơi vách hành lang phía nam. Đại sư bảo mọi người đều đọc thuộc, nương bài kệ này tu hành sẽ khỏi rơi vào đường ác.

Năng nói:

- Tôi cũng cần tụng bài kệ này để kết duyên đời sau đồng sanh nơi đất Phật. Thượng nhân! Tôi tới đây đạp cối giã gạo hơn tám tháng rồi, chưa từng đi lên nhà trên. Mong thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ làm lễ.

Chú bé dẫn Huệ Năng đến trước bài kệ làm lễ. Năng nói:

- Năng chẳng biết chữ, xin thượng nhân đọc dùm.

Lúc đó, có quan Biệt giá ở Giang Châu là Trương Nhật Dụng liền đọc to lên. Năng nghe xong, bèn nói mình cũng có một bài kệ, mong quan Biệt giá chép dùm. Quan Biệt giá nói: 

- Người mọi, ông cũng làm kệ nữa à, việc ấy hiếm có.

Năng nói với quan Biệt giá:

- Người muốn học Vô thượng Bồ-đề chẳng thể khinh kẻ mới học. Người dưới thấp lại có trí bậc trên cao, người bậc trên cao lại chôn vùi ý trí, nếu khinh người tức có vô lượng vô biên tội.

Quan Biệt giá nói:

- Ông hãy đọc kệ, tôi chép cho ông. Nếu ông đắc pháp, phải độ tôi trước, chớ quên lời này nhé!

Năng đọc kệ:

Bồ-đề vốn không cội,

Gương sáng chẳng phải đài.

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi đây!

Âm:

Bồ-đề bổn vô thọ,

Minh cảnh diệc phi đài.

Bản lai vô nhất vật,

Hà sử nhạ trần ai!

Chép bài kệ xong, đồ chúng thảy giật mình, ai nấy cũng hít hà, cùng bảo nhau: “Lạ thay! Chẳng được lấy tướng mạo mà đoán người. Đâu ngờ lâu nay đã sai khiến nhục thân Bồ-tát!”. 

Tổ thấy mọi người kinh lạ, sợ có kẻ làm hại Năng, bèn lấy giày chà hết bài kệ, bảo:

- Cũng chưa thấy tánh.

Mọi người dừng hết nghi ngờ.

Ngày hôm sau, Tổ thầm đến nơi giã gạo gặp Năng lưng đeo đá giã gạo, Ngài nói:

- Người cầu đạo vì pháp quên thân, phải như thế sao!

Rồi hỏi:

- Gạo trắng chưa?

Năng thưa:

- Gạo trắng đã lâu, chỉ còn thiếu cái sàng.

Tổ lấy gậy gõ vào cối ba cái, rồi đi. Năng hiểu ý Tổ, trống canh ba liền đi vào thất. Tổ lấy cà-sa che chung quanh chẳng cho ai thấy, rồi nói kinh Kim Cang cho nghe. Đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia), Huệ Năng ngay lời nói liền đại ngộ: “Tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh”, bèn kính bạch Tổ:

   Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh!

   Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt!

   Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ!

   Đâu ngờ tự tánh vốn không lay động!

   Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp!

Tổ biết đã ngộ bản tánh, tức gọi Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật.

Canh ba đã nhận lĩnh Pháp, không ai biết, Tổ liền truyền đốn giáo và y bát, nói: “Ngươi là Tổ đời thứ sáu, hãy khéo tự giữ gìn, rộng độ chúng sanh, truyền khắp mãi về sau, chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:

Có tình đến gieo giống,

Nhân đất quả lại sanh.

Không tình đã không giống,

Không tánh cũng không sanh.

Âm:

Hữu tình lai hạ chủng,

Nhân địa quả hoàn sanh.

Vô tình ký vô chủng,

Vô tánh diệc vô sanh.

Tổ nói thêm:

- Xưa Đại sư Đạt-ma mới đến cõi này, người chưa tin biết, vì vậy mới truyền y này để làm chỗ y cứ cho người tin (tín thể). Pháp đời đời truyền thừa nhau ắt lấy tâm truyền tâm, đều khiến tự ngộ, tự hiểu. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản thể, thầy thầy thầm trao bản tâm. Y là đầu mối để tranh giành, hãy dừng nơi ngươi chớ truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng sống như tơ mành. Ngươi hãy đi nhanh, e có người sẽ hại ngươi.

Năng thưa:

- Con sẽ đi đâu?

Tổ bảo:

- Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn.

Huệ Năng vào canh ba nhận lãnh y bát rồi thưa:

- Năng vốn là người vùng Lĩnh Nam, đã lâu chẳng biết rõ đường đi của núi này, làm sao ra được bến sông?

Ngũ Tổ bảo:

- Ngươi không phải lo, ta sẽ tự đưa ngươi đi. 

Tổ đưa đến trạm Cửu Giang. Bên trạm có một chiếc thuyền, Ngũ Tổ cầm chèo tự chèo. Huệ Năng thưa:

- Thỉnh Hòa thượng ngồi, đệ tử nên chèo.

Ngũ Tổ bảo:

- Nên để ta độ ngươi.

Huệ Năng thưa:

- Khi mê thì thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Tuy tên “độ” là một, mà chỗ dụng chẳng đồng. Huệ Năng sanh ở vùng biên địa xa xôi, giọng nói chẳng chính. Được thầy trao pháp, nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ.

Tổ bảo:

- Đúng thế! Đúng thế! Về sau Phật pháp sẽ do ngươi mà được truyền rộng, ngươi đi ba năm ta sẽ qua đời. Nay ngươi hãy khéo đi, gắng sức về phương Nam, chẳng nên nói sớm, Phật pháp có nạn khởi.

Năng từ giã Tổ, cất bước đi về phương Nam. Khoảng hai tháng thì đến ngọn Đại Dữu.

Ngũ Tổ thì trở về, mấy ngày chẳng thượng đường, chúng nghi mới đến thăm hỏi:

- Hòa thượng có bệnh hoạn gì chăng?

Tổ đáp:

- Không có bệnh gì, chỉ y pháp đã về phương Nam rồi. 

Chúng hỏi:

- Ai được truyền trao?

Tổ bảo:

- Năng thì được.

Chúng mới biết. Có mấy trăm người đuổi theo sau muốn đoạt y bát. Một vị tăng tên là Trần Huệ Minh, trước kia là tướng quân tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, quyết lòng tìm kiếm, chạy trước mọi người, đuổi kịp Năng. Năng bỏ y bát trên tảng đá, nói:

- Y này là vật tiêu biểu để làm tin, có thể dùng sức để tranh sao?

