Thiền viện Linh Chiếu chúng tôi có nhân duyên được sống tu học gần Thầy. Trước kia còn khỏe, Thầy đem hết tâm huyết để hướng dẫn và giảng dạy cho Tăng Ni các Thiền viện tu học. Đồng thời Thầy còn tra tìm sử sách, rồi lần theo dấu Tổ mà khôi phục lại dòng thiền Trúc Lâm Việt Nam. Thầy còn nghĩ thương những người ở xa không đủ điều kiện đến nghe pháp, nên nhận lời thỉnh mời đi hoằng pháp khắp nơi. Những khi về Thường Chiếu, mỗi chiều Thầy đều chống gậy đi qua Linh Chiếu để khuyên tấn đại chúng tu hành. Sau này tuổi thọ cao, sức khỏe kém, Thầy về ở tại Tổ đình Thường Chiếu, thỉnh thoảng vẫn ngồi xe điện sang Linh Chiếu.
Tuổi Thầy đã vào hàng thượng thọ, vậy mà con cháu trong tông môn vẫn còn đầy đủ phúc duyên, được cung kính đảnh lễ vấn an sức khỏe Thầy. Huynh đệ ở các Thiền viện xa thì tranh thủ, được dịp là trở về thăm Thầy. Còn chúng tôi, những Thiền viện ở gần, cứ mỗi tuần vào ngày thứ ba, các vị trong Ban lãnh đạo lại tụ hội về bên Thầy. Trong niềm hạnh phúc vô biên, chúng tôi những đệ tử đã thuộc vào hàng lão, mà mỗi lần được quỳ dưới chân Thầy, vẫn như trẻ nhỏ. Với tấm lòng kính thương Thầy vô bờ, người dâng chút rau, người chút trái, hoặc ca hát, hoặc đọc thơ cúng dường… Tất cả đều vì muốn Thầy vui, mong Thầy được khỏe. Nhìn đàn con vây quanh, Thầy gật đầu hiền lành từ ái, im lặng mỉm cười.
Tám huynh đệ chúng tôi được theo hai Thầy, Hòa thượng Huyền Vi và Hòa thượng Thanh Từ, xuất gia tu học từ nhỏ. Nhờ ân pháp hóa của hai Thầy, mỗi vị đều được tu học vững vàng, vâng lời Thầy dạy mà tùy theo nhân duyên đảm đang Phật sự. Trong tám huynh đệ thì có ba vị cùng chung vai gánh vác Phật sự tại Thiền viện Linh Chiếu: Ni trưởng Như Hạnh, Ni trưởng Như Thành, Ni trưởng Như Tịnh.
Các vị còn lại thì mỗi người pháp hóa một nơi:
- Ni trưởng Như Hải, Trụ trì chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.
- Ni trưởng Như Thông, Trụ trì chùa Phước Anh ở Quận 8 - Tp. HCM
- Ni trưởng Như Hương, Trụ trì chùa Long Thạnh ở Vĩnh Long.
- Ni trưởng Như Tầm, Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Ni ở Đà Lạt.
- Ni trưởng Như Trường trụ trì chùa Hương Nghiêm ở Bến Tre.
Tám huynh đệ mới ngày nào theo hai thầy xuất gia tu đạo, bây giờ đều đã vào hàng Ni trưởng, vài vị cũng đã theo duyên vô thường. Các huynh đệ còn lại, mặc dù sức khỏe yếu kém cộng thêm Phật sự đa đoan, nhưng luôn luôn dành thời giờ để về vấn an sức khỏe Thầy.
Do theo Thầy đã lâu nên chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm về Thầy, mỗi lần kể lại thì thân giáo và khẩu giáo của Thầy lại in đậm trong tâm trí chúng tôi. Tôi còn nhớ vào năm 1973, khi đang theo học tại Ni trường Dược Sư - Gò Vấp, lúc đó Ni trưởng Trí Hòa đang làm Giám thị. Ni trưởng là đệ tử của Sư ông Thiện Hoa, tức là huynh đệ với Thầy tôi, nên chúng tôi thường gọi bằng Sư chú. Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 19 tháng 12 âm lịch, Sư chú từ giảng đường đi nhanh sang phòng chúng tôi, kêu: “Mấy Huệ ơi! Sư ông nhập viện rồi, mấy đứa đi với Chú vào bệnh viện Đồn Đất thăm Sư ông nhanh lên." Nghe vậy chúng tôi lập tức lấy y áo, rồi cùng Sư chú đón xe đến bệnh viện.
Vừa đến bệnh viện đã thấy Sư bà Vĩnh Bửu đang đứng trước phòng Sư ông, Sư chú và chúng tôi đến chào. Sư bà nói: “Thầy Thanh Từ ở Chơn Không đã về, đang ở trong phòng với Hòa thượng.” Chúng tôi nhìn qua lớp cửa kiếng, thấy Thầy lặng lẽ đi tới đi lui, thỉnh thoảng đứng lại nhìn Sư ông đang nằm trên giường bệnh. Trông nét đăm chiêu đượm buồn trên gương mặt Thầy, chúng tôi thầm biết bệnh tình của Sư ông đang rất nguy kịch, nên tất cả đều im lặng không dám mở lời. Vì bệnh viện không cho vào bên trong, chúng tôi đành ngồi bên ngoài chờ nghe tin tức.
