Một hôm Tổ chợt gặp Năng bảo:
- Ta nghĩ cái thấy của ngươi đáng dùng được, song e có kẻ xấu hại ngươi mới chẳng cho ngươi nói, ngươi có biết chăng?
Năng thưa:
- Đệ tử cũng biết ý thầy, chẳng dám đi đến nhà trên, để cho người chẳng biết.
Ngũ Tổ nhân lúc không ai để ý, xuống hậu viện gặp riêng Lục Tổ, Ngũ Tổ ý nói: “Ta cũng thấy, cũng biết ngươi có cái thấy dùng được, hôm trước không cho ngươi nói vì sợ những người xấu hại ngươi, không phải ta chê bai hay xua đuổi ngươi”. Lục Tổ thưa: “Con cũng biết ý thầy như vậy, nên lâu nay con không dám lên nhà trên để mọi người không để ý”. Thấy rằng thầy trò rất hiểu nhau.
Một hôm Tổ gọi hết thảy hàng đệ tử đến bảo:
- Ta nói cho các ông rõ: Đời người sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, nếu tự tánh đã mê thì phước điền đâu thể cứu. Mỗi người trong các ông hãy đi, tự xem lại trí tuệ chính mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm chính mình, rồi tự làm một bài kệ đem đến trình cho ta xem. Nếu tỏ ngộ được đại ý, ta sẽ trao y pháp cho người ấy làm Tổ đời thứ sáu. Hãy gấp rút nhanh đi, chẳng được chậm trễ, hễ nghĩ ngợi tức chẳng trúng, người thấy tánh thì cần ngay lời nói liền thấy, nếu người như thế, khi múa đao ra trận cũng thấy.
Bấy giờ, Ngũ Tổ bảo mọi người trình kệ để truyền y bát làm Tổ kế thừa. Ngũ Tổ rất khéo, biết Lục Tổ đáng được truyền, nhưng phải có duyên sự, cũng để trong chúng biết được người đáng hay không đáng. Ngũ Tổ nhóm họp chúng, Ngài nhắc rõ đời người sanh tử là việc lớn, cần giải quyết ưu tiên hàng đầu.
Thường thì mọi người thấy sanh tử không phải việc lớn, mà việc lớn là tạo sự nghiệp, được danh dự, được chức vụ, theo thế gian thì có được những sự nghiệp mới là việc lớn. Với cái nhìn của Tổ chính sanh tử mới là việc lớn của đời người, làm thế nào để giải quyết được việc lớn sanh tử này mới là trọng yếu, nhất là đối với những người tu Phật. Mọi việc trên thế gian đều tạm thời phụ thuộc vào thân này, thân này chết rồi thì thôi, đâu có gì mà nói việc lớn. Còn việc lớn sanh tử nếu chưa giải quyết xong là còn tiếp tục sanh tử, là cái khổ lớn, cho nên đó mới là việc lớn trong đời người.
Ngay như người tu ở chùa, nhiều khi cũng chưa thấy sanh tử là việc lớn, chỉ thấy việc này việc nọ là việc lớn, đó là chưa thấy hết. Nên Ngũ Tổ nhắc: “Các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử” tức lo cầu phước điền, làm cho có phước mà không cầu ra khỏi sanh tử. Người tu ngày nay cũng vậy, ít có người cầu ra khỏi sanh tử, phần nhiều người đều cầu được phước để sanh trở lại tốt hơn hoặc sanh lên cõi trời.
Ngũ Tổ nhắc, quan trọng là cần phải sáng tỏ trở lại tự tánh để ra khỏi sanh tử “Nếu tự tánh đã mê thì phước điền đâu thể cứu. Mỗi người trong các ông hãy đi, tự xem lại trí tuệ chính mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm chính mình, rồi tự làm một bài kệ đem đến trình cho ta xem. Nếu tỏ ngộ được đại ý, ta sẽ trao y pháp cho người ấy làm Tổ đời thứ sáu”. Tự tánh mà mê thì có phước cũng không cứu được. Mỗi người cần phải soi sáng lại nơi chính mình, nhận lấy trí tuệ nơi bản tâm chính mình, đó mới là chỗ thấy chân thật chứ không phải suy nghĩ, tưởng tượng. Đôi khi học lâu nên huân chứa trong tàng thức, cũng có thể suy nghĩ làm kệ, nhưng suy nghĩ thì chưa phải thật, cũng do kiến thức vay mượn của người. Ngũ Tổ bảo phải từ trong trí tuệ chân thật nơi bản tâm chính mình, từ đó phát ra mới là cái thật.
Ngài nói: “Nghĩ ngợi tức chẳng trúng, người thấy tánh thì cần ngay lời nói liền thấy, nếu người như thế, khi múa đao ra trận cũng thấy”. Thật sự thấy tánh thì ngay lời nói liền thấy, tức vượt qua ngôn ngữ, không cần phải suy nghĩ. Như vậy mới thật thấy, còn suy nghĩ là đã qua trung gian. Nếu thấy tánh, dù múa đao ra trận cũng thấy, ở trong cảnh nghịch, cảnh bức bách cũng vẫn thấy chứ không mất. Đôi khi chúng ta suy nghĩ rồi hiểu, nhưng gặp chuyện bức bách thì quên mất, gặp chuyện nổi sân thì càng mê, như vậy là chưa phải thật thấy.
Chúng được sai bảo liền lui về, lần lượt bảo với nhau:
- Mỗi người chúng ta chẳng cần lắng tâm dụng ý làm kệ trình Hòa thượng, đâu có ích gì! Thượng tọa Thần Tú hiện đang là thầy giáo thọ, chắc hẳn Ngài sẽ được, bọn ta có dối làm kệ cũng uổng dụng tâm lực thôi.
Mọi người nghe nói thảy đều hết tưởng mong, đồng bảo:
- Chúng ta sau này sẽ nương tựa với thầy Tú, đâu nhọc làm kệ cho mệt!
Trong chúng đều an phận, chấp nhận nương tựa với người khác, không có tâm tin tưởng để vươn lên. Rốt cuộc không ai làm kệ.
Thần Tú suy nghĩ: “Mỗi người chẳng trình kệ vì ta là thầy giáo thọ của họ. Ta cần phải làm kệ đem trình Hòa thượng, nếu chẳng trình kệ thì Hòa thượng làm sao biết chỗ thấy hiểu trong tâm ta là cạn hay sâu. Ta trình kệ ý trong đó cầu pháp là tốt, còn mong tìm làm Tổ là xấu, lại đồng với tâm phàm mà muốn đoạt ngôi Thánh kia đâu khác. Nếu ta chẳng trình kệ thì trọn chẳng được. Rất khó! Rất khó!”.
Ngài Thần Tú ở vào cái thế “chẳng đặng đừng”, mọi người không ai chịu làm kệ, tất cả đều giao phó cho Ngài. Ngài lại nghĩ, trình kệ ý trong đó nếu vì cầu pháp thì tốt, nếu trình kệ để muốn làm Tổ thì không tốt. Như vậy tâm Ngài cũng rất tốt.
Trước nhà Ngũ Tổ có hành lang ba gian, Tổ định mời quan Cung phụng Lư Trân vẽ tranh “Lăng Già Biến Tướng” và “Ngũ Tổ Huyết Mạch Đồ” để lưu truyền cúng dường. Thần Tú làm kệ xong, mấy lần muốn trình, vừa đi đến trước nhà trên thì trong tâm hồi hộp, toàn thân xuất mồ hôi, toan trình mà chẳng được. Trước sau trải qua bốn ngày, mười ba lần trình kệ chẳng được, Thần Tú bèn suy nghĩ “Chi bằng chép ở phía dưới vách hành lang, tùy Hòa thượng có xem thấy, nếu chợt bảo là hay thì ta liền ra lễ bái, nói là của Tú làm. Còn nếu nói chẳng kham thì uổng cho ta mấy năm ở trong núi chịu người lễ bái, trọn tu cái đạo gì?”.
