Sau đó, Năng đến Tào Khê lại bị người ác đuổi tìm, bèn tránh nạn ở Tứ Hội, lẫn ở trong đám thợ săn cả thảy 15 năm. Lúc đó, tùy nghi thuyết pháp cho thợ săn nghe. Thợ săn thường sai Năng giữ lưới, mỗi khi gặp con vật mắc lưới trọn đều thả hết. Đến giờ cơm thì lấy rau gởi luộc trong nồi thịt, có ai hỏi thì đáp:
- Chỉ ăn rau bên thịt.
Khi Ngài Huệ Minh xuống núi đánh lạc hướng nhóm người đuổi theo, Lục Tổ đi đến Tào Khê, lại bị một số người ác đuổi tìm nên phải ẩn tránh nơi huyện Tứ Hội (thuộc tỉnh Quảng Đông). Lúc này, Ngài sống chung trong nhóm thợ săn để không ai chú ý đến. Ngài cũng phương tiện thuyết pháp cho họ, thợ săn sai Ngài giữ lưới, Ngài thả hết những con vật mắc lưới, ăn uống cũng phải tùy phương tiện, tức ăn rau bên thịt. Đây là trường hợp bất đắc dĩ, tùy duyên nhưng không vướng mắc. Thời gian này là thời gian ẩn náu lánh nạn bặt tin tức ở bên ngoài.
Một hôm, Năng mới suy nghĩ: “Đã đến thời hoằng pháp, chẳng thể ẩn mãi”, bèn ra chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp Pháp sư Ấn Tông giảng kinh Niết Bàn. Lúc đó gió thổi phướn động, một vị tăng bảo:
- Gió động.
Một vị khác bảo:
- Phướn động.
Cứ bàn mãi không thôi. Năng tiến lên nói:
- Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà tâm của Ngài động.
Cả chúng kinh hãi, Ấn Tông mời lên trên, gạn hỏi nghĩa sâu xa. Thấy Năng lời lẽ giản dị, lý lại xác đáng, không theo văn tự, Ấn Tông nói:
- Hành giả nhất định chẳng phải người thường. Từ lâu đã nghe y pháp của Hoàng Mai về phương Nam, phải là hành giả chăng?
Năng nói:
- Chẳng dám!
Khi đó Ấn Tông làm lễ, xin đem y bát ra chỉ cho đại chúng xem.
Qua thời gian lánh nạn ẩn náu, Tổ thấy thời cơ hoằng pháp đã đến bèn đi ra, đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu. Lúc này gặp Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn, rồi có câu chuyện gió động và phướn động, nhân đó mà lộ tung tích.
Ngài Ấn Tông ở huyện Ngô thuộc Giang Tô. Khoảng năm đầu niên hiệu Hàm Hanh đời Đường, Sư đến kinh sư, được sắc ở chùa Đại Kính Ái nhưng Sư cố từ chối. Sư đến Kỳ Châu gặp Tổ Hoằng Nhẫn, sau đó đến ở chùa Pháp Tánh trong thành Quảng Châu.
Khi này, Pháp sư Ấn Tông giảng kinh Niết Bàn, trong hội giảng kinh nên bên ngoài có treo phướn. Nhân gió thổi, lá phướn bay phất phới. Hai vị tăng tranh luận, một vị bảo phướn động, một vị bảo gió động. Cứ thế, tranh luận không ra lẽ, bởi vì sao? Cả hai vị tăng đều chỉ thấy một bên.
Lục Tổ khi đó còn hình thức cư sĩ, thấy hai vị tăng luận mãi không ra lẽ nên xin đóng góp ý kiến. Ngài nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, chính tâm của Ngài động”. Chỉ câu nói đơn giản như thế thốt ra mà mọi người có mặt khi đó đều kinh ngạc vì thấy câu trả lời đặc biệt, chí lý. Không ngờ một ông cư sĩ nói ra lời đạo lý hay như thế, nên vào thuật lại với Ngài Ấn Tông. Ngài Ấn Tông mời lên phía trên tức tỏ vẻ trân trọng, gạn hỏi những ý nghĩa sâu xa của Phật pháp. Lục Tổ đối đáp lời lẽ xác đáng, nhưng bình dị, không kẹt về hình thức chữ nghĩa. Ngài Ấn Tông biết vị này có chỗ sáng tỏ từ nội tâm nói ra. Bởi Ngài Ấn Tông cũng đã từng gặp Ngũ Tổ, cho nên nghĩ rằng đây phải là người trong cửa Tổ mới được vậy, mà lâu nay nghe nói y bát về phương Nam, có lẽ là vị này. Ngài nghi như vậy nên gạn hỏi: “Hành giả nhất định không phải người thường, từ lâu nghe y pháp của Hoàng Mai về phương Nam, phải là hành giả chăng?” Lục Tổ bảo: “Chẳng dám!”, nghĩa là ngầm nhận, nói lời khiêm tốn.
Vì sao chỉ có một câu nói đơn giản “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm nhân giả động” mà làm mọi người kinh ngạc, rồi Ngài Ấn Tông cũng thấy được mới mời lên.
Nói theo nhà Thiền thì hai vị tăng này quên mình theo vật, duyên theo tướng bên ngoài, theo tướng gió, theo tướng phướn, tức duyên theo trần, rồi mất mình lúc nào không hay. Phải thấy được lỗi đó, chỉ thấy một bên hoặc gió hoặc phướn mà quên mất chính mình, cứ bàn luận theo trần. Nhưng gió, phướn có biết động không? Nó là vật vô tri, đâu có biết động biết tịnh, nói nó động thì nó không cãi, nói nó tịnh nó cũng không cãi. Nếu thấy trở lại tâm thì hết tranh luận. Nói cho rõ, động là ở nơi tâm. Do không thấy được cái gốc nên tranh mãi. Người nói được như vậy, thấy được ý sâu xa trong đó thì đâu phải tầm thường.
Tuy nhiên, người ngày nay đọc kinh Pháp Bảo Đàn nhiều, rồi theo đó mà cũng nói là tâm ông động, nhưng nói đó chỉ là nói theo, bắt chước theo Lục Tổ nói lại chứ chưa phải thật sự chính mình thấy như vậy. Chỗ này, nhiều người vẫn còn mắc kẹt. Học kinh Pháp Bảo Đàn rồi nói cho hay nhưng cũng thuộc về kiến giải suông.
Như câu chuyện ni sư tên Diệu Tín là đệ tử Thiền sư Ngưỡng Sơn - Huệ Tịch. Nhân vị tri khách trong viện nghỉ việc, Ngài Ngưỡng Sơn sai ni sư Diệu Tín đảm trách tri khách để tiếp đãi khách. Một hôm, có 17 vị tăng hành cước từ Tứ Xuyên đến viện định gặp Thiền sư Ngưỡng Sơn hỏi đạo, nhưng chưa được gặp. Về chiều có thời gian rảnh, những vị tăng hành cước thảo luận về Phật pháp, nói một lúc, lại nói đến chuyện gió động phướn động. Nhưng luận mãi không ra lý, trở thành tranh cãi ồn ào.
Ni sư Diệu Tín nghe vậy, liền lớn tiếng quở:
- Mười bảy vị ở ngoài cửa, sáng mai ra đi phải tính tiền phòng cho tôi rõ ràng.
Những vị tăng hành cước thấy ni sư nói có vẻ nghiêm túc, im lặng nhìn nhau, chưa biết phải làm thế nào. Ni Diệu Tín nói tiếp:
- Các vị chẳng cần phải tranh cãi nữa, các vị hãy đến trước tôi, tôi sẽ vì nói.
Mười bảy vị tăng đến trước ni Diệu Tín. Ni sư nói:
- Đã chẳng phải là gió động, cũng chẳng phải là phướn động thì đâu thể cho là tâm động!
Cả mười bảy vị tăng nghe qua chợt sáng tỏ ý này, tâm cởi mở, cùng nhau bàn:
- Không cần phải đợi gặp Thiền sư Ngưỡng Sơn thượng đường khai pháp để hỏi gì nữa.
Ngày sau, họ bèn cáo biệt ra đi.
Những vị tăng này dùng thời gian rảnh rang bàn Phật pháp cũng là hay, có nhiều vị rảnh rang chỉ bàn chuyện tạp nhạp. Ngài Quy Sơn từng quở: “Tụm đầu bàn nói lăng xăng, toàn những chuyện tạp nhạp thế gian”. Ở đây, đề tài bàn luận về việc phướn động gió động nhưng giải quyết không xong.
Ni sư Diệu Tín đánh thức trở lại, gợi ý cho những vị tăng đi sâu vào vấn đề: Đã chẳng thành gió động, chẳng thành phướn động, vậy tâm nhân đâu mà động! Tâm động phải có cảnh động, cảnh không động làm sao tâm động được! Ni sư này sáng tỏ được chính mình không phải bắt chước nói theo, vậy mới là thật thấy, không phải theo lời mà sanh hiểu.
Ngày nay, nhiều người nghe rồi bắt chước nói: Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà tâm động. Nói như vậy nhưng không thật sự hiểu, không thấy được ý đó; chỉ nói theo một chiều tâm động mà không có cái thấy của chính mình, tức là gió không thành động, phướn không thành động, tâm bám vào chỗ nào để thành động. Thấy sâu đến như vậy mới thấy thấu vấn đề.