Năng liền ẩn vào bụi cỏ rậm. Huệ Minh chạy đến kéo y bát lên chẳng nhúc nhích, mới gọi to: 

- Hành giả! Hành giả! Tôi vì pháp mà đến, chẳng phải vì y đến.

Năng bèn bước ra, ngồi trên tảng đá. Huệ Minh làm lễ, nói:

- Mong hành giả vì tôi mà nói pháp.

Huệ Năng bảo:

- Ông đã vì pháp mà đến, hãy dứt bặt các duyên, chớ sanh một niệm, tôi sẽ nói cho ông nghe!

Im lặng giây lâu, Huệ Năng bảo Minh:

- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì là mặt mày xưa nay của Thượng tọa Minh?

Huệ Minh ngay câu nói đại ngộ, lại hỏi thêm:

- Ngoài lời mật, ý mật từ trước đến đây, còn có ý mật nào nữa chăng? 

Năng bảo:

- Đã nói với ông tức chẳng phải mật. Nếu ông soi ngược trở lại thì mật ở bên ông.

Minh nói:

- Huệ Minh tuy ở Hoàng Mai mà thật chưa tỉnh được mặt mày của chính mình. Nay được chỉ dạy, như người uống nước lạnh nóng tự biết. Giờ đây, hành giả chính là thầy của Huệ Minh vậy.

Năng bảo:

- Nếu ông như thế, tôi cùng ông đồng thờ Hoàng Mai làm thầy, hãy khéo tự giữ gìn.

Minh hỏi thêm:

- Từ nay về sau, Huệ Minh sẽ đi đâu?

Năng bảo:

- Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở.

Huệ Minh kính lễ rồi từ giã.

Huệ Minh trở xuống đến dưới núi, bảo với những người đuổi theo:

- Đã trèo lên chót vót, trọn không thấy dấu vết gì, hãy tìm theo lối khác!

Mọi người đều cho là phải. Về sau Huệ Minh đổi là Đạo Minh để tránh chữ trên của thầy. 

Sau đó Năng đến Tào Khê. Lại bị người ác đuổi tìm, bèn tránh nạn ở Tứ Hội, lẫn trong đám thợ săn, cả thảy 15 năm. Lúc đó, tùy nghi thuyết pháp cho thợ săn nghe. Thợ săn thường sai Năng giữ lưới, mỗi khi gặp con vật mắc lưới trọn đều thả hết. Đến giờ cơm thì lấy rau gởi luộc trong nồi thịt. Có ai hỏi thì đáp: 

- Chỉ ăn rau bên thịt.

Một hôm Năng suy nghĩ: “Đã đến thời hoằng pháp, chẳng thể ẩn mãi”, bèn ra chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu gặp Pháp sư Ấn Tông giảng kinh Niết Bàn. Lúc đó có gió thổi phướn động, một vị tăng bảo gió động, một vị bảo phướn động. Bàn mãi không thôi. Năng tiến lên nói:

- Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm Ngài động.

Cả chúng kinh hãi. Ấn Tông mời lên trên gạn hỏi nghĩa sâu xa. Thấy Năng lời lẽ giản dị mà lý lại xác đáng, không theo văn tự, Ấn Tông nói:

- Hành giả nhất định chẳng phải người thường. Từ lâu đã nghe y pháp của Hoàng Mai về phương Nam, phải là hành giả chăng?

Năng nói:

- Chẳng dám.

Khi đó Ấn Tông làm lễ, xin đem y bát ra chỉ cho đại chúng xem. Ấn Tông hỏi thêm:

- Hoàng Mai phó chúc truyền dạy thế nào?

Năng đáp:

- Không có gì truyền dạy, chỉ luận về kiến tánh, chẳng bàn thiền định, giải thoát.

Ấn Tông hỏi:

- Sao chẳng luận thiền định, giải thoát?

Đáp:

- Vì đó là pháp có hai, chẳng phải Phật pháp, Phật pháp là pháp chẳng hai.

Ấn Tông lại hỏi:

- Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai?

Năng đáp:

- Pháp sư giảng kinh Niết Bàn đã rõ Phật tánh là pháp chẳng hai của Phật pháp. Như Bồ-tát Cao Quý Đức Vương trong kinh Niết Bàn bạch Phật: “Người phạm bốn giới trọng, tạo tội ngũ nghịch và nhất-xiển-đề... sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng?”. Phật bảo: “Thiện căn có hai: Một là thường, hai là vô thường. Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, đó gọi là chẳng hai. Một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, đó gọi là chẳng hai. Uẩn và giới, phàm phu thấy hai, người trí rõ suốt tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh”. 

Ấn Tông nghe nói, vui mừng chắp tay thưa:

- Tôi giảng kinh giống như ngói gạch, Ngài luận nghĩa ví tợ vàng ròng.

Sau đó Ấn Tông cạo tóc cho Năng, nguyện thờ làm thầy. Năng bèn ở dưới cội Bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn. Năng từ khi đắc pháp ở Đông Sơn, chịu hết mọi sự gian nan khổ nhọc, mạng như tơ mành. Hôm nay được cùng Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, xuất gia, tại gia đồng tụ hội nơi đây, phải đã có nhân duyên nhiều kiếp, cũng như trong đời quá khứ từng cúng dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành, mới được cái nhân nghe pháp Đốn giáo như trên. Giáo là do bậc Thánh từ trước đã truyền, chẳng phải từ trí riêng của Huệ Năng. Nguyện cho người nghe giáo của bậc Thánh trước, khiến mỗi người được lòng thanh tịnh, nghe xong đều tự trừ hết nghi ngờ, giống như bậc Thánh đời trước không khác.

*** 

Sư lại bảo chúng:

- Này thiện tri thức! Trí Bồ-đề Bát-nhã, người đời vốn tự sẵn có, chỉ vì tâm mê chẳng thể tự ngộ, phải nhờ bậc đại thiện tri thức chỉ dẫn cho thấy tánh. Phải biết, người ngu người trí, Phật tánh vốn không sai khác, chỉ vì mê ngộ chẳng đồng, do đó có ngu, có trí. Nay tôi sẽ nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông mỗi người nhận được trí tuệ. Hãy hết lòng lắng nghe, tôi sẽ vì các ông mà nói.

Này thiện tri thức! Người đời trọn ngày miệng niệm Bát-nhã mà chẳng biết tự tánh Bát-nhã. Giống như nói ăn mà chẳng no, miệng chỉ nói “không”, muôn kiếp chẳng được thấy tánh, trọn không có ích gì.