Quan Cung phụng là quan chuyên về văn học, nghệ thuật. Tranh Lăng Già Biến Tướng là vẽ cảnh tượng Đức Phật thuyết pháp trên hội Lăng Già. Ngũ Tổ Huyết Mạch Đồ là vẽ năm vị Tổ từ Tổ Bồ-đề-đạt-ma đến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, những sự truyền thừa kế tục, những ý chỉ sâu xa trong truyền pháp.
Ngài Thần Tú làm kệ xong, trải qua bốn ngày, mười ba lần đến trình kệ mà trình không xong. Để thấy rằng tâm trạng của Ngài còn do dự, chưa đủ tự tin nên sợ, trong lòng chưa tin bài kệ hợp ý Ngũ Tổ, ngay đó đủ thấy chưa vào cửa Tổ. Trong khi Lục Tổ lúc mới đến gặp Ngũ Tổ đã nói mạnh mẽ, không do dự. Cuối cùng, Ngài nghĩ ra cách lén viết bài kệ lên vách, đây gọi là trình khéo.
Đêm ấy vào canh ba, Sư chẳng cho ai biết, tự cầm đèn chép bài kệ nơi vách hành lang phía nam để tỏ bày chỗ thấy trong tâm.
Bài kệ:
Thân là cây Bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn siêng lau chùi,
Chớ để dính bụi nhơ.
Âm:
Thân thị Bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.
Thần Tú viết bài kệ xong liền trở về phòng không ai biết, Sư lại suy nghĩ: “Sáng mai Ngũ Tổ thấy bài kệ mà vui mừng tức là ta có duyên với pháp, nếu như chẳng kham thì tự là ta mê mờ, nghiệp chướng đời trước sâu nặng chẳng khế hợp được pháp, thánh ý khó nghĩ lường”. Ở trong phòng, Sư cứ nghĩ tưởng ngồi nằm chẳng yên suốt tới canh năm.
Giữa đêm khuya, Ngài Thần Tú cầm đèn chép bài kệ trên vách hành lang. Chép kệ xong, Ngài về phòng suy nghĩ mãi ngủ không được, thức luôn tới sáng, rõ ràng là chưa vào cửa.
Tổ đã biết Thần Tú chưa được vào cửa, chẳng thấy tự tánh. Sáng ngày, Tổ gọi quan Cung phụng họ Lư tới vẽ Đồ Tướng nơi vách hành lang phía nam, Tổ chợt thấy bài kệ, bèn nói với quan Cung phụng:
- Thôi chẳng cần vẽ, thật là nhọc Ngài từ xa tới. Trong kinh có nói: “Hễ cái gì có tướng đều là hư dối”, chỉ giữ lại bài kệ này cho người tụng trì, nương theo bài kệ này tu hành sẽ chẳng rơi vào đường ác, nương theo bài kệ này tu hành sẽ được lợi ích lớn.
Tổ bảo môn nhân thắp hương lễ bái trọn tụng bài kệ này tức sẽ được thấy tánh. Môn nhân tụng kệ đều khen hay.
Sáng ra, Ngũ Tổ dẫn quan Cung phụng đến vách hành lang để vẽ bức tranh thì thấy bài kệ này. Ngài Thần Tú đoán ý cũng hay. Ngũ Tổ khéo léo chuyển lại, không vẽ tranh nữa mà bảo chúng kính lễ bài kệ này, nương theo đây tu hành. Mọi người nghe Ngũ Tổ bảo thắp hương kính lễ bài kệ cũng bèn khen theo. Mới thấy tâm chúng ở đây không có tự tin nơi chính mình, nương tựa vào bên ngoài, nghe người lớn khen thì khen theo, nếu nghe người lớn chê cũng chê theo, không có cái nhận định của chính mình mà bị lệ thuộc nơi người khác, nhất là người lớn có uy tín.
Ngũ Tổ lại rất khéo, nếu ngay đó Ngài chê thì mất hay, chính vì Ngài khen nên ai cũng kính lễ, vì vậy mới khơi dậy Lục Tổ lộ bày ý bài kệ của Lục Tổ.
Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào phòng hỏi:
- Có phải ông làm bài kệ ấy chăng?
Thần Tú thưa:
- Quả thật con làm, nhưng chẳng dám vọng cầu ngôi Tổ, chỉ mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng?
Tổ bảo:
- Ông làm bài kệ này chưa thấy bản tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong cửa, thấy hiểu như thế mà mong tìm Vô thượng Bồ-đề trọn không thể được. Vô thượng Bồ-đề cần ngay lời nói nhận biết bản tâm mình, thấy bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt, trong tất cả thời niệm niệm luôn tự thấy, muôn pháp không làm ngưng trệ, một chân thì tất cả chân, muôn cảnh tự như như. Tâm như như tức là chân thật, nếu thấy như thế tức là tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông hãy đi, về suy nghĩ một hai ngày rồi làm một bài kệ khác đem đến đây cho ta xem. Nếu bài kệ của ông vào cửa được, ta sẽ trao phó y bát cho ông.
Thần Tú làm lễ rồi lui ra, trải qua mấy ngày, Sư làm kệ chẳng xong, trong tâm hồi hộp, tinh thần không yên, giống như trong mộng đi ngồi chẳng vui.
Ngũ Tổ cũng khéo léo đợi đến tối gọi Ngài Thần Tú vào nói riêng chứ không chê ngoài chúng e làm Ngài mất mặt.
Tổ còn chỉ rõ Vô thượng Bồ-đề là cần phải ngay lời nói nhận biết bản tâm mình, thấy bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt không qua suy nghĩ phân biệt. Đã thấy thì lúc nào cũng thấy, ở chỗ nào cũng thấy, không có gì nghi ngờ, do dự. Tổ bảo Ngài Thần Tú về suy nghĩ kỹ rồi làm bài kệ khác đem đến trình.
Bởi cái thấy của chúng ta đã thật thì nhìn ra cái gì cũng thật, cũng như cái thấy của chúng ta sáng thì nhìn cái gì cũng sáng. Pháp không có lỗi, lỗi tại mắt chúng ta không sáng nên thấy các pháp có ngại, nếu mắt chúng ta thật sáng rồi nhìn ra đâu có gì ngại, mỗi mỗi đều tự sáng. Thấy tột như vậy đâu còn nghi ngờ, không nghi ngờ tức không do dự, vậy mới thật vào cửa. Còn do dự là biết còn ở ngoài chưa vào cửa.
Đây cũng là kinh nghiệm nhắc cho tất cả nhất là trong nhà Thiền, khi thấy đến chỗ chân thật không bắt chước được, cái thấy của ai thì người ấy dùng. Nếu không phải thật thấy thì bị lộ ra ngay, người thật thấy nói ra thì người mắt sáng liền nhận biết. Người không thật thấy, dù cố nói hay nói khéo, nhưng đã không phải thật thì cũng lộ ra lời nói vay mượn, hoặc thuộc ý thức suy nghĩ.
Hai ngày sau, có một chú bé đi qua chỗ giã gạo mới xướng tụng bài kệ ấy. Năng vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy bản tánh, dù chưa được chỉ dạy mà đã sớm biết đại ý, liền hỏi chú bé:
- Tụng đó là kệ gì?
Chú bé đáp:
- Ông mọi này chẳng biết, Đại sư bảo đời người sanh tử là việc lớn, muốn truyền trao y pháp mới bảo môn nhân làm kệ đến trình cho Ngài xem, nếu người ngộ được đại ý sẽ trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú đã chép bày kệ này nơi vách hành lang phía nam. Đại sư bảo mọi người đều học thuộc, nương bài kệ này tu hành khỏi rơi vào đường ác.
Năng nói:
- Tôi cũng cần tụng bài kệ này để kết duyên đời sau đồng sanh nơi đất Phật. Thượng nhân! Tôi tới đây đạp cối giã gạo hơn tám tháng chưa từng đi lên nhà trên, mong thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ làm lễ.
Chính vì Ngũ Tổ bảo mọi người thắp hương đảnh lễ bài kệ này và y theo đó tu hành, cho nên mới có cơ duyên truyền đến chỗ Ngài Huệ Năng qua chú bé này.