Trước, Lục Tổ vì cảnh tỉnh cho hai vị tăng nên nói do tâm động. Chúng ta phải thấy sâu vấn đề một cách đầy đủ chứ không phải bắt chước nói theo. Học thiền là không phải nhái lại, không phải nhai đi nhai lại lời đó mãi, gọi là chạy theo đuôi, mà phải tự mình mở sáng chỗ thấy chân thật nơi chính mình. Đó là bài học để ngăn ngừa người sau bắt chước nói theo.
Ấn Tông hỏi thêm:
- Hoàng Mai phó chúc, truyền dạy thế nào?
Năng đáp:
- Không có gì truyền dạy, chỉ luận về kiến tánh, chẳng bàn thiền định giải thoát.
Ấn Tông hỏi:
- Sao chẳng luận thiền định giải thoát?
Năng đáp:
- Vì đó là pháp có hai, chẳng phải Phật pháp, Phật pháp là pháp chẳng hai.
Ấn Tông lại hỏi thêm:
- Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai?
Năng đáp:
- Pháp sư giảng kinh Niết Bàn thì đã rõ Phật tánh là pháp chẳng hai của Phật pháp. Như Bồ-tát Cao Quý Đức Vương ở trong kinh Niết Bàn bạch Phật: “Người phạm bốn giới trọng, tạo tội ngũ nghịch và Nhất-xiển-đề sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng?”. Phật bảo: “Thiện căn có hai: Một là thường, hai là vô thường. Còn Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, đó gọi là chẳng hai. Một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, đó gọi là chẳng hai. Uẩn và giới phàm phu thấy là hai, người trí rõ suốt tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh”.
Ấn Tông nghe nói, vui mừng chắp tay thưa:
- Tôi giảng kinh giống như ngói gạch, Ngài luận nghĩa ví tợ vàng ròng.
Ngài Ấn Tông hỏi về phó chúc, truyền dạy của Ngũ Tổ, Lục Tổ đáp không có truyền dạy gì khác, chỉ luận về kiến tánh, không bàn thiền định giải thoát. Người mới nghe qua sẽ thấy lạ, nên Ngài Ấn Tông hỏi: “Sao chẳng luận thiền định giải thoát?”. Lục Tổ đáp rõ: “Vì đó là pháp có hai, chẳng phải Phật pháp, Phật pháp là pháp chẳng hai”. Chỗ này ý sâu xa hơn, Lục Tổ trả lời thẳng thắn, không theo chữ nghĩa, không theo sự học bên ngoài.
Theo bên ngoài thì nói về thiền định, giải thoát. Lục Tổ ở đây nói thẳng không có pháp từ bên ngoài để được, chỉ nói kiến tánh, đánh thức cho người sáng tỏ trở lại tự tánh chính mình. Không bàn về thiền định giải thoát, không đi theo kiến giải phân biệt trên chữ nghĩa. Bàn thiền định giải thoát cũng là bàn trên chữ nghĩa, không thật sự giải thoát.
Tổ nói rõ thiền định giải thoát cũng là pháp có hai, mà có hai tức pháp phân biệt đối đãi. Đây là thiền định, kia là trí tuệ, đây đối với kia, đó là pháp đối đãi, là pháp phương tiện, chưa phải Phật pháp thật. Phật pháp thật phải vượt qua phân biệt đối đãi, nên nói là pháp chẳng hai.
Chẳng hai thì lấy gì phân biệt? Đây Lục Tổ dẫn kinh Niết Bàn. Tại sao Lục Tổ không biết chữ mà biết dẫn kinh Niết Bàn?
Trong một đoạn về nhân duyên, có dẫn: Khi Tổ tránh nạn ở chỗ bà ni Vô Tận Tạng, bà tụng kinh Niết Bàn. Tổ nghe qua liền biết được diệu nghĩa, vì bà ni giải nói. Bà ni cầm quyển kinh hỏi chữ.
Tổ bảo:
- Chữ thì không biết, nghĩa tức mời hỏi.
Bà nói:
- Chữ còn không biết, sao có thể hiểu nghĩa?
Tổ nói:
- Diệu lý của chư Phật không nằm trong chữ nghĩa.
Rồi bà ni đọc kinh, Tổ nghe rồi giải thích nghĩa.
Do vậy, Tổ biết mà dẫn kinh Niết Bàn.
Bồ-tát Cao Quý Đức Vương bạch Phật: “Người phạm bốn giới trọng, tạo tội ngũ nghịch và Nhất-xiển-đề sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng?” Giới trọng là giới nặng như sát sanh, trộm cướp v.v... Tội ngũ nghịch là tội cực ác, giết cha, giết mẹ v.v... Nhất-xiển-đề là người đánh mất thiện căn, không tin nhân quả, bài bác nhân quả. Bồ-tát hỏi những người này có đoạn mất thiện căn Phật tánh hay không?
Phật không nói có hay không có, Ngài nói rõ: “Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường. Còn Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, đó gọi là chẳng hai”. Phật tánh không nằm trong đối đãi của thường, vô thường thì làm sao đoạn?
“Một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, đó gọi là chẳng hai”. Thiện, bất thiện là hai, tức đối đãi nhau, còn Phật tánh vượt qua thiện ác.
“Uẩn và giới phàm phu thấy là hai, người trí rõ suốt tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh”. Uẩn là ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Giới là 18 giới: sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp; nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Nếu nhìn theo cái thấy phân biệt thì 18 giới khác với ngũ uẩn, tức là có hai. Nhưng có hai là do nhìn trên hình tướng, phân biệt trên tướng nên có sai biệt. Thấy hai tức có sanh diệt, đó là cái thấy phàm phu.
Người trí thấy suốt, uẩn hay giới đều là tánh không, không có thật tánh, tức không rời ngoài thể giác riêng có, cho nên thấu suốt uẩn và giới vốn không có hai thể, không có hai tánh, đó là trở về Phật tánh không hai, không bị uẩn giới làm che ngại. Ngộ được Phật tánh thì suốt qua cả uẩn và giới, tức lìa cái thấy phân biệt đối đãi hai bên. Chúng ta còn bị ngại bởi thấy có hai, thấy có hai thì không thấy Phật tánh.
Trong Thiền Tông, các Thiền sư thường phá cái chấp suy nghĩ phân biệt, đối đãi hai bên. Nếu muốn gạn xem người thật ngộ hay không, Thiền sư thường đưa ra cái bẫy hai bên. Người mắc kẹt hai bên thì biết chưa phải thật ngộ.
Thí dụ hỏi cái này phải hay không phải? Trả lời phải, không phải đều rơi vào hai bên, phải cũng không được mà không phải cũng không được. Như Ngài Địa Tạng - Quế Sâm gạn Ngài Pháp Nhãn - Văn Ích.
Ngài Quế Sâm hỏi:
- Bình thường Thượng tọa nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, vậy phiến đá dưới sân này, là ở trong tâm hay ở ngoài tâm?
Ngài Văn Ích thưa:
- Ở trong tâm.
Ngài Quế Sâm bảo:
- Người hành khước mắc cớ gì lại để phiến đá trên đầu tâm?
Ngài Văn Ích không có lời để đáp.
Ngài Quế Sâm dẫn trong luận Duy Thức nói “tam giới duy tâm”, hoặc Triệu Luận của Ngài Tăng Triệu nói: “Trời đất cùng ta đồng nguồn”. Như vậy, trời đất cùng ta đồng nguồn, tam giới cũng đều là duy tâm không ngoài tâm mà riêng có, vậy thì tảng đá hay bình hoa này là ở trong tâm hay ngoài tâm? Đây là cái bẫy trong-ngoài.
Ngài Văn Ích nói: “Trong tâm”. Ngay đó rơi bẫy, tức là mắc kẹt trong-ngoài. Nếu thấy vượt qua cả trong-ngoài mới là thật thấy.
Thế nên Lục Tổ nói Phật pháp là chẳng hai, còn thấy có hai chưa phải là Phật pháp thật. Nếu có, đó là Phật pháp gì? Phật pháp chữ nghĩa, Phật pháp trên văn tự. Ngài Ấn Tông nghe đến đây, liền chắp tay tán thán: “Tôi giảng kinh giống như ngói gạch, Ngài luận nghĩa ví tợ vàng ròng”.
Sau đó, Ấn Tông cạo tóc cho Năng, nguyện thờ làm thầy. Năng bèn ở dưới cội Bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn.
Đến đây Lục Tổ mới cạo tóc, thọ giới làm Tăng, đầy đủ hình nghi của một người xuất gia. Trước giờ vẫn còn hình thức của người cư sĩ, nên gọi là hành giả. Phần cạo tóc xuất gia và thọ giới, như phần nhân duyên ở trước đã nói: Lễ xuất gia cạo tóc vào ngày rằm tháng giêng năm Bính Tý (676). Lễ truyền giới Cụ túc vào ngày mùng 8 tháng 2 cùng năm, Luật sư Trí Quang ở Tây Kinh làm thầy truyền giới. Giới đàn này cũng đặc biệt, do Ngài Tam Tạng Cầu-na-bạt-đà-la sáng lập vào thời Lưu Tống (khoảng 420-497). Khi lập giới đàn này, Ngài Cầu-na-bạt-đà-la có dự ký “Sau này có nhục thân Bồ-tát được trao giới ở đây”. Việc Lục Tổ thọ giới ở đây đã được dự ký vài trăm năm trước.
Nơi đây có cội Bồ-đề do Ngài Tam Tạng Trí Dược thời Tiêu Lương (502) từ Tây Trúc đem sang trồng. Ngài cũng dự ký “Khoảng 170 năm sau sẽ có nhục thân Bồ-tát ở dưới cây này diễn bày pháp Thượng thừa độ vô lượng chúng”. Hiện nay phía sau chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu còn tháp thờ tóc của Lục Tổ. Phía sau tháp tóc vẫn còn di tích cây Bồ-đề.