Này thiện tri thức! Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tiếng Phạn, xứ này gọi là Đại Trí Tuệ Đáo Bỉ Ngạn. Trí này cần tâm thực hành chẳng ở miệng niệm. Miệng niệm mà tâm chẳng hành thì như huyễn, như hóa, như sương, như điện. Miệng niệm tâm hành thì tâm và miệng ứng hợp nhau, bản tánh chính là Phật, lìa tánh không riêng có Phật.

Sao gọi là Ma-ha? Ma-ha là Lớn. Tâm lượng rộng lớn giống như hư không, không có bờ mé, cũng không vuông tròn, lớn nhỏ, cũng chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, cũng không trên dưới, dài ngắn, cũng không mừng giận, không phải quấy, không lành dữ, không đầu đuôi. Bao nhiêu cõi nước của chư Phật trọn đồng hư không. Diệu tánh của người đời vốn KHÔNG, không có một pháp có thể được, tự tánh chân không cũng lại như thế.

Này thiện tri thức! Chớ nghe tôi nói “không”, liền chấp trước vào “không”. Bậc nhất là chớ chấp trước “không”. Nếu để cho tâm trống trơn, ngồi yên lặng, tức kẹt vào cái “không vô ký”.

Này thiện tri thức! Thế giới hư không hay bao gồm muôn vật, hình sắc, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, núi sông, quả đất, suối nguồn, khe rạch, cỏ cây, rừng bụi, người lành, người dữ, pháp dữ, pháp lành, thiên đường, địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di thảy đều ở trong hư không. Tánh Không của người đời cũng lại hư thế.

Này thiện tri thức! Tự tánh hay bao gồm muôn pháp là lớn. Muôn pháp ở trong tánh mọi người, nếu thấy tất cả người: dữ và lành trọn chẳng lấy chẳng bỏ, cũng chẳng đắm nhiễm, tâm như hư không, gọi đó là Lớn, nên nói là Ma-ha.

Này thiện tri thức! Người mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có người mê để tâm trống trơn, ngồi yên lặng, trăm điều chẳng nghĩ, tự cho là Lớn. Một bọn người này chẳng thể nói với họ, vì là tà kiến.

Này thiện tri thức! Tâm lượng rộng lớn, trùm khắp pháp giới, dùng tức rõ ràng rành rẽ, ứng dụng liền biết tất cả. Tất cả tức một, một tức tất cả, đi đến tự do, tâm thể không ngưng trệ, tức là Bát-nhã.

Này thiện tri thức! Tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh mà sinh, chẳng từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý, gọi là chân tánh tự dụng. Một chân thì tất cả chân, Tâm chứa đựng việc lớn, chẳng đi theo lối nhỏ. Miệng chớ trọn ngày nói “không” mà trong tâm chẳng tu hạnh này. Giống hệt người thường mà tự xưng là vua, trọn không thể được, chẳng phải đệ tử của tôi.

Này thiện tri thức! Sao gọi là Bát-nhã? Bát-nhã, Đường dịch là trí tuệ. Trong tất cả chỗ, tất cả thời, niệm niệm chẳng ngu, thường hành trí tuệ, tức là hạnh Bát-nhã. Một niệm ngu tức Bát-nhã dứt. Một niệm trí tức Bát-nhã sinh. Người đời ngu mê chẳng thấy Bát-nhã, miệng nói Bát-nhã mà trong tâm thường ngu. Thường tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói “không”, mà chẳng biết “chân không”. Bát-nhã không hình tướng, chính đó là tâm trí tuệ. Nếu khởi hiểu như thế, tức gọi trí Bát-nhã.

Sao gọi Ba-la-mật? Đây là tiếng Tây Quốc (Ấn Độ), Đường nói là đáo bỉ ngạn, giải nghĩa là lìa sinh diệt. Chấp trước cảnh thì sinh diệt khởi, như nước dậy sóng mòi, tức gọi là bờ này. Lìa cảnh thì không sinh diệt, như nước thường trôi chảy, tức gọi bờ kia. Vì vậy gọi Ba-la-mật.

Này thiện tri thức! Người mê miệng niệm, ngay khi niệm có vọng, có quấy. Nếu niệm niệm thực hành, đó gọi là chân tánh. Người ngộ pháp này, là pháp Bát-nhã. Người tu hạnh này, là hạnh Bát-nhã. Chẳng tu tức phàm, một niệm tu hành thì tự thân đồng với Phật.

Này thiện tri thức! Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề, niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước dính cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề.

Này thiện tri thức! Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất (tôn quý hơn hết, trên hết, bậc nhất hơn hết), không trụ, không qua, không lại. Chư Phật ba đời từ trong đó mà hiện ra. Chính dùng Trí Tuệ Lớn mà phá tan phiền não trần lao nơi năm uẩn. Tu hành như thế nhất định sẽ thành Phật đạo, biến ba độc làm giới-định-tuệ.

Này thiện tri thức! Pháp môn của ta đây từ một Bát-nhã mà sinh tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tại sao? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao, nếu không trần lao thì trí tuệ thường hiện, chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là không niệm, không nhớ nghĩ, không dính mắc, chẳng khởi dối trá, dụng ngay tánh chân như của chính mình. Dùng trí tuệ soi sáng, đối tất cả pháp chẳng lấy, chẳng bỏ, tức là thấy tánh thành Phật đạo.

Này thiện tri thức! Nếu người muốn vào pháp giới sâu xa và Bát-nhã tam-muội, cần tu hạnh Bát-nhã, trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã tức sẽ được thấy tánh. Phải biết, kinh này có công đức vô lượng vô biên mà trong kinh đã khen ngợi rành rõ, không gì có thể nói đủ hết.

Pháp môn này là Tối thượng thừa, vì người đại trí mà nói, vì người thượng căn mà nói; người tiểu căn, tiểu trí nghe đến thì tâm sanh chẳng tin. Tại sao? Ví như rồng to làm mưa xuống, thì ở cõi Diêm-phù-đề, thành ấp, xóm làng thảy đều bị trôi giạt, như trôi lá táo.

Nếu mưa xuống biển cả thì chẳng thêm, chẳng bớt. Nếu người Đại thừa hoặc người Tối thượng thừa, nghe nói kinh Kim Cang thì tâm mở sáng tỏ ngộ nên biết bản tánh tự có trí Bát-nhã. Vì tự dụng trí tuệ thường soi sáng nên chẳng nhờ văn tự. Ví như nước mưa, chẳng từ trời có, vốn là rồng hay dấy lên, khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu tình, vô tình, thảy đều được tươi nhuần; trăm sông, mọi dòng chảy vào biển cả lại họp thành một thể. Trí Bát-nhã nơi tự tánh của chúng sanh cũng lại như thế.