Ở đây Ngài Huệ Năng khiêm tốn gọi chú bé là thượng nhân, nhưng chú bé cũng có ý khinh thường, gọi Ngài là ông mọi này. Tuy nhiên, Lục Tổ không tự ái, Ngài nhờ dẫn lên chỗ bài kệ. Cho thấy Lục Tổ khi ấy chỉ lo làm việc ở nhà sau, không biết những sinh hoạt ở trong chùa nên không biết bài kệ đó ở chỗ nào.
Chú bé dẫn Huệ Năng đến trước bài kệ làm lễ rồi nói:
- Năng chẳng biết chữ, xin thượng nhân đọc dùm.
Lúc đó có quan Biệt giá ở Giang Châu tên Trương Nhật Dụng liền đọc to lên, Năng nghe xong bèn nói mình cũng có một bài kệ mong quan Biệt giá chép dùm. Quan Biệt giá nói:
- Người mọi, ông cũng làm kệ nữa à? Việc ấy hiếm có!
Năng nói với quan Biệt giá:
- Người muốn học Vô thượng Bồ-đề chẳng thể khinh kẻ mới học, người ở dưới thấp lại có trí bậc trên cao, người bậc trên cao lại chôn vùi ý chí. Nếu khinh người tức có vô lượng vô biên tội.
Khi Lục Tổ được dẫn lên chỗ bài kệ, Ngài nói rõ là không biết chữ nên nhờ đọc dùm. Bởi cha Ngài mất sớm, phải lên rừng đốn củi bán nuôi mẹ thì đâu có thời gian học, lại ở vùng quê nên không biết chữ. Khi đó, quan Biệt giá ở Giang Châu tên Trương Nhật Dụng mới đọc to lên.
Ngài Huệ Năng nghe xong, liền nói Ngài cũng có bài kệ, nhờ quan chép dùm.
Quan Biệt giá này cũng có ý khinh thường, nói: “Người mọi, ông cũng có bài kệ nữa à?”. Cho nên Ngài Huệ Năng nhắc ông: “Người muốn học Vô thượng Bồ-đề chẳng thể khinh kẻ mới học, người ở dưới thấp lại có trí bậc trên cao, người bậc trên cao lại chôn vùi ý chí. Nếu khinh người tức có vô lượng vô biên tội”.
Đây là kinh nghiệm để nhắc nhở cho những người học đạo phải biết. Chúng ta học đạo, nếu nhìn theo tinh thần của trong Đại thừa hay trong Thiền Tông thì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nên không ai đáng khinh. Thân tướng bên ngoài do nghiệp riêng của mỗi người, nhưng cái thật bên trong thì không ai thua ai, không ai kém ai nên không dám khinh ai, đó là ngừa bệnh cũng là ngừa lỗi.
Quan Biệt giá nói:
- Ông hãy đọc kệ, tôi chép cho ông. Nếu ông đắc pháp phải độ tôi trước, chớ có quên lời này.
Năng mới đọc kệ:
Bồ-đề vốn không cội,
Gương sáng chẳng phải đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi đây.
Âm:
Bồ-đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.
Chép bài kệ xong, đồ chúng thảy giật mình, ai nấy đều hít hà cùng bảo nhau:
- Lạ thay! Chẳng được lấy tướng mạo mà đoán người, đâu ngờ lâu nay đã sai khiến nhục thân Bồ-tát.
Tổ thấy mọi người kinh lạ, sợ có kẻ làm hại Năng, bèn lấy giày chà hết bài kệ bảo:
- Cũng chưa thấy tánh!
Mọi người dừng hết nghi ngờ.
Quan Biệt giá trước còn khinh Ngài Huệ Năng, khi được cảnh tỉnh, ông thấy ngay lỗi của mình nên lời nói khiêm tốn trở lại, cũng là người đáng quý.
Khi đó Ngài Huệ Năng đọc bài kệ, đối lại bài kệ của Ngài Thần Tú.
Kệ của Ngài Thần Tú:
Thân là cây Bồ-đề.
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn siêng lau chùi,
Chớ để dính bụi nhơ.
Kệ của Ngài Huệ Năng:
Bồ-đề vốn không cội,
Gương sáng chẳng phải đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi đây.
Nói Bồ-đề nhưng đó cũng chỉ là cái tên, tạm mượn dùng để gợi ý, chứ Bồ-đề chân thật vốn không có hình tướng thì đâu có cây, đâu có cội. Bồ-đề chân thật là tâm giác ngộ. Gương sáng là tự sáng, đâu phải sáng ở cái đài. Trong chỗ chân thật đó thì xưa nay vốn không một vật, không dính gì trong đó, vậy chỗ nào bụi dính được, đúng là thấy sâu trong tự tánh.
Bài kệ của Ngài Thần Tú cũng hay, nhưng còn ở trên công phu tu hành, gạn lọc từ từ, thường xuyên lau chùi mới hết bụi nhơ. Còn Ngài Huệ Năng thấy thẳng xưa nay không một vật, bụi không chỗ dính thì lau chùi cái gì!
Bài kệ được chép xong, trong đồ chúng đều giật mình, ngạc nhiên, hít hà khen hay. Ngũ Tổ thấy mọi người giật mình kinh lạ, sợ có người đố kỵ, tức là sợ có người suy nghĩ nếu Ngũ Tổ truyền Tổ vị cho Ngài Huệ Năng, ông cư sĩ mới hơn hai mươi tuổi, ở nhà quê gọi là người mọi, đến đây mới ít tháng mà làm Tổ, trong khi ta ở đây mấy năm rồi, nghĩ vậy thì dễ ganh tỵ, rồi tìm cách hại Ngài. Do đó Ngũ Tổ lấy giày chà bài kệ nói: “Bài kệ này cũng chưa thấy tánh”. Mọi người nghe theo, hết nghi ngờ, cũng đồng ý là chưa thấy tánh, thành ra đều lầm, chính vì vậy mà không ai để ý đến Lục Tổ nữa.
Vậy là nghe Tổ khen thì khen theo, Tổ chê cũng chê theo, không có nhận định của chính mình. Chúng ta học đạo phải sáng suốt, phải có trí tuệ, có nhận định rõ ràng, xem xét sự việc có hợp lý, đúng với đạo lý hay không! Không phải nghe thầy khen thì khen theo, nghe thầy chê thì chê theo.
Trong bản Đôn Hoàng, Lục Tổ đọc hai bài kệ.
Bài kệ thứ nhất:
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng không đài.
Phật tánh thường thanh tịnh,
Chỗ nào có bụi nhơ.
Bài kệ thứ hai:
Tâm đó cây Bồ-đề,
Thân là đài gương sáng.
Gương sáng vốn thanh tịnh,
Chỗ nào dính bụi nhơ.
Âm:
Bồ-đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc vô đài.
Phật tánh thường thanh tịnh,
Hà xứ hữu trần ai.
***
Tâm thị Bồ-đề thọ,
Thân vi minh cảnh đài.
Minh cảnh bổn thanh tịnh,
Hà xứ nhiễm trần ai.
Cũng nói lên ý nghĩa là Phật tánh thường thanh tịnh, không bụi nhơ nào có thể dính được.
Hôm sau, Tổ thầm đến nơi giã gạo, gặp Năng lưng đeo đá giã gạo. Ngài nói:
- Người cầu đạo vì pháp quên thân đến thế sao?
Rồi hỏi:
- Gạo trắng chưa?
Năng thưa:
- Gạo trắng đã lâu, chỉ còn thiếu cái sàng.
Tổ lấy gậy gõ vào cối ba cái rồi đi. Năng hiểu ý Tổ, trống canh ba liền đi vào thất, Tổ lấy cà-sa che chung quanh chẳng cho ai thấy, vì nói kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (tức là nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia), Huệ Năng ngay lời nói liền đại ngộ tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, bèn kính bạch Tổ:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh!
Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt!
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ!
Đâu ngờ tự tánh vốn không lay động!
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp!
Tổ biết đã ngộ bản tánh, tức gọi Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật.
Đây là đoạn kế tiếp, hôm sau Ngũ Tổ thầm đến nơi giã gạo gặp riêng Ngài Huệ Năng, thấy Ngài lúc đó lưng đeo đá đang giã gạo. Vì thân Ngài ốm gầy, không đủ nặng để cất cái chày, phải mang đá thêm cho đủ nặng để khi đạp thì cái chày mới cất lên được, thật khổ nhọc như vậy. Ngũ Tổ cũng có cảm mới nói rằng “Người cầu đạo vì pháp mà quên thân mình đến vậy hay sao?” tức phải chịu khổ nhọc vậy hay sao?