Tư liệu khác có ghi: “Vào năm Gia Khánh thứ hai (1797), vào đêm 25 tháng 6 có trận bão lớn thổi ngã cây Bồ-đề. Ông Trung thừa Trần Đại Văn sai người bồi đắp giữ lại, nhưng trải qua hơn một năm thì khô héo (Vậy cây Bồ-đề chính gốc ở đó đã chết). Vị tăng trong chùa là Kiều Am và Ly Tướng đồng đến chùa Nam Hoa thỉnh một nhánh nhỏ đem về trồng lại trên nền đất cũ” (cây Bồ-đề ngày nay là cây được trồng lại). Lục Tổ ở cội Bồ-đề này khai diễn pháp môn Đông Sơn của Ngũ Tổ để truyền dạy cho người. Từ đây, Tổ mới ra giáo hóa. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn và Tứ Tổ Đạo Tín đều ở Đông Sơn, nên gọi là pháp môn Đông Sơn.
Về sau, Lục Tổ từ chùa Pháp Tánh đi về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê. Khi Lục Tổ từ chùa Pháp Tánh đi về chùa Bảo Lâm, có chỗ ghi thêm: “Lục Tổ từng trụ qua nơi chùa Pháp Tuyền, chùa Quảng Quả một thời gian ngắn, sau mới đến trụ ở chùa Bảo Lâm”.
Năng từ khi đắc pháp ở Đông Sơn, chịu hết mọi sự gian nan khổ nhọc, mạng như tơ mành. Hôm nay được cùng Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, xuất gia, tại gia đồng tụ hội nơi đây, phải đã có nhân duyên nhiều kiếp, cũng như trong đời quá khứ từng cúng dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành, mới được cái nhân nghe pháp Đốn giáo như trên. Giáo là do bậc Thánh từ trước đã truyền, chẳng phải từ trí riêng của Huệ Năng. Nguyện cho người nghe giáo của bậc Thánh trước, khiến mỗi người được lòng thanh tịnh, nghe xong đều tự trừ hết nghi ngờ, giống như bậc Thánh đời trước không khác.
Lục Tổ nói với tất cả hội chúng trong chùa Đại Phạm. Tổ nhớ lại thời gian từ khi đắc pháp ở Ngũ Tổ, được truyền y bát, cho đến khi cạo tóc xuất gia, được gặp gỡ tứ chúng truyền bá Phật pháp, trải qua biết bao nhiêu gian nan, khổ nhọc, hiểm nguy, mạng như tơ mành, bị người đuổi theo hại, bị phóng hỏa, có lúc phải lánh nạn, cái chết cận kề, nhưng rồi Tổ cũng vượt qua tất cả. Tổ nói hôm nay được cùng tất cả tụ hội ở đạo tràng này là do nhờ có duyên lành nhiều đời với nhau được trồng căn lành với chư Phật, cho nên được nghe pháp Đốn giáo này. Pháp Đốn giáo là giáo lý chỉ thẳng tắt cho người được chóng giác ngộ. Đây không phải chuyện tầm thường, dễ dàng, nói như vậy để tất cả vững niềm tin tiến tu.
Đồng thời Lục Tổ cũng nói rõ, pháp này vốn từ chư Thánh từ trước truyền lại chứ không phải là ý riêng Ngài, không phải tự Ngài đặt ra, mọi người không phải nghi ngờ. Tổ cũng mong tất cả biết được những nhân duyên đó, rồi hết lòng lắng nghe và tin nhận để cùng cảm thông với chư Thánh từ trước. Nói vậy nhằm nhắc cho tất cả phải hết lòng chú tâm lắng nghe kỹ.
Sư lại bảo chúng:
- Này thiện tri thức! Trí Bồ-đề Bát-nhã, người đời vốn tự sẵn có, chỉ vì tâm mê chẳng thể tự ngộ, phải nhờ bậc đại thiện tri thức chỉ dẫn cho thấy tánh. Phải biết, người ngu người trí, Phật tánh vốn không sai khác, chỉ vì mê ngộ chẳng đồng, do đó có ngu, có trí. Nay tôi sẽ nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông mỗi người nhận được trí tuệ. Hãy hết lòng lắng nghe, tôi sẽ vì các ông mà nói.
Đây là phần rất trọng yếu trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ giảng về Bát-nhã. Bát-nhã là trí tuệ, con đường chư Tổ đang đi và đang chỉ dạy cho mọi người. Chúng ta tu quan trọng phải mở sáng trí Bát-nhã.
Lục Tổ dạy khác hơn những người thường dạy. Thứ nhất, Tổ không biết chữ, nên Ngài dạy không nặng về chữ nghĩa. Thứ hai, Tổ đã tỏ ngộ tự tánh rõ ràng, những điều Ngài nói là từ chỗ chứng ngộ của Ngài, từ tâm sáng suốt của Ngài, không phải nói trên văn tự hoặc suy luận phân tích chữ nghĩa. Thế nên chỗ Ngài nói ra rất đặc biệt, dễ đi vào tâm người.
Bồ-đề là giác, Bát-nhã là trí tuệ. Nói trí Bồ-đề Bát-nhã để cho mọi người phân biệt không lầm với trí tuệ thông thường của người thế gian. Bát-nhã cũng là trí tuệ, nhưng nói trí tuệ thì người dễ lầm. Người thế gian thông minh cũng nói là trí tuệ, nhưng trí tuệ đó không phải Bát-nhã. Cho nên nói rõ trí Bồ-đề Bát-nhã, tức trí tuệ giác ngộ.
Tổ nói rõ: “Trí Bồ-đề Bát-nhã người đời vốn tự sẵn có”. Không phải cầu bên ngoài, cũng không phải do tu hành mới được. Trí Bồ-đề cũng không phải từ nơi chữ nghĩa phân tích mà thành. Chính vì vậy, Lục Tổ không biết chữ vẫn tỏ ngộ. Đó là chỗ đặc biệt Ngài muốn nhắc cho tất cả.
Trí này có sẵn ở đâu? Ở ngay trong tự tâm của mỗi người chứ không thể tìm đâu khác. Vì người đời tự mê, có mà không nhận biết thành ra có cũng như không, không dùng được, do đó phải chạy đi tìm thầy cầu chỉ dạy cho. Nhưng muốn cầu vị thầy chỉ cho chúng ta thấy được thì vị thầy cũng phải thấy, phải tự Ngài sáng tỏ mới chỉ rõ cho chúng ta được. Thầy chưa sáng mà chỉ cho chúng ta thì cũng đoán mò với nhau thôi. Thầy đã sáng, chính từ cái sáng đó chỉ dạy thì trực tiếp hơn. Cho nên phải là bậc thầy đã thấy tánh chỉ dạy mới đúng chỗ, xác thực, giúp người tự nhận lại, tự thấy tánh sáng suốt sẵn có nơi chính mình, không phải chỉ quanh co trên chữ nghĩa khiến người lầm thêm. Một lời của bậc thầy đã sáng nói ra, người nghe đỡ tốn công mười hoặc hai mươi năm. Thay vì chúng ta mày mò mãi trong mười hay hai mươi năm, vị thầy đã trải qua mấy mươi năm đó rồi chỉ lại thì chúng ta đỡ tốn công rất nhiều.
Tánh sáng suốt sẵn có hay gọi là Phật tánh đó vốn không hai, không phân ngu-trí, người ngu người trí Phật tánh cũng đồng như nhau, không có đây kia sai khác, chỉ vì người ngu lầm mê không nhận ra, người trí khéo biết nhận ra, khác ở chỗ đó. Nếu người ngu nhận ra thì hết ngu thành trí, tức cái ngu đó cũng là tạm thời. Như vậy, người đã tỏ ngộ cái thấy như nhau, thông cảm nhau, trong nhà Thiền gọi là thầy trò tâm tâm in nhau, ấn nhau, không hai không khác. Nói đây để tất cả hiểu, không bị cái tên mê-ngộ, ngu-trí làm ngăn cách.
Tổ nói: “Nay tôi sẽ nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông mỗi người nhận được trí tuệ. Hãy hết lòng lắng nghe, tôi sẽ vì các ông nói”. Trước khi giảng về Bát-nhã, Lục Tổ nhắc trước mỗi người phải tự soi lại chính mình để nhận ra trí tánh sáng suốt sẵn có, đó mới gọi là thật học. Chưa được như vậy thì dù sự học cao siêu đến mấy cũng gọi là tương tợ học, chưa phải thật học. Nói “không ngoài tâm mà riêng có” là như vậy.
Ngài Hy Thiên - Thạch Đầu đến học với Lục Tổ cũng là lúc Tổ sắp tịch. Khi Lục Tổ tịch, Ngài vẫn chưa tỏ ngộ, sau đó đến tham vấn với Ngài Thanh Nguyên - Hành Tư là đệ tử nối pháp của Lục Tổ.
Thiền sư Hành Tư hỏi:
- Ông từ phương nào đến?
Hy Thiên thưa:
- Từ Tào Khê đến (từ nơi Lục Tổ).
Ngài Hành Tư hỏi:
- Đem được cái gì đến?
Sư thưa:
- Khi chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.
Ngài Hành Tư gạn lại:
- Nếu thế ấy, sao chẳng dùng đi, đến Tào Khê làm gì?