Này thiện tri thức! Người tiểu căn nghe pháp Đốn giáo này, giống như cỏ cây gốc rễ nhỏ nếu như gặp mưa to thảy đều bị ngã rạp, chẳng thể lớn lên. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí Bát-nhã không sai khác gì với người đại trí, nhân đâu nghe pháp chẳng tự tỏ ngộ? Bởi do tà kiến chướng nặng, gốc rễ phiền não sâu dày, giống như mây to che phủ mặt trời, chẳng được gió thổi qua thì ánh sáng mặt trời chẳng hiện. Trí Bát-nhã cũng không có lớn nhỏ, vì tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ chẳng đồng. Tâm mê thì thấy tu hành tìm Phật bên ngoài, chưa ngộ tự tánh tức là tiểu căn. Nếu người tỏ ngộ Đốn giáo, chẳng chấp tu bên ngoài, chỉ đối với tự tâm thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao thường chẳng thể nhiễm tức là thấy tánh. 

Này thiện tri thức! Trong ngoài chẳng dừng trụ, đến đi tự do, hay trừ tâm chấp, thông suốt không ngăn ngại. Người hay tu hạnh này thì cùng với kinh Bát Nhã vốn không sai khác.

Này thiện tri thức! Tất cả khế kinh và mọi thứ văn tự Đại thừa, Tiểu thừa, mười hai bộ kinh đều nhân nơi người mà đặt thành, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập. Vì nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có. Cho nên biết, muôn pháp vốn từ nơi người mà dấy lên, tất cả kinh sách nhân nơi người mà có nói ra. Bởi trong người kia có ngu, có trí, ngu là tiểu nhân, trí là đại nhân. Người ngu hỏi với người trí, người trí nói pháp cho người ngu nghe, người ngu chợt tỏ ngộ, tâm mở sáng, thì không khác gì với người trí.

Này thiện tri thức! Chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ thì chúng sanh là Phật. Cho nên biết, muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng ở trong tự tâm mà chóng thấy bản tánh chân như. Kinh Bồ Tát Giới nói: “Bản nguyên tự tánh của ta là thanh tịnh, nếu nhận biết tự tâm, thấy tánh thì đều thành Phật đạo”. Kinh Tịnh Danh nói: “Liền đó hoát nhiên trở lại được bản tâm”.

Này thiện tri thức! Tôi ở chỗ Hòa thượng Nhẫn, vừa nghe liền ngay lời nói tỏ ngộ, chóng thấy bản tánh chân như. Do đó tôi đem giáo pháp này truyền ra, khiến cho người học đạo chóng ngộ Bồ-đề. Mỗi người hãy tự xét rõ tâm mình, thấy bản tánh mình. Nếu tự chẳng ngộ, cần tìm bậc Đại thiện tri thức hiểu pháp Tối thượng thừa chỉ thẳng cho con đường chân chánh. Bậc thiện tri thức ấy có nhân duyên lớn, nghĩa là giáo hóa, dẫn dắt, khiến được thấy tánh, vì tất cả pháp lành nhân vị thiện tri thức mà hay phát khởi. Chư Phật ba đời, mười hai bộ kinh vốn tự có đủ trong tánh người. Chẳng thể tự ngộ, phải cầu bậc thiện tri thức chỉ bày cho mới thấy. Nếu người tự ngộ thì chẳng nhờ tìm cầu bên ngoài. Nếu một bề chấp cho là phải cần vị thiện tri thức ấy mới mong được giải thoát, không có lẽ ấy. Tại sao? Trong tự tâm có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê, vọng niệm điên đảo thì thiện tri thức bên ngoài dù có truyền dạy, trọn không thể cứu được. Nếu phát khởi trí Bát-nhã chánh chân soi sáng, thì khoảng một sát-na vọng niệm đều dứt. Nếu nhận biết tự tánh thì một phen ngộ liền đến Phật địa.

Này thiện tri thức! Trí tuệ soi xét, sáng suốt cả trong ngoài, nhận biết bản tâm mình. Nếu nhận biết bản tâm tức vốn giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bát-nhã tam-muội. Bát-nhã tam-muội tức là vô niệm. Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp, tâm chẳng nhiễm trước, đó là vô niệm. Dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng chẳng dính tất cả chỗ. Chỉ bản tâm thanh tịnh, sẽ khiến sáu thức ra sáu cửa, ở trong sáu trần, không dính mắc, không lẫn lộn, đến đi tự do, ứng dụng thông suốt không ngưng trệ, tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là hạnh vô niệm. Nếu trăm vật chẳng nghĩ, sẽ khiến cho niệm dứt bặt tức là pháp trói, gọi là biên kiến.

Này thiện tri thức! Người ngộ pháp vô niệm thì trọn đều thông suốt muôn pháp. Người ngộ pháp vô niệm thì thấy cảnh giới chư Phật. Người ngộ pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.

Này thiện tri thức! Đời sau có người nhận được pháp của tôi, hãy đem pháp môn Đốn giáo này đối với người đồng kiến, đồng hạnh, phát nguyện thọ trì như thờ Phật, nên trọn đời chẳng lui sụt, là nhất định sắp vào Thánh vị. Song cần truyền trao theo từ trước đến nay là thầm truyền trao phó, chẳng được ẩn giấu chánh pháp ấy. Nếu người chẳng đồng kiến, đồng hạnh, ở trong pháp khác thì chẳng truyền trao, sẽ làm tổn đến người trước kia, rốt ráo không ích gì. Sợ rằng người ngu chẳng hiểu mà chê bai pháp này, thì trăm kiếp ngàn đời đoạn dứt hạt giống Phật. 

Này thiện tri thức! Tôi có một bài tụng Vô Tướng, mỗi người cần tụng lấy. Tại gia hay xuất gia, hãy nương bài tụng này tu hành, nếu chẳng tự tu, chỉ ghi nhớ lời tôi, cũng không có ích gì. Hãy nghe tôi nói tụng:

Thuyết thông và tâm thông,

Như mặt trời trên không,

Chỉ truyền pháp kiến tánh,

Ra đời phá tà tông.

Pháp tức không đốn tiệm,

Mê ngộ có chậm mau,

Chỉ môn kiến tánh này,

Người ngu chẳng thể rành.