Đây muốn nhắc người cầu pháp hay cầu đạo, không nên quá trọng thân mà quên pháp, nên vì pháp quên thân. Người không khéo thì trọng thân mà quên pháp, nếu vậy không đạt đạo được.
Nhân đó Ngũ Tổ hỏi “Gạo trắng chưa?” Đây là mượn chuyện gạo để ngầm chỉ nơi tâm, hỏi đến tâm, tức hỏi tâm ông thật có tinh thuần hay chưa?
Ngài Huệ Năng thưa: “Gạo trắng đã lâu, nhưng chỉ còn thiếu cái sàng”. Tức chỉ chờ ấn chứng nữa là xong, không cần thêm gì khác. Tâm Ngài đã sẵn sàng.
Ngũ Tổ mới lấy cây gậy gõ vào cối ba cái rồi đi. Nếu là mọi người thấy việc đó thì cho là bình thường, không thấy gì khác. Nhưng với Ngài Huệ Năng, khi này tâm đã sáng nên rất bén nhạy, thấy vậy là hiểu ý Ngũ Tổ thầm bảo canh ba hãy đến thất, nên trống đổ canh ba, Ngài vào thất của Ngũ Tổ.
Ngũ Tổ lấy cà-sa che chung quanh thất để không ai thấy, rồi nói kinh Kim Cang cho Ngài Huệ Năng nghe, lúc này chỉ có hai thầy trò. Đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” tức nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia. Câu này nói đầy đủ là “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Nghĩa là không trụ nơi sắc mà sanh tâm, không trụ nơi thanh hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia. Tức là không trụ nơi sáu trần, không bám vào bất cứ nơi đâu, thì chính ngay đó là gì?
Nếu tâm chúng ta cũng được vậy thì bảo đảm ngộ đạo. Tâm không trụ vào trần thì đâu có trần nào che mờ được, ngay đó là sáng tỏ. Nay tâm chúng ta trụ đủ thứ nên không sáng được. Chúng ta chỉ cần khéo tu ngay đó là xong, tâm không trụ vào bất cứ một cái gì, thì có cái gì che ngại mà không sáng!
Ngài Huệ Năng nghe đến đó liền đại ngộ, ngộ cái gì? Ngộ tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, nơi tự tánh đã đầy đủ, đó gọi là thấy tánh, thấy đến tột nơi tự tánh, không có pháp nào ngoài tự tánh riêng có.
Ngài Huệ Năng căn tánh thật bén nhạy sáng tỏ, trước giờ chưa nghe giảng kinh, hơn tám tháng ở dưới nhà sau giã gạo, không được lên trên nghe giảng. Khi ấy lần đầu nghe Ngũ Tổ giảng liền tỏ ngộ.
Ở trước, khi gánh củi đến nhà khách, nghe người khách tụng kinh Kim Cang cũng có chỗ sáng tỏ, Ngài chỉ nói sáng tỏ mà không nói sáng tỏ thế nào. Đến đây, Ngài nói rõ ngộ được tự tánh, thấy rõ tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, mới kính bạch với Tổ, thốt lên năm câu đâu ngờ:
- Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, tự tánh đã sẵn thanh tịnh, không phải tu để làm cho nó thanh tịnh.
- Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt, xưa nay tự tánh không sanh diệt cũng không phải làm cho nó thành không sanh diệt.
- Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, trong đó tự đầy đủ, không phải được thêm gì nữa.
- Đâu ngờ tự tánh vốn không lay động, tự tánh sẵn lặng lẽ, không lay động được, không phải làm cho nó lặng lẽ nữa. Vậy thì không phải bỏ động cầu tịnh. Chúng ta thường tu là trừ cái động để được cái tịnh, thì cái tịnh đó chưa phải thật, tức cái tịnh này là đối với cái động kia, khi hết tịnh thì nó động lại. Tự tánh tịnh là không gì có thể làm cho nó động được.
- Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp, không có pháp nào ngoài tự tánh riêng có, vậy đâu còn cầu cái gì khác.
Ngài bộc lộ chỗ thấy ngoài sức suy nghĩ, ngoài sức tưởng tượng, nên nói “đâu ngờ”, bất chợt sáng tỏ ra! Chính đó mới là thật ngộ, còn suy nghĩ là chưa phải.
Đây là Ngài xác quyết chỗ thấy trực tiếp, không qua trung gian của tình thức suy nghĩ. Chúng ta ngày nay có nhiều người cũng đã đọc kinh Pháp Bảo Đàn, đọc đến đây cũng có hiểu, nhưng ngộ thì chưa ngộ, vì sao? Tức là chưa thấy trực tiếp như Ngài Huệ Năng mà còn qua cái tưởng, qua tâm suy nghĩ, nói là hiểu chứ chưa phải thật hiểu. Đa số người học Phật lầm chỗ này rất nhiều, học được một ít rồi thấy như đã hiểu, tưởng ta hiểu, nhưng sự thật chưa phải thật hiểu. Cái hiểu đó là lượm lấy, lượm lấy cái hiểu của Phật của Tổ làm cái hiểu của ta, cho là ta hiểu, sự thật thì chưa phải cái thật hiểu của chính mình.
Trong kinh, Phật gọi cái hiểu biết đó là tưởng tri chứ chưa phải thắng tri. Thắng tri là cái biết thù thắng. Còn tưởng tri là cái biết thuộc về tưởng, chưa phải là chân tri, chưa phải là cái thật biết của chính mình; tức là cái biết còn qua trung gian ý thức. Thế nên tuy hiểu nhưng vẫn chưa vào được cửa Tổ, còn ở ngoài cửa Tổ. Phải có sự tu tập, thực hành, một phen “À, đâu ngờ!” như Ngài Huệ Năng thì mới cảm thông được chỗ này.
Đến đây Ngũ Tổ biết Ngài Huệ Năng đã ngộ được bản tánh, tức thấy tánh rồi, đạp được trên đất Phật, đáng là bậc Trượng Phu đầy đủ dũng khí để vượt lên trên đường giác ngộ, cũng là bậc Thiên Nhân Sư tức là bậc thầy của Trời người, là bậc giác ngộ thật sự.
Như vậy, trước kia Tổ Bồ-đề Đạt-ma truyền kinh Lăng Già, đến Ngũ Tổ chú trọng kinh Kim Cang, Ngài thường giảng kinh Kim Cang. Ngài Huệ Năng lại nghe kinh thì đại ngộ. Như vậy đúng với tinh thần Thiền Giáo đồng hành. Kinh và Thiền không ngăn ngại nhau, không phải trọng Thiền mà phá bỏ Kinh. Hòa thượng Tôn sư ngày nay cũng ứng dụng tinh thần này.
Canh ba, đã nhận lãnh pháp, không ai biết. Tổ liền truyền đốn giáo và y bát rồi nói:
- Ngươi là Tổ đời thứ sáu, hãy khéo tự giữ gìn, rộng độ chúng sanh, truyền khắp mãi về sau chớ để đoạn dứt. Hãy nghe ta nói kệ:
Có tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Không tình đã không giống,
Không tánh cũng không sanh.
Âm:
Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình ký vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.
Bài kệ này trong bản kinh khác có sai biệt chút ít.
Khi ấy, Lục Tổ vẫn còn cư sĩ, lại còn rất trẻ, chưa đến ba mươi tuổi, vậy mà được truyền y bát kế thừa Tổ vị, đó là một trường hợp đặc biệt! Phải nói rằng Ngũ Tổ cũng rất đặc biệt, dám đem cả một dòng Thiền truyền cho một anh cư sĩ trẻ, ít ai biết đến, chỉ hơn tám tháng ở nhà sau giã gạo, không có tiếng tăm, lại không biết chữ.