Hy Thiên thưa:
- Nếu không đến Tào Khê thì đâu biết chẳng mất.
Câu hỏi: “Đem được cái gì đến?” là ngầm dò xem ông này có sáng hay không? Có thấy tánh hay chưa? Người bình thường sẽ nói đem được cái y, cái bát hay vật gì đó. Nhưng Thiền sư không hỏi chuyện đó. Ngài Hy Thiên thầm hiểu được nên thưa: “Khi chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất”.
Nhiều người học lâu cũng nhớ, hoặc người ý thức lanh lợi cũng nói được câu này. Như mọi người học ở đây, ghi nhớ lại, khi nói chuyện với nhau cũng nói được. Cho nên Ngài Hành Tư gạn lại sâu hơn: “Nếu thế ấy, sao chẳng dùng đi, đến Tào Khê làm gì?” Ông biết không đến Tào Khê cũng chẳng mất thì đến Tào Khê làm gì? Người học lóm, thiền ở trên miệng có lẽ nói theo kiểu này. Bởi nó sẵn có, không đến Tào Khê cũng chẳng mất thì đến làm gì cho mất công, đó là thiền bắn bổng. Ở đây, Ngài Hy Thiên thưa rõ: “Nếu không đến Tào Khê thì đâu biết chẳng mất”. Tuy nó sẵn, không mất, nhưng nếu không đến Tào Khê để được Lục Tổ khai thị thì đâu biết được, nhờ thầy chỉ cho mới biết. Nhưng không phải nhờ thầy mới có được, mà thầy chỉ cho biết cái của chính mình vốn sẵn có vậy thôi. Rất đầy đủ ý nghĩa, có sự có lý. Cho thấy, đến tham học với thiện tri thức là để nhận ra cái chẳng mất nơi mình chứ không phải có thêm cái gì khác. Lục Tổ dạy tiếp:
Này thiện tri thức! Người đời trọn ngày miệng niệm Bát-nhã mà chẳng biết tự tánh Bát-nhã. Giống như nói ăn mà chẳng no, miệng chỉ nói “không”, muôn kiếp chẳng được thấy tánh, trọn không có ích gì.
Tổ chỉ rõ ra và cũng để quở trách người chỉ tu Bát-nhã trên miệng. Bát-nhã không ở nơi miệng niệm, miệng niệm mà tâm chẳng sáng thì chẳng biết Bát-nhã thật nơi chính mình, chỉ thấy văn tự chữ nghĩa. Ngày nay, nhiều người niệm Bát-nhã như thế, niệm mãi mà không thấy Bát-nhã.
Cho nên Ngài nói: “Giống như nói ăn mà chẳng no”. Như người kể toa thuốc, khen vị thuốc này tốt, vị thuốc này trị được bệnh, là số một, nhưng không chịu uống thuốc thì vẫn bệnh. Đó là bệnh của đa số người học Phật ngày nay. Tổ bảo: “Miệng chỉ nói “không”, muôn kiếp chẳng được thấy tánh, trọn không có ích gì”. Bát-nhã nói là “Không”, miệng lặp lại mãi chữ “Không”, giống như chúng ta tụng Tâm Kinh: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, mà tâm thấy “có”, do đó miệng nói Bát-nhã nhưng tâm vẫn thường mê, đó là cái lầm của người học Phật. Lục Tổ muốn thức tỉnh trở lại là phải đi vào thực tế, đi vào thực hành chứ không phải chỉ ở trên miệng.
Này thiện tri thức! Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tiếng Phạn, xứ này gọi là Đại Trí Tuệ Đáo Bỉ Ngạn. Trí này cần tâm thực hành chẳng ở miệng niệm. Miệng niệm mà tâm chẳng hành thì như huyễn, như hóa, như sương, như điện. Miệng niệm tâm hành thì tâm và miệng ứng hợp nhau, bản tánh chính là Phật, lìa tánh không riêng có Phật.
Trước, Tổ nói qua về chữ nghĩa: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật dịch là đại trí tuệ đáo bỉ ngạn”. Nói theo chữ nghĩa, đây là trí tuệ rộng lớn đạt đến bờ kia. Song trí tuệ gì là trí tuệ lớn? Giải thích theo chữ nghĩa liền mắc kẹt, vì trí tuệ có lớn có nhỏ thì không phải Bát-nhã. Vậy, tại sao nói trí tuệ lớn? Do đó, Lục Tổ chỉ rõ: “Trí này, cần tâm thực hành chẳng ở miệng niệm, miệng niệm mà tâm chẳng hành thì như huyễn, như hóa, như sương, như điện”. Phải ứng dụng nơi tâm, soi sáng những lầm mê để thật sự sáng suốt, khế hợp với chỗ miệng niệm.
“Miệng niệm tâm hành thì tâm và miệng ứng hợp nhau, bản tánh chính mình là Phật, lìa tánh không riêng có Phật”. Miệng niệm mà tâm cũng hành để khế hợp. Tâm và miệng khế hợp nhau mới có sáng tỏ bản tánh, mới thật Bát-nhã. Chúng ta thường nói Bát-nhã, nhưng chữ “Bát-nhã” không dính dấp đến trí tuệ này, trí tuệ này không nằm trên cái tên đó. Tên “Bát-nhã” đâu có sáng, đâu có biết gì, nhưng người ta thường mắc kẹt trên cái tên, phân tích trên đó. Sự thật, trí tuệ Bát-nhã không nằm trên lời giải thích. Bát-nhã chân thật ở ngay nơi tự tâm, chẳng lìa tự tánh của người, phải ngay nơi tự tánh của mình tự sáng tỏ. Tổ giải thích:
Sao gọi là Ma-ha? Ma-ha là Lớn. Tâm lượng rộng lớn giống như hư không, không có bờ mé, cũng không vuông tròn, lớn nhỏ, cũng chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, cũng không trên dưới, dài ngắn, cũng không mừng giận, không phải quấy, không lành dữ, không đầu đuôi. Bao nhiêu cõi nước của chư Phật trọn đồng hư không. Diệu tánh của người đời vốn “Không”, không có một pháp có thể được, tự tánh chân không cũng lại như thế.
Ma-ha Lớn là như vậy! Không phải lớn theo kiểu “lớn-nhỏ”. Lớn ở đây chính là tâm lượng rộng lớn không có bờ mé, không có gì so sánh được nên tạm gọi “lớn”, không phải theo kiểu lớn-nhỏ đối đãi. Tức vượt ngoài mọi hình tướng đối đãi phân biệt, thức tình không thể suy nghĩ đến được. Cho đến thấy suốt “Bao nhiêu cõi nước của chư Phật trọn đồng hư không”. Không có gì chướng ngại, không có gì dính mắc, không có một tướng thật để mắc kẹt, thấy suốt tất cả. Tức ngoài tâm không thấy riêng có một pháp thật để thành ngăn ngại. Vậy mới đúng là “Lớn”, cho nên cái “Lớn” này không có ranh giới để so sánh đây-kia.
Chữ nghĩa làm sao ghi được cái “Lớn” này? Dù cho những máy điện tử hay siêu điện tử cũng không ghi được cái “Lớn” này. Cho nên, dù phân tích từ kiếp này qua kiếp khác cũng không thể thấy được cái “Lớn” này. Muốn thấy được cái “Lớn” này phải tâm ngộ. Tâm ngộ mới thấy được, không thể phân tích, không thể ỷ lại vào máy móc điện tử khoa học, do đó Tổ nói phải tâm thực hành. Ngài nói nó vượt ngoài cả tướng lớn-nhỏ, vuông-tròn, dài-ngắn, cho đến bao nhiêu cõi nước của chư Phật cũng thấy trọn đồng hư không. Diệu tánh của người đời cũng vốn “Không” như vậy, quả là Lớn không thể nghĩ bàn.
Này thiện tri thức! Chớ nghe tôi nói “Không”, liền chấp trước vào “Không”. Bậc nhất là chớ chấp trước “Không”. Nếu để cho tâm trống trơn, ngồi yên lặng, tức kẹt vào cái “không vô ký”.
Đây là chỗ nhiều người học Bát-nhã vướng phải. Nghe nói Bát-nhã nói về tánh Không, cái gì cũng Không, không thật rồi chấp vào cái Không. Ngồi thiền thì buông hết cho nó không, nhưng buông hết cũng không thấy nó không mà nó ngủ. Buông một lúc, nó ngủ gục hoặc rơi vào vô ký. Buông hết mà không sáng suốt, còn Bát-nhã là sáng suốt, trí tuệ!
Tổ ngăn ngừa, không cho người chấp trên chữ nghĩa. Đừng nghe nói rộng lớn như hư không rồi chấp vào chữ “Không”, ngồi yên lặng để tâm trống trơn cho đó là cái “Không” rộng lớn của Bát-nhã, đó là lầm, là tưởng tượng. Tức rơi vào bỏ “có” lấy “không”, là cái không đối đãi, cái không của thức tình phân biệt, không phải cái “Không chân thật” của Bát-nhã. Tổ nói đó là kẹt vào cái không vô ký, cái không lờ mờ, thiếu sáng suốt.
Này thiện tri thức! Thế giới hư không hay bao gồm muôn vật, hình sắc, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, núi sông, quả đất, suối nguồn, khe rạch, cỏ cây, rừng bụi, người lành, người dữ, pháp dữ, pháp lành, thiên đường, địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di thảy đều ở trong hư không. Tánh Không của người đời cũng lại như thế.