Nói tuy có muôn thứ,

Hợp lý trở về một,

Trong nhà tối phiền não,

Thường phải sanh trời tuệ.

Tà đến phiền não tới,

Chánh đến phiền não trừ,

Chánh tà đều chẳng dụng,

Thanh tịnh đến vô dư.

Bồ-đề vốn tự tánh,

Dấy tâm liền là vọng,

Tâm tịnh ở trong vọng,

Chỉ chánh, không ba chướng.

Người đời nếu tu đạo,

Tất cả trọn chẳng ngại,

Thường tự thấy lỗi mình,

Cùng đạo tức tương đương.

Sắc loại tự có đạo,

Đều chẳng não hại nhau,

Lìa đạo riêng tìm đạo,

Trọn đời chẳng thấy đạo.

Lăng xăng qua một đời,

Cuối cùng lại tự hận,

Muốn được thấy chân đạo,

Hành chánh tức là đạo.

Nếu tự không đạo tâm,

Hạnh tối chẳng thấy đạo,

Nếu người thật tu đạo,

Chẳng thấy lỗi thế gian.

Nếu thấy lỗi người khác,

Lỗi mình đến bên cạnh,

Người lỗi ta chẳng lỗi,

Ta chê, tự có lỗi.

Chỉ tự bỏ tâm quấy,

Phá tan hết phiền não,

Yêu ghét chẳng bận lòng,

Duỗi thẳng hai chân ngủ.

Toan muốn giáo hóa người,

Tự phải có phương tiện,

Chớ để họ nghi ngờ,

Tức là tự tánh hiện.

Phật pháp ở trong đời,

Chẳng lìa đời có giác.

Lìa đời tìm Bồ-đề,

Giống hệt tìm sừng thỏ.

Chánh kiến gọi xuất thế,

Tà kiến gọi thế gian,

Chánh tà đều quét sạch,

Tánh Bồ-đề sáng ngời.

Tụng này là Đốn giáo,

Cũng gọi đại pháp thuyền,

Mê nghe trải nhiều kiếp,

Ngộ ắt khoảng sát-na.

Sư lại nói:

- Nay ở chùa Đại Phạm nói pháp Đốn giáo này, nguyện khắp cho pháp giới chúng sanh, ngay lời nói thấy tánh thành Phật.

Lúc ấy, Vi Sử quân cùng với quan liêu, đạo tục nghe những điều Sư nói thảy đều tỉnh ngộ, đồng thời làm lễ và đều khen ngợi:

- Lành thay, đâu ngờ Lĩnh Nam có Phật ra đời! 

GIẢNG:

Bấy giờ Đại sư (tức Lục Tổ) đến chùa Bảo Lâm. Thích (Thứ) sử Thiều Châu Vi Cừ, có chỗ ghi là Vi Cứ, cùng quan liêu vào núi thỉnh Sư ra ở tại nơi giảng đường chùa Đại Phạm, vì chúng mở bày duyên pháp, nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật. Sư thăng tòa, Thích sử và quan liêu hơn 30 người, hàng học sĩ bên Nho hơn 30 người, hàng Tăng Ni và cư sĩ cũng hơn 1000 người đồng thời làm lễ, nguyện nghe pháp yếu.

Vì sao vào núi thỉnh? Khi Lục Tổ gặp Ngài Ấn Tông cạo tóc xuất gia, thọ giới ở chùa Pháp Tánh, Quảng Châu. Mùa xuân năm sau, Lục Tổ mới về chùa Bảo Lâm, Thiều Châu. Khi đó có Ngài Ấn Tông và tăng tục hơn ngàn người tiễn đưa. Chùa Bảo Lâm ở Thiều Châu do Ngài Tam Tạng Trí Dược khởi xướng xây dựng vào đời Lương. Chùa này ở trong núi, tại phủ Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông, ban đầu tên Bảo Lâm, đến đời Đường Trung Tông đổi tên thành Trung Hưng Tự, sau đổi thành Quảng Quả Tự, Pháp Tuyền Tự, qua nhiều lần đổi tên, đến đời Tống lại đổi thành Nam Hoa Tự, Hoa Quả Tự, ngày nay gọi là chùa Nam Hoa hoặc Nam Hoa Thiền Tự.

Lục Tổ ở nơi núi, Thích sử cùng với quan liêu ở trong thành nên vào núi thỉnh. Chùa Đại Phạm, theo bộ Quảng Đông Thông Chí tức là chùa Báo Ân Quang Hiếu ở Hà Tây huyện Khúc Giang phủ Thiều Châu. Đời Đường niên hiệu Khai Nguyên thứ hai (714) có vị tăng tên Tông Tích xây dựng, cũng gọi là chùa Đại Phạm. Nơi đây, Lục Tổ bắt đầu khai pháp giáo hóa tuyên dương pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật. Pháp hội này gồm có Thích sử Vi Cừ (vào thời Đường, Thích sử là người đứng đầu một châu), cùng quan liêu, Nho sĩ hơn 30 người, Tăng Ni, cư sĩ cộng lại hơn ngàn người, vậy là có tăng tục đầy đủ. Lục Tổ từ đây bắt đầu mở duyên pháp diễn bày pháp bảo.

Đại sư bảo với chúng:

- Này thiện tri thức! Hết thảy hãy lắng lòng niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật.

Khi chúng niệm xong. Đại sư im lặng giây lâu, bảo chúng:

- Này thiện tri thức! Tự tánh Bồ-đề xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm này thẳng ngay đây tỏ ngộ thành Phật.

Mở đầu trước khi nói pháp, Ngài bảo mọi người hãy lắng lòng niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, cho thấy Tổ rất đề cao tinh thần Bát-nhã nhất là kinh Kim Cang, bởi Tổ tỏ ngộ từ kinh Kim Cang.