Chính vì sự đặc biệt của hai vị Tổ nên sự truyền trao cũng phải đặc biệt, vì nhiều người không thể chấp nhận được việc này, không tin nổi. Vì không tin nổi thì sẽ gây hại Lục Tổ, nên phải thầm truyền không cho người khác biết. Đó là trường hợp đặc biệt, do hoàn cảnh chứ không có gì bí mật. Về sau có người mượn cớ này, bày ra cách truyền tâm ấn đặc biệt, truyền trong bí mật, thật không phải.
Thiền sư Pháp Hội đến hỏi Mã Tổ:
- Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang? (tức ý Tổ Bồ-đề Đạt-ma từ Ấn Độ sang)
Mã Tổ bảo:
- Ông hãy nói nhỏ nhỏ, lại gần đây ta nói nhỏ cho ông nghe.
Ngài Pháp Hội đến gần, Mã Tổ cho một tát tai, bảo:
- Chẳng thể cho người thứ ba biết, ông hãy đi, ngày mai đến.
Hôm sau, Ngài Pháp Hội một mình đi vào pháp đường thưa với Mã Tổ:
- Giờ thỉnh Hòa thượng nói!
Mã Tổ bảo:
- Ông hãy đi, đợi Lão Tăng thượng đường hãy ra hỏi, ta sẽ vì ông chứng minh.
Ngay đó Ngài Pháp Hội bỗng nhiên tỉnh ngộ, Ngài liền thưa:
- Lễ tạ đại chúng chứng minh.
Việc này rõ ràng, đâu có giấu giếm gì. Bảo đừng cho người thứ ba biết tức chỉ thầm biết, thầm nhận, đừng cho ý thức xen vào. Lẽ thật là như thế, là việc sẵn có nơi mọi người đều đầy đủ, không có bí mật gì. Tưởng có gì bí hiểm, đó là chỗ lầm lẫn của người. Nên Sư thưa: “Lễ tạ đại chúng chứng minh”.
Ở đây, cốt là thầy trò tâm tâm thầm hợp với nhau, chủ yếu là chỗ đó, gọi là truyền pháp. Ấn tâm là chỗ đó, điều này vượt ngoài ngôn ngữ, ngôn ngữ không thể đến, cho nên gọi là thầm hiểu thầm nhận.
Ngũ Tổ sau khi truyền y pháp thì nói kệ:
Có tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Không tình đã không giống,
Không tánh cũng không sanh.
Bài kệ này cô đọng nên có nhiều cách hiểu, mỗi người tùy theo trình độ hiểu theo một cách.
Có tình (hữu tình) cũng có nghĩa là hữu tình chúng sanh, là có tình thức, có nhận biết, có tâm. Có tình thức, đến gieo giống giác ngộ, cũng như có đất, gieo giống thì kết quả sẽ được thành tựu. Còn loài không tình tức loài vô tình như cây đá thì không có giống nên không gieo được, như không có căn tánh thì không sanh kết quả được.
Bài kệ cũng có ý nghĩa nữa, người có tình tức là có tâm, có đủ niềm tin, có căn tánh thích hợp. Có tình như vậy, đến gieo giống nhân đó thì quả giác sẽ thành tựu, nảy mầm sẽ kết thành quả. Ngược lại, người không có tình tức là không có tâm tin nhận, không gieo trồng căn lành với pháp, vậy là thiếu căn tánh thì kết quả bất thành.
Thế nên nói pháp phải biết căn cơ thích hợp mới được lợi ích lớn, không phải đụng đâu nói đó. Nhất là Thiền, gọi là Thiền đốn ngộ mà đụng đâu nói đó là nguy hiểm. Đi đâu, gặp người nào cũng nói Thiền tối thượng thừa, Thiền Tổ sư thì không có kết quả gì, đâu phải ai cũng nghe được, phải biết như vậy. Nhưng cũng có thể nói ngược lại, người có duyên lành nghe được pháp lành này mà có lòng tin, không sợ, không có nghi là đã có trồng sâu căn lành, thì càng củng cố niềm tin thêm để tiến bước.
Về sau, Lục Tổ cũng từng dặn dò hàng môn nhân: “Đời sau có người nhận được pháp của tôi, hãy đem pháp môn Đốn giáo này đối với người đồng kiến, đồng hạnh (là đồng chỗ thấy, đồng hạnh nguyện, chỗ tu hành), phát nguyện thọ trì như thờ Phật (tức có lòng kính nhận), nên trọn đời chẳng lui sụt, nhất định sắp vào Thánh vị. Song, cần phải truyền trao theo từ trước đến nay là thầm truyền trao phó, chẳng được ẩn giấu pháp ấy. Nếu người chẳng đồng kiến đồng hạnh ở trong pháp khác thì chẳng truyền trao, vì sẽ làm tổn đến người trước kia, rốt ráo không có ích gì. Sợ rằng người nghe chẳng hiểu mà chê bai pháp này thì trăm kiếp ngàn đời đoạn dứt hạt giống Phật”.
Lục Tổ dặn rõ, người phải đồng kiến đồng hạnh, nghĩa là có tâm tin nhận thích hợp thì truyền họ mới liền nhận. Người ở pháp khác không đủ lòng tin, nói ra họ nghe rồi sẽ chê bai không tin, sẽ đoạn mất hạt giống Phật, nên không nói thì hay hơn.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa loại bỏ những người này. Không có lòng tin thì như vô tình nhưng khi họ phát khởi lòng tin thì có tình vì họ đều có tâm, có tâm thì họ cũng có thể phát khởi lòng tin trở lại. Khi đó, họ cũng có thể nhận lấy pháp này chứ không phải hoàn toàn như cây đá. Người truyền pháp phải có cái nhìn thấu đáo như vậy.
Ngũ Tổ nói thêm:
- Xưa, Đại sư Đạt-ma mới đến cõi này, người chưa tin biết, vì vậy mới truyền y này để làm chỗ y cứ cho người tin. Còn pháp, đời đời truyền thừa nhau ắt lấy tâm truyền tâm đều khiến tự ngộ, tự hiểu. Từ xưa, Phật Phật chỉ truyền bản thể, thầy thầy thầm trao bản tâm, y là đầu mối để tranh giành, hãy dừng nơi ngươi chớ truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng sống như tơ mành. Ngươi hãy đi nhanh, e có người sẽ hại ngươi.
Nói về truyền y, Ngũ Tổ nói y chỉ là chỗ y cứ, là phương tiện để người có thêm lòng tin, làm Tổ không phải ở cái y. Còn pháp, là lấy tâm truyền tâm khiến người tự ngộ, tự hiểu. Chính chỗ tâm truyền mới là chỗ trọng yếu, đừng có lầm mà lo đi tranh giành cái y!
Bởi hoàn cảnh thời Tổ Bồ-đề Đạt-ma sang Trung Hoa truyền pháp. Thứ nhất, Tổ là người Ấn Độ, người được pháp là Tổ Huệ Khả - người Trung Hoa, thế nên khi truyền pháp phải có y làm tin để người biết đây là được Tổ truyền trao. Thứ hai, thời gian đầu ít người biết, có khi các Ngài sống trong rừng, trong núi, thầy trò thầm truyền cho nhau, người ngoài ít biết, nên phải có y đó để làm tin. Về sau nhiều người biết, không cần y người cũng biết ai được truyền pháp.
Nên đến đây, Ngũ Tổ bảo dừng việc truyền y, chỉ truyền pháp, quan trọng chỗ tâm tâm truyền nhau. Nhưng bản thể hay bản tâm đó có hình tướng gì mà truyền? Tuy nói truyền trao nhưng đó cũng là lối nói phương tiện, không phải có cái gì để truyền trao, cũng không có cái gì được mà nhận. Chỉ tâm thầy với tâm đệ tử khế hợp nhau gọi là truyền, không phải thầy có gì đem cho đệ tử.
Hơn nữa, chỗ tâm truyền vốn không có hình tướng gì nên không ai giành giật được. Thế nên không sợ bắt chước, không sợ học lóm, nếu bắt chước học lóm thì biết ngay là thứ giả vì đâu thấy được chỗ đó. Tất cả nắm vững, hiểu được mấu chốt đó. Nhưng người vì còn mê, không biết, nghe truyền y bát được làm Tổ thì tưởng làm Tổ ở cái y cái bát cho nên giành nhau y bát, chính đó là mê lầm, khổ nạn.