Này thiện tri thức! Tự tánh hay bao gồm muôn pháp là lớn. Muôn pháp ở trong tánh mọi người, nếu thấy tất cả người: dữ và lành trọn chẳng lấy chẳng bỏ, cũng chẳng đắm nhiễm, tâm như hư không, gọi đó là Lớn, nên nói là Ma-ha.
Tổ giải thích Ma-ha là như vậy. Trước, Tổ thí dụ thế giới hư không bao gồm tất cả muôn vật hình sắc: Mặt trời, mặt trăng, rừng bụi, cho đến người lành, người dữ, cũng đều ở trong hư không. Tánh Không của người đời cũng vậy, bao gồm tất cả, không có gì ra ngoài nó, Lớn là như vậy. Không có gì ra ngoài tự tánh mà riêng có thì có gì để lấy-bỏ. Lấy cái gì và bỏ cái gì! Nếu quán đến chỗ đó thì đâu có gì để mê. Sở dĩ thấy có lấy có bỏ là sao? Vì thấy ngoài tâm có pháp thật, mới có lấy đem vào hoặc bỏ ra. Thấy không có gì ngoài tâm riêng có thì lấy để vào đâu? Bỏ đi đâu? Cho nên sạch được niệm lấy-bỏ.
Không còn có tâm lấy-bỏ thì tâm mới thật sự thênh thang rộng lớn, không có gì dính nhiễm, hay nói ngược lại, không dính nhiễm cái gì, Tâm mới thênh thang rộng lớn. Còn có dính nhiễm thì hết Lớn, vừa dính nhiễm là có giới hạn, dính cái gì thì giới hạn cái đó, đâu còn rộng lớn. Nghĩa Rộng Lớn là phải thấy thấu như vậy, người học trên chữ nghĩa không thể thấy được hết. Nghĩa Lớn của Bát-nhã như thế thì làm sao bàn luận đến được, bàn đến suốt kiếp cũng không đến được, chỉ có tâm ngộ mới thấy được.
Này thiện tri thức! Người mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có người mê để tâm trống trơn, ngồi yên lặng, trăm điều chẳng nghĩ, tự cho là Lớn. Một bọn người này chẳng thể nói với họ, vì là tà kiến.
Nên nhớ kỹ: “Người mê miệng nói, người trí tâm hành”. Người trí phải thực hành nơi tâm, không chỉ hành nơi miệng. Người mê chỉ nói ngoài miệng nên không sáng tỏ được nghĩa thật. Do đó, nghe nói “Lớn” thì tưởng để tâm trống trơn thành không, gọi là ngồi yên lặng, trăm điều chẳng nghĩ, tự cho đó là Lớn, Lục Tổ quở là tà kiến. Đây Tổ ngăn ngừa những người chấp vào chữ nghĩa thành đi lệch ra ngoài, trái với nghĩa chân thật.
Này thiện tri thức! Tâm lượng rộng lớn, trùm khắp pháp giới, dùng tức rõ ràng rành rẽ, ứng dụng liền biết tất cả. Tất cả tức một, một tức tất cả, đi đến tự do, tâm thể không ngưng trệ, tức là Bát-nhã.
Tổ nói rõ về Tâm Lượng Rộng Lớn, nó trùm khắp pháp giới, không bỏ sót cái gì, nhưng không mê cái gì, đó mới thật Bát-nhã. Còn bỏ hết không nghĩ gì nhưng mê mờ thì không phải. Người tu thiền thường có cái lầm, lâu nay sống với vọng tưởng, sống với cái động nhiều nên khi ngồi thiền thì muốn tịnh, muốn buông hết cho yên thành ra nghiêng về một chiều. Đúng với tinh thần của Lục Tổ là phải Định Tuệ đồng đẳng.
Ngồi thiền không có trí tuệ sáng, dù có đạt được định thì cũng là si định, tức không rốt ráo, không giải quyết được vấn đề sanh tử. Muốn giải quyết vấn đề sanh tử phải có trí tuệ, chính trí tuệ mới nhổ gốc sanh tử. Thiền Tông gọi là Tối thượng thừa thiền, cho đến pháp Đại thừa hay pháp Thiền Nguyên thủy, các vị tu hành có chứng ngộ, các Ngài đều luôn ngăn ngừa người sau như thế.
Một Thiền sư Thái Lan nói: “Hiểm họa của định”. Định nhưng hiểm họa, định mà không sáng suốt, không có trí tuệ. Định đúng là khi tâm không bị vọng tưởng lăng xăng quấy rối, tâm được tạm yên, dùng cái tâm định đó để quán chiếu, như vậy mới phá được vô minh phiền não, phá được sanh tử. Định như đá đè cỏ, chỉ tạm dừng. Trí tuệ mới nhổ được gốc. Tu phải hiểu rõ như vậy, đừng mắc kẹt một bên.
Tổ nói rõ: “Dùng tức rõ ràng rành rẽ, ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi đến tự do, tâm thể không ngưng trệ”. Dùng thì biết hết rõ ràng tất cả, không lầm mê, không dính vào gì cả. Đúng tinh thần kinh Kim Cang gọi là vô trụ, biết tất cả mà không trụ vào cái gì hết thì tâm thênh thang rộng lớn. Còn có trụ tức có dính, dính tức có giới hạn. Được vậy, mới rõ được tâm thể tự do, không ngưng trệ ở một hình tướng nào, tức nghĩa Lớn của Bát-nhã. Tổ nói thêm:
Này thiện tri thức! Tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh mà sinh, chẳng từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý, gọi là chân tánh tự dụng. Một chân thì tất cả chân, Tâm chứa đựng việc lớn, chẳng đi theo lối nhỏ. Miệng chớ trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này. Giống hệt người thường mà tự xưng là vua, trọn không thể được, chẳng phải đệ tử của tôi.
Ngài nhắc phải nên nhớ rõ: “Tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh sinh, chẳng từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý”. Cầu bên ngoài là lầm. Tuy nhiên, chúng ta học nên khéo để không mắc kẹt trên chữ nghĩa. Nói trí Bát-nhã đều từ tự tánh sanh, hiểu theo chữ nghĩa dễ mắc kẹt, nghe nói “sanh” rồi hiểu theo chữ “sanh”, nếu có sanh phải có diệt, có sanh có diệt thì không phải chân Bát-nhã. Vậy hiểu sao đây? Chữ “sanh” ở đây, phải hiểu theo nhà Thiền đạt ý quên lời, hiểu theo ý chứ không hiểu theo lời. Sanh ở đây là trí Bát-nhã từ nơi tự tánh hiển bày ra chứ không thể tìm ở đâu khác để được, cho nên “gọi là chân tánh tự dụng”. Từ nơi chân tánh ứng dụng ra chứ không có “được”. Thấy có “được” tức từ bên ngoài vào, có được thì có mất. Thế nên Bát-nhã gọi là không trí không đắc, từ tự tánh hiện, đâu phải từ bên ngoài vào mà được. Người thường quen sống theo tình mê, làm gì cũng muốn có được, không được gì thì không muốn làm. Nhưng có được thì có mất, thuộc về cái tạm thời, cái có sanh diệt. Phải hiểu được ý đó, chớ lầm theo chữ nghĩa.
Ngài bảo: “Một chân thì tất cả chân, tâm chứa đựng việc lớn, chẳng đi theo lối nhỏ”. Cái gì là một chân? Tức là một tâm. Tâm đã chân thì nhìn ra cái gì cũng chân thật, không có gì lầm, nên nói một chân thì tất cả chân là vậy. Nói rộng ra, tâm chánh nhìn ra cái gì cũng chánh, tâm sáng nhìn ra cái gì cũng sáng, hoặc tâm giác nhìn ra cái gì cũng giác. Trong kinh nói: “Tình với vô tình đồng thành chủng trí” tức tình và vô tình đều thành Phật đạo. Người thường nghe câu này cũng rất khó hiểu, đôi khi lại hiểu lầm, nói cỏ cây cũng thành Phật. Cỏ cây làm sao thành Phật? Nhưng hiểu được ý này thì sáng tỏ. Tâm đã giác hoàn toàn rồi, nhìn ra cái gì cũng đều ở trong ánh sáng giác ngộ, đều là Phật, nên thấy cỏ cây cũng là Phật chứ không phải cỏ cây thành Phật. Hiểu rõ ràng vậy thì hết nghi.
Cho nên tu hành cần trang nghiêm tự tâm, chớ có một bề lo trang nghiêm ở bên ngoài. Kinh Kim Cang gọi là: “Trang nghiêm tịnh độ, tức chẳng phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm”. Trang nghiêm tịnh độ không phải chỉ lo làm đẹp cõi nước, trang hoàng đất đai, nhà cửa mà quan trọng phải trang nghiêm tự tâm, tâm trang nghiêm thì bên ngoài mới trang nghiêm theo. Nếu chỉ lo trang nghiêm bên ngoài mà tâm không trang nghiêm thì cũng không thấy sạch sẽ. Ví như chúng ta ở nhà lầu năm sao, nhưng tâm tham, sân, si còn đầy đủ thì cũng không sạch sẽ. Vào đó thấy toàn phiền não, đâu có trang nghiêm. Thế nên Tổ nói rõ một chân thì tất cả đều chân, tâm chân thật nhìn ra thấy cái gì cũng chân thật, sáng suốt, không lầm.
“Tâm chứa đựng việc lớn, chẳng đi theo lối nhỏ”. Chúng ta phải nhìn cho thấu đến chỗ chân thật, chỗ rộng lớn, vượt ngoài tình mê, không suy nghĩ theo lối thường tình để kẹt trong cái phân biệt có giới hạn.