Mở đầu, Lục Tổ Đại sư chỉ thẳng con đường đốn ngộ. Ngài nhấn mạnh tự tánh Bồ-đề xưa nay là thanh tịnh chỉ dùng tâm này thẳng ngay đây thành Phật, không phải tìm đâu xa. Đó là đánh thức mọi người phải tỏ ngộ lại tự tánh Bồ-đề, xưa nay vốn tự thanh tịnh, không phải tìm bên ngoài, cũng không phải làm cho thanh tịnh. Chúng ta tu không phải làm cho tâm thanh tịnh, tâm vốn tự thanh tịnh, tu là gạn lọc những lầm mê, phiền não, gạn lọc những cái hư vọng rồi thì tự tánh Bồ-đề hiển bày. Cho nên về sau trong bài kệ của Ngài có câu: “Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi đây!”. Làm chúng sanh cũng ngay đây, mà thành Phật cũng ngay đây, đó là tinh thần Đốn giáo. Làm Phật thì ngay đó là hiển nhiên, nhưng làm chúng sanh cũng ngay đó là vì sao? Không phải làm chúng sanh ngay tự tánh Bồ-đề mà do mê tự tánh Bồ-đề nên làm chúng sanh. Ngộ trở lại tự tánh Bồ-đề thì chuyển chúng sanh làm Phật, rất nhanh chóng, không phải qua thứ lớp nên gọi là Đốn ngộ hay Đốn giáo.

Thành Phật không phải thành ở trong kinh điển, không phải ở trong phân tích chữ nghĩa, cũng không phải thành ở cõi nào khác mà thành ở trong tự tánh Bồ-đề ngay trong tự tâm của chúng ta. Thiền Tông xiển dương “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” là như vậy, không phải Thiền Tông chê bai phá bỏ kinh điển, mà vì muốn người thấy rõ lẽ thật. Bởi người học Phật lâu đôi khi mắc kẹt trên kinh điển chữ nghĩa, chỉ học trên chữ nghĩa nên không thấy Phật. Nói Phật, giải thích Phật rất hay, hỏi Phật là gì thì giải thích rất lưu loát, nhưng Phật ở đâu lại không thấy, chỉ thấy Phật trên chữ nghĩa.

Lục Tổ chỉ thẳng ngay trong tự tánh Bồ-đề, sáng tỏ điều đó thì thấy Phật ngay, thành Phật cũng là thành ngay chỗ đó, không phải thành trong chữ nghĩa. Rời ngoài tâm cầu Phật là không thấy được Phật thật. Vậy thì ngộ trở lại tự tánh thanh tịnh của tâm là yếu chỉ. Tổ nói giản dị nhưng rất thiết thực.

Nhưng Tâm này ở đâu? Nói ngộ rõ tự tánh Bồ-đề ở ngay nơi tự tâm, nói vậy cũng chỉ là chữ nghĩa. Chỗ này là chỗ phải thực hành thật sự để sáng tỏ được tâm này ở đâu? Tại sao nhiều người không tỏ ngộ được?

Vậy hiện mọi người đang sống đây là đang sống với cái gì? Nếu nói ở ngay nơi mọi người, tại sao mọi người không tỏ ngộ? Đó là chỗ người học phải thấu tỏ chứ không thể hời hợt.

Thế nên ngay khi mở đầu, Lục Tổ bảo mọi người: “Tất cả phải nên lắng lòng niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật”, để không còn tạp niệm, mới thấy ngay trong “cái tâm đó”; còn suy nghĩ lăng xăng thì đâu thấy được gì!

Học Pháp Bảo Đàn cần phải học sâu vào “trong đó”, học đến “trong đó” thì giải tỏa được tất cả những tranh cãi chữ nghĩa. Hiện nay có nhiều tranh cãi chữ nghĩa, còn nói kinh Pháp Bảo Đàn không phải Lục Tổ nói. Nếu thấu được chỗ này thì những chuyện kia không dính dáng gì, chỉ là chữ nghĩa. Quan trọng là chúng ta phải thấu được lẽ thật, làm Phật làm Tổ là ở chỗ này, không phải trên chữ nghĩa kia. Đó là muốn nhắc cho tất cả khéo học cho kỹ. Tiếp đến Ngài nói:

Này thiện tri thức! Hãy lắng nghe tóm tắt về nguồn gốc thân thế và việc đắc pháp của Huệ Năng. Cha của Năng quê quán tại Phạm Dương (Hà Bắc), bị giáng chức đày ra Lĩnh Nam làm thường dân ở Tân Châu, thân này chẳng may cha lại mất sớm, mẹ góa con côi dời đến Nam Hải gian khó nghèo khổ thường ra phố bán củi.

Lục Tổ thuật lại thân thế của Ngài và việc đắc pháp cho mọi người biết, nếu Ngài không thuật lại chắc không ai biết. Quê quán của cha Ngài ở Phạm Dương (tên một quận thời Đường, hiện nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Ông làm quan, vào khoảng giữa niên hiệu Võ Đức đời Đường ông có tội, bị giáng chức, lưu đày ra vùng Lĩnh Nam làm thường dân ở Tân Châu, Lục Tổ được sanh ra ở đây.

Lĩnh Nam là vùng xa xôi, thuộc về vùng phía nam của Ngũ Lĩnh. Trước kia vùng này thuộc đất Việt nhưng thời này bị Bắc thuộc thời Đường, cho nên Việt Nam có bộ Lĩnh Nam Chích Quái. Gần đây có những nhà nghiên cứu cho rằng Lục Tổ là người Việt, tức sinh trên đất Việt, nhưng quê cha của Ngài ở Hà Bắc, Trung Hoa. Tân Châu hiện nay thuộc huyện Tân Hương cách phía nam phủ Triệu Khánh khoảng 130 dặm. Do cha mất sớm, mẹ con Ngài dời đến Nam Hải sinh sống, Nam Hải xưa cũng là một quận nay đổi thành huyện thuộc tỉnh Quảng Đông. Như vậy Lục Tổ được sinh ra ở vùng xa xôi phía nam Trung Hoa, dành cho những người có tội bị lưu đày, đây là vùng sơn lam chướng khí. Khi cha mất, Ngài cùng mẹ đến Nam Hải, rồi lên rừng đốn củi mang ra phố bán lấy tiền nuôi mẹ.

Một hôm có người khách mua củi bảo gánh đến tiệm của khách, khách thu củi xong, Năng nhận tiền rồi đi ra ngoài cửa, gặp một người khách tụng kinh Kim Cang đến đoạn: “Nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”. Năng vừa nghe qua lời kinh, tâm liền tỏ ngộ, bèn hỏi người khách:

- Tụng kinh gì?

Khách bảo:

- Kinh Kim Cang.

Lại hỏi thêm:

- Từ đâu đến mà trì kinh này?

Khách bảo:

- Tôi từ chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, Kỳ Châu đến đây. Chùa ấy hiện do Ngũ Tổ Đại sư Nhẫn làm chủ giáo hóa, đệ tử của Ngài có hơn 1000 người. Tôi đến trong đó lễ bái, nghe nhận kinh này. Đại sư thường khuyên trong hàng tăng tục, chỉ trì kinh Kim Cang tức tự thấy tánh, thẳng ngay đây tỏ ngộ thành Phật.