Năng thưa:
- Con sẽ đi đâu?
Tổ bảo:
- Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn.
Huệ Năng vào canh ba nhận lãnh y bát rồi thưa:
- Năng vốn là người vùng Lĩnh Nam, đã lâu chẳng biết rõ đường đi của núi này, làm sao ra được bến sông?
Ngũ Tổ bảo:
- Ngươi không phải lo, ta sẽ tự đưa ngươi đi.
Cái khó nữa, khi Lục Tổ nhận y bát, Ngài không biết phải đi đâu, và chỉ ở nhà sau giã gạo mấy tháng không đi đâu, nên giờ không biết đường đi ra khỏi núi, nên thưa: “Con là người vùng Lĩnh Nam, không biết rõ đường ra núi này thì làm sao ra được bến sông”. Ngũ Tổ bảo: “Ngươi không phải lo, ta sẽ đưa ngươi đi”. Mới thấy chân tình của Ngũ Tổ, tình cảnh của thầy trò lúc này thật cảm động.
Tổ đưa đến trạm Cửu Giang, bên trạm có chiếc thuyền, Ngũ Tổ cầm chèo tự chèo. Huệ Năng thưa:
- Thỉnh Hòa thượng ngồi, đệ tử nên chèo.
Ngũ Tổ bảo:
- Nên để ta độ ngươi.
Huệ Năng thưa:
- Khi mê thì thầy độ, ngộ rồi tự độ! Tuy cái tên độ là một mà chỗ dụng chẳng đồng. Huệ Năng sanh ở vùng biên địa xa xôi, giọng nói chẳng chính, được thầy trao pháp, nay đã được ngộ chỉ nên tự tánh tự độ.
Tổ bảo:
- Đúng thế! Đúng thế! Về sau Phật pháp sẽ do ngươi mà được truyền rộng. Ngươi đi ba năm ta sẽ qua đời. Nay ngươi hãy khéo đi, gắng sức về phương Nam, chẳng nên nói sớm, Phật pháp có nạn khởi.
Năng từ giã Tổ, cất bước đi về phương Nam, khoảng hai tháng thì đến ngọn Đại Dữu.
Ngay trong đêm, Ngũ Tổ đưa Lục Tổ đến trạm Cửu Giang. Cửu Giang hiện nay là huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây, bên bờ sông lớn. Trạm là nơi chuyển tiếp để truyền văn thư, ngày xưa dùng ngựa làm phương tiện đưa tin, đưa thư từ nơi này đến nơi kia. Khi đưa đến trạm, có thuyền sẵn bên bờ sông, Ngũ Tổ cầm chèo tự chèo, Lục Tổ nói: “Thỉnh Hòa thượng ngồi, đệ tử nên chèo”. Ngũ Tổ bảo: “Nên để ta độ ngươi”. Chữ độ đây có hai nghĩa: Độ là đưa qua sông, mà Độ cũng có nghĩa là cứu độ, độ thoát. Lục Tổ nhân đó mới thưa: “Khi mê nhờ thầy độ, ngộ rồi thì tự độ”. Độ này không có nghĩa đưa qua sông mà có nghĩa cứu độ.
Cho nên Lục Tổ nói: “Tuy tên độ là một mà chỗ dụng chẳng đồng, Huệ Năng sanh ở vùng biên địa xa xôi, giọng nói chẳng chính”. Ngài sanh ở vùng biên địa xa xôi, chữ Hán gọi là “Cát lạo”, chỉ cho người chưa có khai hóa, nói năng không chính, chữ độ nói lệch ra thành cứu độ. Mượn việc qua sông để nói lên chỗ sống nơi chính mình, không lệ thuộc bên ngoài, từ nơi tự tâm sáng tỏ mà bộc lộ ra. Tự tánh tự độ, là không ỷ lại, nương tựa bên ngoài, có đủ lòng tự tin nơi chính mình.
Ngũ Tổ nghe khẩu khí như vậy thì vui mừng, biết rằng gặp được bậc pháp khí có lợi ích lớn cho Phật pháp sau này. nên bảo: “Đúng thế! Đúng thế! Về sau Phật pháp sẽ do ngươi được truyền rộng”.
Ngũ Tổ cũng dặn dò thêm là không được nói pháp sớm vì Ngài biết trước sẽ có nạn, có nhiều người hại. Mới thấy rằng cái thấy của Ngũ Tổ rất sáng suốt, thấy cả tương lai, Ngài còn dự báo sau khi Lục Tổ đi, ba năm sau Ngài sẽ tịch.
Sau đó, Lục Tổ một mình đi về phương Nam, lúc này đi đơn độc một mình. Khoảng hai tháng đến ngọn Đại Dữu. Ngọn núi này, cũng gọi là ngọn Thai Lãnh là một trong Ngũ Lãnh. Chính nơi đây xảy ra chuyện giành y.
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày chẳng thượng đường, chúng mới nghi đến thăm hỏi:
- Hòa thượng có bệnh hoạn gì chăng?
Tổ bảo:
- Không có bệnh gì, chỉ y pháp đã về phương Nam rồi!
Chúng hỏi:
- Ai được truyền trao?
Tổ bảo:
- Năng thì được.
Bấy giờ, chúng mới biết chuyện.
Ngũ Tổ lại nói khéo, không nói dối mà nói lời hai nghĩa, nói: “Năng thì được”. Nghĩa là người có khả năng thì được, nhưng cũng chỉ cho Lục Tổ tên Năng. Nhưng sau đó chúng cũng biết (nghe Ngũ Tổ nói vậy, lại thấy Huệ Năng vắng bất ngờ nên biết được). Đoạn này có thể do người sau nghe kể lại nên thêm vào, vì khi đó Lục Tổ đã âm thầm một mình đi lánh nạn.
Mấy trăm người đuổi theo sau muốn đoạt y bát. Một vị tăng tên Trần Huệ Minh, trước kia là tướng quân tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, quyết lòng tìm kiếm, chạy trước mọi người, đuổi kịp Năng. Năng bỏ y bát trên tảng đá rồi nói:
- Y này là vật tiêu biểu để làm tin, có thể dùng sức để tranh sao?
Năng liền ẩn vào bụi cỏ rậm, Huệ Minh chạy đến kéo y bát lên chẳng nhúc nhích, mới gọi to:
- Hành giả! Hành giả! Tôi vì pháp mà đến, chẳng phải vì y mà đến.
Năng bèn bước ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh làm lễ, nói:
- Mong hành giả vì tôi mà nói pháp.
Huệ Năng bảo:
- Ông đã vì pháp mà đến, hãy dứt bặt các duyên, chớ sanh một niệm, tôi sẽ nói cho ông nghe.
Im lặng giây lâu, Huệ Năng bảo Minh:
- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì là mặt mày xưa nay của Thượng tọa Minh?
Huệ Minh ngay câu nói liền đại ngộ, rồi hỏi thêm:
- Ngoài lời mật, ý mật từ trước đến đây, còn có ý mật nào nữa chăng?
Năng bảo:
- Đã nói với ông thì tức là chẳng phải mật, nếu ông xoay ngược trở lại thì mật ở bên ông.
Minh mới nói:
- Huệ Minh tuy ở Hoàng Mai mà thật chưa tỉnh được mặt mày của chính mình. Nay được chỉ dạy, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Giờ đây hành giả chính là thầy của Huệ Minh vậy.
Năng bảo:
- Nếu ông như thế thì tôi cùng ông đồng thờ Hoàng Mai làm thầy, hãy khéo tự giữ gìn.
Minh hỏi thêm:
- Từ nay về sau Huệ Minh sẽ đi đâu?
Năng bảo:
- Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở.
Huệ Minh kính lễ rồi từ giã. Huệ Minh trở xuống, đến dưới núi, bảo với những người đuổi theo:
- Đã trèo lên chót vót, trọn không thấy dấu vết gì, thôi hãy tìm theo lối khác.
Mọi người đều cho là phải. Về sau, Huệ Minh đổi tên là Đạo Minh để tránh chữ trên của tên thầy.