“Miệng chớ trọn ngày nói Không, trong tâm chẳng tu hạnh này, giống hệt người thường mà tự xưng là vua, trọn không thể được, chẳng phải đệ tử của tôi”. Mỗi ngày nói Ma-ha nhưng không thấy Ma-ha, mà thấy ma thật, vì chỉ nói suông ngoài miệng. Niệm Ma-ha mà tâm so sánh đây kia, ganh ghét, ích kỷ, hẹp hòi thì không thể thấy Ma-ha, không thấy nghĩa của Lớn. Lại còn trên chữ nghĩa chê-khen, hơn-thua thì càng đi xa, càng không thấy Ma-ha mà thấy ma sự. Đây là chỗ cần phải sáng suốt để thấy chính xác trở lại. Chỉ một chữ Ma-ha theo Lục Tổ nếu người hiểu rõ, là đủ tu rồi. Kế giải về Bát-nhã:
Này thiện tri thức! Sao gọi là Bát-nhã? Bát-nhã, Đường dịch là trí tuệ. Trong tất cả chỗ, tất cả thời, niệm niệm chẳng ngu, thường hành trí tuệ, tức là hạnh Bát-nhã. Một niệm ngu tức Bát-nhã dứt. Một niệm trí tức Bát-nhã sinh. Người đời ngu mê chẳng thấy Bát-nhã, miệng nói Bát-nhã mà trong tâm thường ngu. Thường tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói Không, mà chẳng biết chân không. Bát-nhã không hình tướng, chính đó là tâm trí tuệ. Nếu khởi hiểu như thế, tức gọi trí Bát-nhã.
Bát-nhã, dịch là trí tuệ, nhưng “cái gì là trí tuệ”, đó mới là quan trọng, không thể nói suông. Trí tuệ này không nằm trên cái tên đó, trí tuệ này không có trong cái tên “Bát-nhã”. Ngài nói rõ: “Trong tất cả chỗ, tất cả thời, niệm niệm chẳng ngu, thường hành trí tuệ tức là hạnh Bát-nhã”. Người thường nói về Bát-nhã, phân tích về Bát-nhã, đôi khi giải từ trang này qua trang kia, nhưng xếp sách lại thì không thấy Bát-nhã đâu, chỉ thấy sách vở, đó là cái lầm của người học Bát-nhã. Phải là trong tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm mỗi niệm sáng suốt chẳng ngu mê, tức là luôn luôn sống được với trí tuệ thật sự, đó mới gọi là hạnh Bát-nhã chân thật, mới là Bát-nhã hiện bày.
“Một niệm ngu tức Bát-nhã dứt, một niệm trí tức Bát-nhã sinh”. Nếu một niệm ngu mê, ngay đó mất Bát-nhã. Dù cố giải Bát-nhã nhưng nếu ngay đó một niệm mê thì cũng mất Bát-nhã. Bát-nhã vốn ở trong tâm người mà thấy được chứ không phải ở trên miệng nói, không phải ở trên giấy mực chữ nghĩa. Miệng nói hay, nói lưu loát về Bát-nhã, nhưng tâm còn mê thì vẫn không thấy Bát-nhã, lẽ thật là như vậy. Dù cho nói: “Tôi tu Bát-nhã, cái gì cũng Không”, nhưng trong tâm lại thấy có, thấy gì cũng dính mắc, thì “Không” đó chỉ có tên mà không có nghĩa, Không ở trên miệng. Học Phật chúng ta phải hiểu kỹ chỗ này!
Lại nói: “Thường tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói Không mà chẳng biết chân không. Bát-nhã không hình tướng, chính đó là tâm trí tuệ, nếu khởi hiểu như thế tức gọi là trí Bát-nhã”. Tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói Không mà chẳng biết chân không thì rõ ràng chỉ là Bát-nhã ở trên miệng. Học Bát-nhã phải quay lại ngay tự tâm, bởi nó là tâm trí tuệ. Mở sáng tự tâm mới là thật học, Bát-nhã đó mới phá được phiền não, vô minh. Bát-nhã trên chữ nghĩa, sách vở thì không phá được vô minh, đôi khi còn thêm nữa, bởi học nhiều rồi thấy ta hiểu nhiều hơn người kia, đó là vô minh, cái ngã sanh. Thế nên phải thấy nơi tự tâm!
Sao gọi Ba-la-mật? Đây là tiếng Tây Quốc (Ấn Độ), Đường nói là đáo bỉ ngạn, giải nghĩa là lìa sinh diệt. Chấp trước cảnh thì sinh diệt khởi, như nước dậy sóng mòi, tức gọi là bờ này. Lìa cảnh thì không sinh diệt, như nước thường trôi chảy, tức gọi bờ kia. Vì vậy gọi Ba-la-mật.
Lục Tổ giải về Ba-la-mật cũng có chỗ đặc biệt. Thường thì giải Ba-la-mật tức là đến bờ kia. Nhưng bờ nào là bờ này? Bờ nào là bờ kia? Giải thích theo chữ nghĩa thì bờ này sanh tử, bờ kia Niết-bàn. Lìa bờ sanh tử này đến bờ Niết-bàn kia, nhưng còn thấy có bờ này bờ kia thì sao? Thì đâu còn là Bát-nhã. Giải theo chữ nghĩa là kẹt liền.
Đây Lục Tổ nói, bờ kia tức là lìa sanh diệt, chứ không nói bờ này bờ kia. Lìa sanh diệt là sao? Tâm chấp trước cảnh thì sanh diệt khởi, tức bờ này, “Như nước dậy sóng mòi”. Nước đang yên tịnh mà dậy sóng gọi là bờ này. Ngay đó, tâm lìa cảnh, tức không có sanh diệt, đó là bờ kia, “Như nước thường trôi chảy”.
Như vậy, bờ này bờ kia cách bao nhiêu? Cũng chỉ ở nơi Tâm, Tâm dính cảnh là bờ này, Tâm lìa cảnh là bờ kia, ngay “Một Tâm” chứ không đâu khác. Như nước dậy sóng hay nước thường trôi chảy thì cũng chỉ là nước. Tức gợi ý cho người nhớ trở lại tự tâm của mình. Quên mất tự tâm, chạy theo cảnh, chấp vào cảnh thì đi vào sanh diệt, tức là bờ này, bờ sanh diệt. Nhớ trở lại tự tâm, lìa cảnh, tâm không dính theo cảnh, tức tâm không sanh, tâm không sanh thì đâu có diệt, không sanh không diệt thì Niết-bàn rồi, đó là bờ kia. Ý nghĩa rất sáng tỏ, rõ ràng. Thế nên, rốt ráo chỉ “Một Tâm” chứ không có bờ nào khác. Chúng ta phải khéo đạt ý quên lời. Nếu theo chữ nghĩa, thấy có bờ này bờ kia là thuộc về tâm sanh diệt, tức vẫn còn y nguyên ở bờ này, không thấy Bát-nhã.
Như vậy, ngay cái tên Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, Lục Tổ đã dạy chúng ta tu hành rất thực tế, rất sáng tỏ để sống trở lại với tâm trí tuệ sáng suốt sẵn có nơi mình, không cần tìm cầu trên chữ nghĩa, ở đâu khác. Ngay cái tên Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật đã đủ cho chúng ta tu suốt đời. Gọi là “Trí Tuệ Rộng Lớn Đến Bờ Kia”, nếu chúng ta chỉ dùng tâm sanh diệt thấy trên chữ nghĩa, phân tích, phân biệt theo duyên theo cảnh, thì trí tuệ Lớn ở chỗ nào? Ngay đó bị giới hạn tối mò rồi, còn trí tuệ lớn gì nữa!
Này thiện tri thức! Người mê miệng niệm, ngay khi niệm có vọng, có quấy. Nếu niệm niệm thực hành, đó gọi là chân tánh. Người ngộ pháp này, là pháp Bát-nhã. Người tu hạnh này, là hạnh Bát-nhã. Chẳng tu tức phàm, một niệm tu hành thì tự thân đồng với Phật.
Lục Tổ nhắc kỹ lại: “Người mê miệng niệm, ngay khi niệm có vọng có quấy”. Người mê chỉ niệm ở ngoài miệng, trong tâm không thực hành theo, không dùng Bát-nhã để soi sáng, do đó tuy niệm Bát-nhã nhưng lại nghĩ lăng xăng, nghĩ vọng nghĩ quấy, nghĩ tưởng điên đảo, thành ra niệm Bát-nhã mà không có Bát-nhã. Niệm Bát-nhã làu làu nhưng trong tâm nghĩ tưởng chuyện này chuyện kia, đôi khi miệng niệm Bát-nhã mà tâm đi chợ, hoặc suy nghĩ buồn phiền hờn trách người này người kia, tính toán này nọ. Niệm Bát-nhã với tâm không thanh tịnh, chỉ thấy là vọng là quấy, làm sao thấy Bát-nhã!
“Nếu niệm niệm thực hành, đó gọi là chân tánh”. Niệm niệm thực hành tức ứng dụng Bát-nhã thật sự, tâm luôn luôn soi sáng mới hiện bày tánh thật, đây gọi là chân tánh. Ngày nay, nhiều người niệm Bát-nhã theo kiểu niệm ngoài miệng mà tâm không hành, nên niệm Bát-nhã nhiều mà phiền não mãi. Nếu thực hành thì giảm bớt phiền não, vì thấy Bát-nhã thì đâu thấy phiền não. Còn thấy phiền não thì không thấy Bát-nhã.