Đây là nhân duyên ban đầu của Ngài, nghe kinh Kim Cang được sáng tỏ đạo lý, tỏ ngộ ý kinh. Nhân đem củi đến tiệm của người khách, khách nhận xong, Ngài nhận tiền đi ra cửa, nghe người khách tụng kinh. Đây do Lục Tổ thuật lại nên Ngài xưng là Năng chứ không nói là tôi hay thầy. Đoạn kinh Kim Cang đầy đủ là: “Chẳng nên trụ sắc sanh tâm, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không chỗ trụ mà sanh tâm kia.” Đây Ngài nghe đến đoạn: “Nên không chỗ trụ mà sanh tâm kia” liền mở sáng.

Đó là trí vô sư không thầy mà tự phát. Một anh tiều phu nhà quê ở vùng xa xôi, vùng mà người Trung Hoa ngày xưa khinh miệt. Cho nên đoạn sau Ngũ Tổ gọi Ngài nguyên chữ Hán là Cát Lão (chỉ cho những người dân tộc thiểu số, sống còn hoang sơ, gọi như vậy có tính cách hơi khinh thường). Ngài lại không biết chữ, nhưng nghe qua đoạn kinh liền tỏ ngộ, hiểu được ý kinh, rõ ràng không người dạy mà tự sáng. Cho thấy tâm tánh của Lục Tổ rất bén nhạy, cũng để nói lên chân nghĩa của Phật pháp không nằm trong chữ nghĩa, bởi Lục Tổ đâu biết chữ nghĩa mà nghe liền tỏ ngộ.

Điểm này cảnh tỉnh cho những người học Phật lâu không nên có cái thấy xem thường người mới học. Đôi khi người mới học có chủng duyên sâu dày với Phật pháp, tuy chúng ta thấy mới nhưng họ đã từng huân sâu nên tu tiến nhanh hơn chúng ta, cũng như Lục Tổ đây.

Lục Tổ nghe kinh tỏ ngộ, Ngài hỏi thăm người khách, biết được đạo tràng của Ngũ Tổ đã truyền dạy kinh Kim Cang. Chùa của Ngũ Tổ gọi là chùa Đông Thiền ở Hoàng Mai, Kỳ Châu. Kỳ Châu là dịch theo văn Hán Việt. Đúng theo văn phạm tiếng Việt gọi là châu Kỳ, chữ “châu” là tên hành chánh địa phương như là tỉnh, quận, huyện, đây là một châu tên Kỳ. Châu Kỳ cách 180 dặm về phía đông của phủ Hoàng Châu, tỉnh Hồ Bắc. Chùa Đông Thiền cách huyện Hoàng Mai về hướng Tây Nam khoảng một dặm. Đây cũng là nơi Ngũ Tổ truyền y bát cho Lục Tổ về sau.

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, tiền thân là Tài Tùng đạo giả ở núi Phá Đầu (tức đạo giả già trồng tùng ở núi Phá Đầu). Một hôm, Tổ Đạo Tín đi viếng núi Song Phong gặp một vị sư già trồng tùng, thời nhân gọi là Tài Tùng đạo giả. Vị sư ấy hỏi Tổ rằng:

- Đạo Pháp của Như Lai có thể cho tôi nghe được chăng?

Tổ đáp:

- Tuổi ông đã già, dù có nghe được cũng không hoằng hóa kịp. Nếu có sanh trở lại được thì ta cũng nán chờ.

Đạo giả nghe dạy rồi từ tạ đi xuống núi. Đến huyện Hoàng Mai, thấy một cô gái đang giặt áo ở bờ sông, ông chào và hỏi:

- Nhà cô ở gần hay xa, cô vui lòng cho tôi nghỉ nhờ được chăng?

Cô đáp:

- Tôi còn cha mẹ không dám tự quyền, mời Sư vào nhà hỏi cha mẹ tôi là hơn.

Ông bảo:

- Vậy cô có bằng lòng không cho tôi biết?

Cô đáp:

- Riêng tôi thì bằng lòng.

Đạo giả nghe cô hứa chịu, bèn trở về núi ngồi ngay thẳng viên tịch.

Cô gái kia là con út của nhà họ Châu, sau khi hứa lời với đạo giả rồi, không bao lâu có thai. Cha mẹ cô thấy chưa chồng mà có thai, làm ô nhục gia phong, quyết định đuổi cô đi. Cô đang tuổi trẻ mà mang phải cái nợ giữa đường, sống bơ vơ không chỗ nương đỡ, phải đi kéo chỉ mướn nuôi miệng qua ngày.

Đến ngày, cô sinh ra một đứa con trai xinh xắn, nhưng vì sự kỳ dị không chồng có con, nên cô đành đem thả xuống sông.

Sáng ngày, cô thấy đứa bé ngồi xếp bằng trên mặt nước, khí sắc tươi tỉnh lạ thường. Cô vừa lấy làm lạ vừa xót thương nên bồng về nuôi dưỡng. Đến bảy tuổi, đứa bé gặp Tổ Đạo Tín, đối đáp một cách phi thường, được Tổ xin về cho xuất gia đặt tên là Hoằng Nhẫn. Hoằng Nhẫn có nghĩa là mẹ nhẫn nhục nuôi con, cũng có nghĩa Tổ Đạo Tín nhẫn chờ đứa bé khôn lớn để truyền pháp. Theo đây, Tổ Hoằng Nhẫn là thân sau của Tài Tùng Đạo giả.

Tứ Tổ Đạo Tín vốn ở núi Phá Đầu cũng là núi Song Phong. Ngũ Tổ ở ngọn núi Phùng Mậu, cách không xa về phía đông của núi Song Phong. Người đương thời gọi thiền pháp của Ngũ Tổ là pháp môn Đông Sơn.

Lục Tổ nghe người khách thuật lại từ nơi đạo tràng của Ngũ Tổ mà nhận được kinh Kim Cang, chính Ngũ Tổ cũng thường khuyên tăng tục trì tụng kinh này, đó là con đường kiến tánh thành Phật. Ngài nói thêm:

Năng nghe nói, nhờ có duyên từ đời trước, bèn được một người khách lấy mười lạng bạc cho Năng để giúp nuôi dưỡng mẹ già và bảo hãy qua Hoàng Mai gặp Ngũ Tổ. Năng sắp đặt cho mẹ xong liền từ giã ra đi, chẳng hơn 30 ngày thì tới Hoàng Mai lễ Ngũ Tổ.