Đúng như lời dự đoán của Ngũ Tổ, sau đó có mấy trăm người đuổi theo muốn đoạt y bát lại. Cho thấy rằng, tuy những vị này ở với Ngũ Tổ, học với Ngũ Tổ, tu với Ngũ Tổ nhưng chưa đủ lòng tin với Tổ, chỉ nghĩ theo cái nghĩ của mình, tức là nghĩ theo cái “ta vô minh” này. Cho nên không chấp nhận được việc làm của Ngũ Tổ, cùng nhau rượt theo đoạt y bát lại chứ không chịu thuận theo.
Những vị này nghĩ rằng, đáng lẽ Tổ truyền y bát cho Ngài Thần Tú thì đâu có chuyện gì, không biết Tổ nghĩ sao mà truyền y bát cho ông cư sĩ? Thành ra không chấp nhận được, rõ ràng chưa đủ lòng tin với Ngũ Tổ. Nếu đủ lòng tin thì biết Ngũ Tổ truyền là có ý của Ngũ Tổ, Ngài truyền cho người đáng được truyền, vậy đâu có chuyện gì.
Trong đó, có vị tăng tên Trần Huệ Minh trước khi đi tu là vị tướng võ nên có sức mạnh, chạy trước mọi người, đuổi kịp Lục Tổ. Lục Tổ để y bát trên đá rồi ẩn vào bụi cỏ rậm. Trần Huệ Minh chạy đến thấy y bát, kéo y bát lên không nhúc nhích. Chuyện này ngoài sức hiểu tầm thường, cũng ngoài cái sức hiểu của khoa học, y bát đâu thể nặng đến nỗi kéo không lên. Bây giờ nhiều người ỷ lại vào khoa học, nhưng khoa học cũng có giới hạn, có những cái khoa học không biết tới, nhưng khoa học không biết tới không phải là không có.
Huệ Minh biết rằng có sức mạnh đặc biệt nào đó ngoài sức tưởng tượng của con người. Ngay đó, ông chuyển ý trở lại, từ tâm ác muốn đoạt y bát, liền chuyển lại thành tâm thiện cầu pháp. Ông cũng còn có chủng tử tốt lành, ngay đó chuyển liền. Cũng để cho chúng ta thấy rằng, niệm thiện niệm ác cũng không cố định, không phải sẵn có trong tự tánh. Do đó chúng ta tu không phải quá mặc cảm, không phải quá sợ, người khéo liền chuyển niệm ác thành niệm thiện.
Huệ Minh gọi: “Hành giả! Hành giả! Tôi vì pháp đến, không phải vì y đến”. Gọi là hành giả vì Lục Tổ khi ấy chưa cạo tóc, còn hình thức cư sĩ. Lục Tổ mới bước ra, ngồi trên tảng đá. Huệ Minh đến làm lễ. Một ông tăng mà dám lễ ông cư sĩ, cho thấy rằng bấy giờ ông thực sự chuyển ý, đầy đủ lòng kính trọng, chân thành cầu pháp, vì pháp mà đến.
Lục Tổ bảo: “Ông đã vì pháp mà đến, hãy dứt bặt các duyên, chớ sanh một niệm, tôi sẽ nói cho ông nghe”. Đây là chỗ trọng yếu, cũng là bài học cho chúng ta học khi nghe pháp, học pháp. Trước khi nói pháp, Lục Tổ gạn lại để ông thật sự tĩnh tâm, không nghĩ ngợi lăng xăng, phải dứt bặt các duyên, chớ sanh một niệm. Nghĩa là muốn nghe pháp thì sao? Phải chuyên tâm, nhất ý, sẵn sàng để đón nhận, vậy mới nghe nhận được chỗ sâu xa của pháp. Tâm còn nghĩ lăng xăng thì làm sao nhận được pháp! Đó là kinh nghiệm cho người học pháp.
Lục Tổ im lặng giây lâu cho ông lắng lòng chú tâm trở lại, rồi bảo: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì là mặt mày xưa nay của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu đó, ông đại ngộ. Theo pháp sư Diễn Bồi, trong nguyên bản không có câu “Huệ Minh ngay câu nói liền đại ngộ”. Câu này do người sau thêm vào cho đủ nghĩa, hoặc câu này là lời chú thích về sau được nhập vào chánh văn, nguyên bản không có câu này.
Đây chính là tâm truyền tâm. Chỉ câu nói nhẹ mà ngay đó Huệ Minh đại ngộ. Bởi trước khi nói, Lục Tổ bảo ông phải dứt bặt các duyên, chớ sanh một niệm, ngay đó mới nhận được. Thường thường người học chỉ chú ý chỗ “chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác”. Mà quên mất chỗ trọng tâm là “Chính khi ấy, cái gì là mặt mày xưa nay?”. Cái đó vượt qua cả thiện ác. Đó là đem tâm truyền tâm. “Chính khi ấy”, “ngay chỗ đó”, ông thấy được tâm ông như vậy thì ông thấy được tâm tôi như vậy, khế hợp nhau. Điều quan trọng là tâm trò phải thật sự sẵn sàng, nếu thật đã sẵn sàng thì ngay đó liền bật ra, tâm trò khế hợp với tâm thầy! Chỗ này, ngôn ngữ không thể nói đến được, gọi là tâm truyền tâm.
Khi tỏ ngộ rồi, Ngài Huệ Minh hỏi thêm: “Ngoài ý mật, lời mật từ trước đến đây, còn có ý mật nào nữa hay không?” Ông nghĩ còn có bí mật nào nữa. Lục Tổ bảo rõ, đã nói với ông thì đâu còn mật! Nếu nói ra thì hết mật rồi. Nhưng chủ yếu là ông khéo soi trở lại nơi chính mình thì cái mật ở ngay chính ông, tức ngay đó ông sẽ tự mình thầm nhận lấy. Mới thấy rằng còn tình mê thì thấy giống như có gì bí mật, Tổ không nói ra hết. Khi tâm sáng rồi, ngộ rồi thì thấy rõ ràng, đơn giản, không có gì xa xôi.
Ngài Huệ Minh tự bày chỗ hiểu của mình, giống như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Mình nhận ra tự mình biết, khó nói cho người. Chỗ đó, ngôn ngữ không diễn bày hết được, ai đến thì tự biết. Thế nên chỗ này không bắt chước được, học giả không thể học đến. Phải là hành giả, thực hành mới thể nghiệm được, chứng nghiệm được trong đó.
Ngài Huệ Minh cảm kích, xin nhận Lục Tổ làm thầy. Lục Tổ khéo léo, khiêm tốn nói “Ông cùng tôi thờ Ngũ Tổ làm thầy”. Huệ Minh đi xuống núi, đánh lạc hướng những người chạy đuổi theo, Lục Tổ thoát nạn.
Về sau, Huệ Minh đổi tên là Đạo Minh, tránh chữ Huệ trùng tên của Lục Tổ là Huệ Năng, Ngài kính trọng Lục Tổ như kính trọng thầy. Rồi ông qua ở nơi đài Bố Thủy tại Lô Sơn, ở đây trải qua ba năm, ông đi đến trụ ở Mông Sơn thuộc Viên Châu, đúng như Lục Tổ dự ký “gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở”.
Đến đây, Lục Tổ thoát nạn bị người rượt đuổi theo giành y bát lại. Nhưng sau này Ngài cũng còn bị những người ác tìm theo hại nên phải ẩn tiếp 15 năm nữa.
Trong Tổ Đường Tập có đoạn ghi:
Ông Vi Trung Thừa (ông quan có học thiền), một hôm ông hỏi Ngài Ngưỡng Sơn:
- Ngũ Tổ vì sao lại phân phó y bát cho Huệ Năng mà chẳng phân phó cho Thần Tú? Sau khi đã phân phó, vì sao Huệ Minh lại từ nơi Ngũ Tổ đuổi theo đến ngọn Đại Dữu đoạt y bát kia? Rồi có ý gì chẳng được y mà quay về? Tôi từng hỏi chư Tăng trong thành, nhưng mỗi người nói mỗi khác, tôi thường nghi về việc này. Hòa thượng kế thừa có thầy, mong giải thích cho.
Tức ngay thời của Ngài Ngưỡng Sơn, việc này mỗi người giải thích có sai biệt. Ông Vi Trung Thừa nghe vậy thắc mắc, đem ra hỏi Ngài Ngưỡng Sơn.