“Người ngộ pháp này là pháp Bát-nhã, người tu hạnh này là hạnh Bát-nhã. Chẳng tu tức phàm, một niệm tu hành tự thân đồng với Phật”. Chẳng tu hạnh Bát-nhã tức sống trong mê, là phàm phu. Một niệm tu hành là chuyển mê thành giác, có trí tuệ, sáng suốt, tức có đủ nhân thành Phật, thầm hợp với Phật, nên gọi là tự thân đồng với Phật. Bởi Phật thành Phật là ở ngay nơi tâm giác ngộ chứ không phải thành ở nơi nào khác, không thành ở cõi này cõi kia. Hiểu vậy chúng ta thấy Phật gần gũi, không hiểu như thế thì thấy xa xôi. Nghe nói Phật thành Phật dưới cội Bồ-đề, hoặc thành ở cõi Phật, đó là hiểu theo chữ nghĩa. Ngồi ngay cội Bồ-đề mà tâm không giác ngộ có thành Phật không? Chính tâm giác ngộ mới là gốc. Đây là nhắc để ngăn ngừa người niệm Bát-nhã, niệm suông ngoài miệng.
Này thiện tri thức! Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề, niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước dính cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề.
Mê-ngộ hay phiền não - Bồ-đề không có đâu xa, chỉ ngay nơi một niệm. Nghĩa là phàm phu và Phật hay phiền não và Bồ-đề trên dụng thấy có khác nhưng thể vốn không hai. Phật cũng từ nơi phàm phu mà thành, phàm phu tu hành giác ngộ thành Phật, thì cũng không phải ai khác vào trong đó thành. Cũng vậy, mê Bồ-đề thì vọng tưởng phiền não, giác phiền não thì thành Bồ-đề, không có hai cái thể riêng khác.
“Niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật”. Ngay một niệm! Niệm tuy có khác, niệm trước niệm sau dường như có trước, có sau, nhưng thể của niệm vẫn không hai. Thế nên, người tỏ ngộ không thấy riêng có được gì khác. Trong nhà Thiền, các vị tỏ ngộ gọi là vô sở đắc, tức không thấy có được.
Trong hội Ngài Quy Tông, một đêm có vị tăng tỏ ngộ, la to:
- Tôi ngộ rồi! Tôi ngộ rồi!
Sáng ngày sau, Ngài Quy Tông gọi vị tăng ra hỏi:
- Ông nói ngộ là ngộ cái gì?
Tăng đáp:
- Sư cô là người nữ.
Ngộ sư cô là người nữ, không được cái gì khác, giống như đây nói niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật. Thể niệm không hai nhưng dụng có khác, do mê nên mang tên phàm phu, do ngộ nên mang tên giác, là Phật.
Mê-ngộ cũng ngay nơi tâm, phiền não - Bồ-đề cũng ngay nơi tâm, cho nên niệm trước dính cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề. Vậy, con đường trở về ở ngay trước mắt chúng ta, không ở đâu xa. Khởi niệm là dính cảnh, có tham, sân, có lấy bỏ thì có phiền não. Ngay nơi niệm dính cảnh, chúng ta thức tỉnh trở lại thì sáng suốt là Bồ-đề, giải thoát, cũng ngay một niệm.
Như vậy, ngay một niệm dính cảnh liền tỉnh trở lại, tức chuyển phiền não thành Bồ-đề trong chớp mắt, nhưng đó chỉ là Bồ-đề trong chớp mắt. Quan trọng phải giữ cho niệm niệm được liên tục, không dính trở lại mới thường sống trong Bồ-đề. Nếu không, mới Bồ-đề trong chớp mắt rồi phiền não trở lại, mê trở lại.
Nhớ kỹ, “phàm phu” và “Phật” hay “phiền não” và “Bồ-đề” cũng chỉ là những cái tên, nó không có tánh thật, không cố định. Thế nên, đừng lầm chấp trên cái tên rồi vướng mắc. Tên “phàm phu”, tên “Phật” không có tự tánh, tùy theo tâm mà chuyển.
Cũng như câu chuyện vị tăng Huệ Minh đuổi theo Lục Tổ giành y bát. Đuổi theo giành y bát tức mê, nhưng vừa được Lục Tổ khai thị liền ngộ, mê-ngộ chỉ trong chớp mắt. Vậy thì, mê-ngộ chỉ cách trên danh từ, nơi tự tâm vẫn là không hai, đâu có ai khác chạy vào đó, thay vào đó. Chúng ta hiểu vậy để thấy được tinh thần của Lục Tổ chỉ dạy, gọi là tinh thần Đốn giáo, chóng tỏ ngộ trở lại ngay nơi chính mình, ngay nơi một niệm, ngay nơi tự tâm, không phải tìm đâu khác.
Này thiện tri thức! Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, không trụ, không qua, không lại. Chư Phật ba đời từ trong đó mà hiện ra. Chính dùng Trí Tuệ Lớn mà phá tan phiền não trần lao nơi năm uẩn. Tu hành như thế nhất định sẽ thành Phật đạo, biến ba độc làm giới-định-tuệ.
Lục Tổ tán thán: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất”. Không có gì hơn. Chúng ta mới nghe chưa thấy hết được ý nghĩa, nhưng nghiệm kỹ, học rõ, hiểu sâu thì thấy quả là như vậy. Bởi thành Phật cũng từ nơi Bát-nhã thì đâu có gì hơn. Người tu hành không thể thiếu Bát-nhã, có trí tuệ này mới có thể phá tan phiền não, chấp trước, mê lầm, mới phá vỡ được bản ngã lâu đời lâu kiếp. Thiếu Bát-nhã thì không thể phá vỡ, nhất là bản ngã lâu đời lâu kiếp là cái tình chấp sâu xa, cột trói chúng sanh trong vòng sanh tử luân hồi.
Trong Tâm Kinh nói rõ: “Khi hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Bồ-tát Quán Tự Tại soi thấy năm uẩn đều Không liền vượt qua hết thảy khổ ách”. Thực hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, tức không phải thực hành trên miệng mà thực hành ngay trong tâm. Luôn dùng Bát-nhã quán chiếu đến khi thuần thục, giống như chính mình là Bát-nhã, mới thấy được năm uẩn đều Không. Chỉ niệm trên miệng thì không thể thấy năm uẩn đều Không, phải một lòng niệm mới thấy năm uẩn đều Không, tức phá được bản ngã liền qua hết thảy khổ ách. Sở dĩ có khổ vì có ta, không ta thì ai khổ? Bao nhiêu tình chấp khi gặp Bát-nhã phải vỡ tan hết. Do đó, người tu hành phải một lòng kính trọng, phụng trì Bát-nhã không thể xem thường.
Trí Bát nhã này: “Không trụ, không qua, không lại”. Nghĩa là tất cả không trụ, không dính mắc, tự tại đi qua tất cả, không có gì chướng ngại, vượt ngoài sanh tử, không qua lại nữa. “Chư Phật ba đời từ trong đó mà hiện ra”. Chư Phật cũng từ trong trí Bát-nhã mà thành Phật, phá vỡ phiền não mê lầm. Không phải Phật thành Phật ở các tướng tốt, mà thành từ trong Bát-nhã.
“Chính dùng Trí Tuệ Lớn mà phá tan phiền não, trần lao nơi năm uẩn. Tu hành như thế nhất định sẽ thành Phật đạo, biến ba độc làm giới-định-tuệ”. Chúng sanh chấp chặt nơi năm uẩn nên chứa đầy phiền não, trần lao, do đó che mờ tánh giác. Trí Bát-nhã soi đến, các thứ phiền não trần lao phải tan hết, không chỗ bám, năm uẩn thành trống rỗng, không còn che mờ. Năm uẩn còn gọi là năm ấm. Uẩn là chứa nhóm, chứa nhóm những phiền não; Ấm là che mờ, che đậy. Năm uẩn trống rỗng là không còn che mờ, không còn chứa nhóm thì tánh giác hiện ra. Cho nên tu hành như thế nhất định sẽ thành Phật đạo không nghi ngờ, biến ba độc tham-sân-si làm thành giới-định-tuệ. Tức hóa giải ba độc, độc không còn hại nữa, thành giải thoát, tự tại, sống trong an lành. Người thực hành đúng trí Bát-nhã có công năng lớn lao như vậy. Do đó, Lục Tổ tán thán để tất cả thấy được ý nghĩa giá trị của Bát-nhã.
Này thiện tri thức! Pháp môn của ta đây từ một Bát-nhã mà sinh tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tại sao? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao, nếu không trần lao thì trí tuệ thường hiện, chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là không niệm, không nhớ nghĩ, không dính mắc, chẳng khởi dối trá, dụng ngay tánh chân như của chính mình. Dùng trí tuệ soi sáng, đối tất cả pháp chẳng lấy, chẳng bỏ, tức là thấy tánh thành Phật đạo.
Thường sống trong trí tuệ thì trái với trần lao. Tám muôn bốn ngàn là chỉ số lớn, số tượng trưng. Một trần lao chuyển thành một trí tuệ. Nếu thiếu trí tuệ thì trần lao hiện, tức là mê. Có trí tuệ thì trần lao mất, tức là giác. Tám muôn bốn ngàn trần lao chuyển thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ, tức thường sống trong trí tuệ mà không có trần lao, đó là thường giác, sống không mất mình, không lìa tự tánh. Nếu tâm thường có trí tuệ thì làm mọi việc đều sáng tỏ, làm trong trí tuệ tức thấy Phật. Ngược lại, tâm chứa trần lao vừa khởi niệm là thấy chúng sanh. Thế nên, không trần lao thì trí tuệ thường hiện, chẳng lìa tự tánh.