Lục Tổ nghe nói về Ngũ Tổ, do có duyên thầy trò đời trước nên có ý muốn đến, nhưng vì còn mẹ già đâu thể bỏ đi. Người khách thấy vậy, phát tâm ủng hộ cho mười lạng bạc, khuyên lấy tiền này nuôi dưỡng mẹ già, nên đến Hoàng Mai gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Người khách này không biết thuộc hạng nào? Có phải Bồ-tát hiện thân hay không mà ngay đó phát tâm quá mạnh mẽ, cho mười lạng bạc, khuyên đến nơi Ngũ Tổ?

Lục Tổ y theo, nhận số bạc về sắp đặt cho bà mẹ, xin phép bà rồi đi đến lễ Ngũ Tổ. Tâm cầu pháp của Ngài rất mạnh mẽ. Từ đó về sau không nghe thuật lại về bà mẹ nữa.

Ngũ Tổ hỏi Năng:

- Ông là người phương nào? Muốn cầu vật gì?

Năng đáp:

- Đệ tử là người dân thường ở Tân Châu thuộc Lĩnh Nam, từ xa đến đây lễ thầy, chỉ cầu làm Phật, chẳng cầu gì khác.

Tổ bảo:

- Ông là người Lĩnh Nam, lại là mọi rợ, làm sao kham làm Phật?

Năng thưa:

- Người tuy có Nam Bắc, Phật tánh vốn không có Nam Bắc. Thân mọi rợ này tuy chẳng đồng với Hòa thượng, song Phật tánh đâu có gì sai khác.

Ngũ Tổ còn muốn nói thêm, nhưng thấy đồ chúng thảy ở bên cạnh, mới bảo theo chúng làm việc, tôi lại thưa:

- Huệ Năng kính bạch Hòa thượng! Đệ tử tự tâm thường sanh trí tuệ, chẳng lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng bảo làm việc gì?

Tổ bảo:

- Gã mọi này căn tánh rất lanh lợi, ngươi chớ có nói nữa, hãy xuống nhà sau đi!

Huệ Năng lui xuống hậu viện, có một hành giả sai Năng bửa củi, đạp chày giã gạo hơn tám tháng.

Đây là đoạn Lục Tổ gặp Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: “Ông là người phương nào? Muốn cầu vật gì?” Đó là để thăm dò. Lục Tổ nói thẳng: “Đệ tử là người dân thường ở Tân Châu thuộc Lĩnh Nam, từ xa đến đây lễ thầy chỉ cầu làm Phật chẳng cầu gì khác”. Cho thấy căn tánh sâu dày của Ngài, nói thẳng vào việc chánh yếu chứ không quanh co. Người đến chùa học Phật thường cầu học này học kia, còn đây Ngài nói thẳng đến cầu làm Phật chứ không cầu gì khác. Một tiều phu nhà quê, mới ngoài hai mươi tuổi, đến gặp vị Hòa thượng lớn mà nói mạnh mẽ như vậy.

Ngũ Tổ gạn lại lần nữa: “Ông là người Lĩnh Nam, lại là mọi rợ thì làm sao kham làm Phật?” Nếu như chúng ta nghe lời này thì tự ái bỏ về, mới đến học đạo mà người thầy nói một câu có vẻ quá khinh miệt! Nhưng Ngũ Tổ không phải khinh miệt, mà là gạn hỏi xem căn tánh Lục Tổ thế nào? Đây là đánh thẳng vào bản ngã, nếu ngay đó tự ái bỏ về có lẽ khỏi làm Tổ.

Lục Tổ thưa rõ: “Người tuy có Nam Bắc, Phật tánh vốn không có Nam Bắc. Thân mọi rợ này tuy chẳng đồng với Hòa thượng, song Phật tánh đâu có gì sai khác. Chúng ta đọc nhiều nên nghe quen tai, không thấy lạ lắm. Nếu đặt hoàn cảnh ngay trong hiện tại này thì mới thấy đây là việc phi thường chứ không phải tầm thường. Hơn nữa thời xưa không giống thời nay, thời nay do tiếp xúc nhiều nên đến chùa gặp Hòa thượng lớn là thường. Thời xưa thì việc này không bình thường. Ngũ Tổ lại là vị Tổ của cả một dòng Thiền. Lục Tổ khi này chỉ là một anh tiều phu trẻ ở vùng quê xa xôi, bị người xem là người mọi, lại không biết chữ. Vậy mà khi gặp một vị Hòa thượng Tổ như vậy, không rụt rè, sợ sệt, đầy đủ lòng tự tin, nói một cách thẳng thắn mạnh mẽ, giống như ngang nhau.

Đó là điểm đặc biệt, để thấy rằng trong tự tâm Lục Tổ có cái thấy sáng tỏ, đầy đủ lòng tự tin, không mắc kẹt trong thân phận này. Ngũ Tổ nghe qua, biết được phần nào căn tánh của Lục Tổ, nhưng thấy bên cạnh có nhiều người, sợ đồ chúng đố kỵ, không tốt cho Lục Tổ. Vì thế Ngũ Tổ bảo Lục Tổ theo chúng làm việc, đừng nói nhiều, sợ mọi người chung quanh biết rồi đố kỵ.

Lục Tổ thưa thêm: “Huệ Năng kính bạch Hòa thượng! Đệ tử tự tâm thường sanh trí tuệ, chẳng lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng bảo làm việc gì?” Lời nói xác quyết, chắc chắn đầy đủ niềm tự tin, trí tuệ là nơi tự tâm thường có, sẵn trong tự tâm chứ không cầu bên ngoài, phước điền cũng ngay nơi tự tánh, không lìa tự tánh cầu phước điền bên ngoài.

Ngũ Tổ bảo: “Gã mọi này căn tánh rất lanh lợi, ngươi chớ có nói nữa, hãy xuống nhà sau làm việc”. Ngài sợ nói thêm thì nhiều người biết, gây hại cho Lục Tổ. Đây cũng không có gì lạ, tuy ở trong chùa, nhưng đều là phàm phu, chưa phải thánh, nên phải phòng ngừa tâm chúng sanh. Ngũ Tổ sáng suốt nên phòng ngừa trước, mà quả thật sau này khi Ngũ Tổ truyền y, đồ chúng đã rượt đuổi theo Lục Tổ để lấy y. Ngài Huệ Năng xuống hậu viện, một hành giả sai bửa củi, giã gạo, làm những việc tầm thường, giống như giúp việc trong chúng, trải qua hơn tám tháng.

Mục Lục