Ngài Ngưỡng Sơn đáp:
- Đây là việc trong tông môn. Tôi từng ở chỗ tiên sư (chỗ Ngài Quy Sơn) có nghe nói: “Lúc ấy dưới Ngũ Tổ có 700 Tăng, Ngũ Tổ sắp thiên hóa (sắp tịch), Ngài muốn tìm người để truyền pháp và phân phó y bát. Trong chúng có vị Thượng tọa tên Thần Tú làm bài kệ trình Ngũ Tổ (bài kệ có chút ít sai biệt):
Thân là cây Bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn siêng lau chùi,
Chớ để có bụi bặm.
Sau đó, ở trong chỗ giã gạo, Lư hành giả (Ngài Huệ Năng họ Lư, khi ấy còn để tóc, chưa phải người xuất gia nên gọi Lư hành giả) nghe bài kệ này, bèn làm bài kệ trình lên Ngũ Tổ:
Bồ-đề vốn không cội,
Gương sáng chẳng phải đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào có bụi bặm?
Ngũ Tổ thấy bài kệ này, đồng thời Ngài cũng không nói gì. Đến trong đêm, Ngũ Tổ bảo một đồng tử đến chỗ giã gạo gọi hành giả đến (lâu nay trong kinh Pháp Bảo Đàn nói Ngũ Tổ tự đến chỗ giã gạo). Hành giả đi theo đồng tử đến chỗ Ngũ Tổ, Ngũ Tổ sau đó đuổi đồng tử đi, bèn đổi tên Lư hành giả là Huệ Năng (trong đây nói lúc này mới đổi tên thành Huệ Năng), trao y bát, truyền cho là Tổ đời thứ sáu. Ngũ Tổ nói với hành giả:
- Tú ở ngoài cửa, còn Năng thì được vào cửa, được ngồi mặc áo, về sau tự xem. Hai mươi năm chớ hoằng truyền giáo của ta, sẽ có nạn khởi. Sau khi qua khỏi thời gian này hãy khéo dẫn dạy cho người mê.
Huệ Năng hỏi:
- Phải đi nơi nào để tránh nạn?
Ngũ Tổ bảo:
- Gặp Hoài thì ẩn, gặp Hội thì tránh, đổi họ, đổi tên tức sẽ được an ổn.
Hành giả đã được phó chúc y bát, ngay nửa đêm liền ra đi hướng về Lãnh Nam. Sau năm ngày, Ngũ Tổ nhóm chúng bảo:
- Trong đây không có Phật pháp! (ngầm chỉ đã truyền pháp cho Lục Tổ)
Chúng Tăng hỏi Ngũ Tổ:
- Y bát phân phó cho người nào?
Ngũ Tổ bảo:
- Năng thì được.
Chúng Tăng bàn bạc với nhau về hành giả ở chỗ giã gạo (hành giả chỗ giã gạo đã vắng mặt, lại được đồng tử tiết lộ là Ngũ Tổ bảo dẫn hành giả lên phòng). Chúng Tăng biết Lư hành giả đem y bát về Lãnh Nam, chúng Tăng đuổi theo. Trong đó có vị tăng vốn từ quan là tướng quân tam phẩm tên Trần Huệ Minh đi vào đạo, vượt cả trong đêm đuổi theo đến ngọn Đại Dữu. Hành giả biết có người đuổi đến, bèn để y bát lại, vào trong rừng ngồi trên tảng đá để tránh. (ngày nay ở núi này còn viên đá tránh nạn gọi là Tỵ Nạn Thạch)
Huệ Minh đi lên ngọn núi, thấy y bát, tiến tới lấy tay kéo lên nhưng y bát không nhúc nhích, ông tự biết mình sức còn mỏng (đức còn mỏng). Ông đổi ý, bèn vào núi tìm hành giả. Trên núi cao, trong rừng, gặp hành giả ngồi trên tảng đá. Hành giả từ xa thấy Huệ Minh tới, mới bảo:
- Tổ của tôi phân phó y bát, tôi rất mực từ chối chẳng nhận, nhưng Tổ truyền. Tôi tuy đã đem đi nhưng hãy còn ở trên ngọn núi, Thượng tọa muốn cần thì xin mời hãy lấy đem đi!
Huệ Minh đáp:
- Tôi chẳng phải vì y bát đến mà vì pháp đến. Chẳng biết hành giả khi rời Ngũ Tổ có ý mật, lời mật gì, mong nói cho tôi được nghe!
Hành giả thấy ông tha thiết cầu nên bảo:
- Ông hãy ngồi ngay ngắn trên tảng đá, lặng hết những nghĩ ngợi.
Rồi bảo:
- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác! Chính khi chẳng sanh nghĩ ngợi như thế, hãy trả lại mặt mày của Thượng tọa Minh xưa nay xem!
Huệ Minh hỏi thêm:
- Từ trước, ý mật tức cái này phải chăng? Hay riêng còn có ý chỉ?
Hành giả bảo:
- Tôi hiện nay đã nói rõ cho ông rồi thì đã thành chẳng mật. Nếu ông tự nhận được mặt mày chính mình thì cái mật tức ở bên ông.
Huệ Minh nói với hành giả:
- Ngài ở bên thân Hòa thượng tại Hoàng Mai, ý chỉ lại thế nào?
Hành giả bảo:
- Hòa thượng xem tôi đối với kệ của Thượng tọa Tú liền biết ý vào cửa của tôi, liền ấn khả cho Huệ Năng mà bảo: “Tú ở ngoài cửa, còn Năng được vào cửa, được ngồi mặc áo về sau tự xem. Y, bát này từ trước đến nay trao truyền rất cần phải được người. Tôi nay trao cho ngươi, hãy gắng sức đem đi. Hai mươi năm chớ có hoằng truyền giáo của tôi, sẽ có nạn khởi. Sau khi qua khỏi thời gian này rồi, hãy khéo dẫn dạy cho người mê”. Huệ Năng hỏi: “Sẽ ở nơi nào có thể tránh nạn?”. Ngũ Tổ bảo: “Gặp Hoài thì ẩn, gặp Hội thì trốn. Đổi họ đổi tên sẽ được an ổn”.
Huệ Minh nói:
- Bấy giờ Huệ Minh tuy ở Hoàng Mai được cạo tóc, mà thật chẳng rõ biết mặt mày của Thiền Tông, nay nhờ được chỉ cho chỗ vào, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Từ nay về sau, hành giả tức là thầy của Huệ Minh, giờ đây xin đổi hiệu là Đạo Minh.
Hành giả nói:
- Ông nếu như thế, tôi cũng như thế, cùng ông đồng thờ Hoàng Mai làm thầy chẳng khác, hãy khéo tự giữ gìn.
Đạo Minh thưa:
- Hòa thượng hãy đi nhanh về phương Nam, ở phía sau có rất nhiều người đuổi theo Hòa thượng, đợi Đạo Minh tạm chỉ cho họ quay lại. Nay xin kính lễ từ giã Hòa thượng, sẽ đi về phương Bắc.
Đạo Minh ở trên núi chia tay xong, bèn tiến bước đi về phương Bắc. Đến Kiền Châu, quả nhiên ông gặp hơn 50 vị tăng đuổi đến tìm Lư hành giả. Đạo Minh nói với họ:
- Tôi ở trên ngọn Đại Dữu thuộc trấn Hoài Hóa năm sáu ngày đợi xem, tìm hỏi những nơi trọng yếu qua lại, đều chẳng thấy bóng dáng người này đi qua.
Mọi người lại đi về phương Bắc tìm kiếm, và nói: “Người ấy đã đeo đá giã gạo, lưng có bị tổn thương, trên đường đi e cũng gặp khó khăn”.
Sau khi chia tay với mọi người, Đạo Minh một mình đi qua Bố Thủy Đài ở Lô Sơn. Trải qua ba năm, lại trở về Mông Sơn tu hành. Sau này có đồ đệ, thảy đều chỉ dạy đến Lĩnh Nam lễ bái chỗ Lục Tổ. Đến nay, linh tháp ở Mông Sơn vẫn còn.