“Người ngộ pháp này tức là không niệm, không nhớ nghĩ, không dính mắc, chẳng khởi dối trá, dụng ngay tánh chân như của chính mình, dùng trí tuệ soi sáng, đối với tất cả pháp chẳng lấy chẳng bỏ tức là thấy tánh thành Phật đạo”. Người ngộ được pháp này thường tự thấy tánh sáng suốt, dụng ngay tánh chân như, từ chân như khởi dụng, không khởi gì khác, vừa động niệm là trái với cái thật.
Thiền sư Sư Nhan đến tham vấn Ngài Nham Đầu. Sư hỏi:
- Thế nào là lý bản thường?
Ngài Nham Đầu đáp:
- Động.
Sư thưa:
- Khi động thế nào?
Ngài Nham Đầu bảo:
- Chẳng phải lý bản thường.
Lý bản thường là lý thường sẵn vậy, khởi niệm tức động, động thì trái với bản thường. Nên đây nói người ngộ pháp này là không niệm, không nhớ nghĩ, không thêm cái gì khác, cũng không dính mắc, gọi là người vô trụ. Vì Bát-nhã là vượt qua tất cả, cũng không có gì so sánh, nên vừa khởi niệm so sánh là trái với Bát-nhã. Người học Bát-nhã đôi khi sợ vì nghe cái gì cũng Không. Nhưng Không ở đây không phải là diệt hết không có tất cả, mà tất cả đều không dính mắc, đầy đủ trí tuệ, công đức sáng ngời. Cũng chẳng khởi dối trá, có ánh sáng Bát-nhã thấy đúng như thật các pháp, không có bóng tối xen vào thì đâu có dối trá. Dùng ngay tánh chân như chính mình, từ tánh chân thật dùng ra tất cả đều chân thật, không hư dối. Sống được với tánh chân thật, đem cái thật sống với nhau thì thiên hạ thái bình. Hiện tại, mọi người đem cái vọng sống với nhau nên sanh đủ thứ chuyện rắc rối. Bởi buồn thương giận ghét đều ở trong cái vọng, trong cái thật đâu có những thứ đó. Bởi vậy, cần tu Bát-nhã để đem Bát-nhã vào cuộc sống, đó là rất trọng yếu.
“Dùng trí tuệ soi sáng, đối với tất cả pháp chẳng lấy chẳng bỏ tức là thấy tánh thành Phật đạo”. Chúng ta thấy các pháp là thật, ta cũng thật nên có lấy có bỏ, mà có lấy bỏ thì có phiền não. Ở đây, sáng tỏ các pháp đều tánh Không, không thật, thì không còn lầm theo nó, tức là không bị các pháp chuyển, mà ngược lại chuyển các pháp, đó mới thật sự làm chủ trở lại. Thấy tánh thành Phật đạo là thành ngay trong tự tánh, không phải thành ở đâu khác.
Này thiện tri thức! Nếu người muốn vào pháp giới sâu xa và Bát-nhã tam-muội, cần tu hạnh Bát-nhã, trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã tức sẽ được thấy tánh. Phải biết, kinh này có công đức vô lượng vô biên mà trong kinh đã khen ngợi rành rõ, không gì có thể nói đủ hết.
Lục Tổ tán thán Bát-nhã và kinh Kim Cang. Vào pháp giới sâu xa tức là chứng ngộ chân tánh (tánh chân thật) không thể nghĩ bàn. Bát-nhã tam-muội, nói theo chữ nghĩa là chánh định Bát-nhã, ngầm chỉ Bát-nhã cứu cánh hay thực tướng Bát-nhã, không phải Bát-nhã văn tự. Người muốn vào chỗ thật chứng rõ ràng phải tu hạnh Bát-nhã, trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã.
Tu hạnh Bát-nhã là thường dùng trí tuệ soi sáng các pháp, thấy rõ các pháp đều không có thật tánh để không mê lầm theo nó, không trụ, không dính mắc, tức tâm thường sáng. Trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã sẽ thấy tánh, nhưng vì sao có người thường trì kinh Kim Cang Bát Nhã mà không thấy tánh? Chúng ta cần hiểu đúng về kinh Kim Cang Bát Nhã, không phải hiểu theo nghĩa quyển kinh để trên bàn, trì tụng quyển kinh để trên bàn không thể thấy tánh. Kinh Kim Cang Bát Nhã ngầm chỉ trí tuệ kim cang, trì tụng tức thường sống với trí tuệ kim cang, phá tan những tình chấp mê lầm, không dính mắc các cảnh các pháp, luôn giữ gìn như vậy sẽ thấy tánh không nghi.
Lục Tổ kế thừa Ngũ Tổ nên Ngài cũng khuyên người trì tụng kinh Kim Cang. Bởi kinh Kim Cang là bộ kinh phá chấp rất mạnh mẽ, phá chấp tam tâm tứ tướng, là tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai, tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, phá cái thấy chấp có thuyết pháp, cho đến trang nghiêm tịnh độ. Phá sạch, không cho chúng ta bám vào cái gì, phá cả cái chấp phước đức của Bồ-tát, “làm phước đức còn thấy có phước đức thì không phải Bồ-tát thật”.
Trong kinh Kim Cang, Đức Phật tán thán công đức của kinh này: “Nếu có người hay thọ trì, đọc tụng, rộng vì người nói, Như Lai hẳn biết người ấy, hẳn thấy người ấy đều được thành tựu công đức chẳng thể lường, chẳng thể cân, chẳng có bờ mé, chẳng nghĩ bàn”. Công đức không tính kể, vì công đức này là công đức của tự tánh, vượt hơn tất cả những công đức hữu vi, không thể dùng tâm phân biệt so sánh mà đến được.
Pháp môn này là Tối thượng thừa, vì người đại trí mà nói, vì người thượng căn mà nói; người tiểu căn, tiểu trí nghe đến thì tâm sanh chẳng tin. Tại sao? Ví như rồng to làm mưa xuống, thì ở cõi Diêm-phù-đề, thành ấp, xóm làng thảy đều bị trôi giạt, như trôi lá táo. Nếu mưa xuống biển cả thì chẳng thêm, chẳng bớt. Nếu người Đại thừa hoặc người Tối thượng thừa, nghe nói kinh Kim Cang thì tâm mở sáng tỏ ngộ nên biết bản tánh tự có trí Bát-nhã.
Lục Tổ xác định rõ: “Pháp môn này là pháp môn Tối thượng thừa”. Tức vượt hơn các thừa, nên Ngài nhắc, người nghe pháp này cần phải mở tâm rộng lớn tương xứng chứ đừng dùng cái tâm nhỏ hẹp so đo nghe nhận. “Nếu người đại thừa hoặc người tối thượng thừa nghe nói kinh Kim Cang tâm mở sáng, tỏ ngộ, biết bản tánh tự có trí Bát-nhã”.
Người có căn tánh đại thừa nghe kinh Kim Cang liền thấy vui thích, tâm mở sáng, tin biết nơi bản tánh tự có trí Bát-nhã, tức trí Bát-nhã tự có nơi chính mình chứ không phải tìm bên ngoài, đúng với tinh thần Thiền Tông, đó mới thật Bát-nhã. Bát-nhã học được từ kinh điển, từ bên ngoài là phương tiện Bát-nhã, chưa phải chân thật Bát-nhã. Học Bát-nhã phải học thấu đến như thế mới là thật học.
Vì tự dụng trí tuệ thường soi sáng nên chẳng nhờ văn tự. Ví như nước mưa, chẳng từ trời có, vốn là rồng hay dấy lên, khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu tình, vô tình, thảy đều được tươi nhuần; trăm sông, mọi dòng chảy vào biển cả lại họp thành một thể. Trí Bát-nhã nơi tự tánh của chúng sanh cũng lại như thế.
Ngài nói rõ: “Tự dụng trí tuệ thường soi sáng nên chẳng nhờ văn tự”. Dùng trí tuệ nơi tự tánh của chính mình thường soi sáng mà không nhờ văn tự, không kẹt nơi văn tự, như vậy mới thật trí. Trí tuệ nhờ văn tự đến khi hết văn tự sẽ mất, do học mà được thì có lúc sẽ quên. Lục Tổ không biết chữ vẫn tỏ ngộ, rõ ràng không nhờ văn tự. Mỗi người phải soi trở lại nơi chính mình để phát huy trí tuệ của tự tánh, đừng mắc kẹt nơi văn tự chữ nghĩa, mắc kẹt nơi văn tự chữ nghĩa thì không thấy được cái thật.
“Ví như nước mưa chẳng từ trời có, vốn là rồng hay dấy lên, khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây hữu tình vô tình thảy đều được tươi nhuần, trăm sông mọi dòng chảy vào biển cả hợp thành một thể, trí Bát-nhã nơi tự tánh của chúng sanh cũng lại như thế”. Chúng sanh tự có sẵn trí tuệ chân thật, không phải nương từ bên ngoài, khi ngộ được lẽ thật thấy đồng một thể khế hợp như nhau. Ngược lại, chúng ta vì còn sống trong tâm chúng sanh, thấy theo cái ngã riêng biệt nên cách biệt nhau.