Trời càng lúc càng tối dần, trông chờ mòn mỏi Sư bà Vĩnh Bửu phải nghỉ lưng tạm trên băng ghế, còn Sư chú và chúng tôi thì nằm dưới nền gạch ngoài hiên. Đến khuya, chúng tôi đang ngủ bỗng nghe tiếng Sư chú thảng thốt kêu lên: “Sư ông tịch rồi, mấy đứa vào đảnh lễ mau đi!” Chúng tôi vội choàng dậy, nhè nhẹ bước vào quỳ xuống bên giường. Sư ông nằm yên thanh thản, Thầy đứng bên chắp tay im lặng, Sư bà và Sư chú vừa lạy vừa khóc. Sau đó, nhục thân Sư ông được rước về chùa Ấn Quang.
Trong suốt thời gian lễ tang Sư ông, Thầy luôn túc trực bên kim quan. Qua nét trầm lắng của Thầy, chúng tôi cảm nhận được Thầy đang trân quý từng sát-na còn lại, để được hầu cận bên Sư ông, dành trọn tấm lòng của một người đệ tử đối với bậc thầy đã khai mở giới thân huệ mạng cho mình. Trông thấy Thầy thương kính Sư ông như thế, chúng tôi không dám đến gần, chỉ len lén nhìn Thầy rồi lẳng lặng cùng nhau lo tròn trách nhiệm của mình.
Từ đó, cứ vào ngày 20 tháng chạp mỗi năm, Thầy đều thiết lễ cúng dường Sư ông. Lúc ở tại thiền viện Chơn Không - Vũng Tàu, ngày húy kỵ Sư ông Thầy cúng thật đơn giản, nhưng rất trang nghiêm và ấm cúng. Huynh đệ chúng tôi đồng tụ hội về núi, quây quần bên Thầy. Tất cả cùng chung tay nhau, kẻ cơm người nước... dâng lên cúng dường, hầu bày tỏ tấm lòng của hàng con cháu đối với Sư ông.
Trước án tiền hương trầm thoảng nhẹ, Thầy ngước nhìn di ảnh Sư ông, rồi quỳ xuống cung kính dâng hương bộc bạch:
Ngưỡng vọng giác linh Thầy!
Hôm nay là húy kỵ lần thứ 9, ngày Thầy viên tịch. Tất cả đệ tử chúng con đồng tâm thiết lễ cúng dường Thầy, cúi mong Thầy chứng minh cho lòng thành của chúng con. Sanh dưỡng thân chúng con là cha mẹ, mở sáng mắt trí tuệ chính nhờ Thầy. Thân này chỉ sống mấy mươi năm rồi hoại, mắt trí tuệ một phen mở thì vĩnh viễn thoát khỏi trầm luân. Công ơn pháp nhũ của Thầy đối với chúng con, thật thênh thang như trời biển. Chúng con nguyện tiếp nối ngọn đuốc trí tuệ từ Thầy, để soi sáng cho mình và truyền trao mãi mãi, giúp trọi người thoát khỏi trầm luân. Kính mong Thầy thương tưởng, chứng minh cho lòng thành của chúng con!
Giọng Thầy nghẹn ngào đứt quãng, tôi đưa tay áo lau vội dòng nước mắt, nghe huynh đệ quỳ phía sau cũng đang thút thít như mình. Mỗi năm ngày húy kỵ Sư ông, Thầy đều xúc động như thế. Trong quyển Gương Hạnh Thầy Tôi, có đoạn Thầy viết: “Tôi tận mắt chứng kiến hình ảnh Hòa thượng theo Phật, nên rất xúc động mỗi khi nhắc đến.”
Năm 1986, Thầy rời Chơn Không về Thường Chiếu. Hằng năm đến ngày 19-20 tháng chạp, lễ giỗ Sư ông được Thầy thiết cúng tại Tổ đình Thường Chiếu. Từ khi Thầy về Thường Chiếu, do công đức pháp hóa của Thầy mà Thiền tông lan rộng khắp nơi. Vì vậy, ngày giỗ Sư ông cũng được tổ chức lớn dần theo sự phát triển của Thiền phái. Vào ngày đó, tăng ni và Phật tử trong tông môn Trúc Lâm đồng trở về Tổ đình Thường Chiếu. Thầy trò cùng lo chuẩn bị hương hoa, bánh trái... dâng cúng Sư ông.
Sáng ngày 19, Thầy lên Chánh điện dâng hương rồi xuống Tổ đường, đứng cúi đầu trước di ảnh Sư ông, chắp tay tưởng niệm. Xong rồi Thầy chống gậy đi một vòng ra nhà khách, xem đệ tử đệ tôn gói bánh tét bánh ít. Vừa thấy Thầy đến, mọi người đều dừng tay đứng dậy đón chào Thầy. Không khí nhà bếp rộn rã hẳn lên, hân hoan vui vẻ. Mọi người đua nhau khoe thành tích với Thầy, người xách một chùm bánh tét, người bưng rổ bánh ít, có người còn bưng cả thúng bánh đem đến khoe với Thầy: “Thưa Thầy, thưa Sư ông! Tụi con gói bánh đẹp lắm!” Thầy gật đầu cười hoan hỷ, rồi chống gậy đi tiếp sang các khu vực khác. Chư tăng từ xa trở về sớm, dẫn theo các đoàn Phật tử rất đông đến chào Thầy. Trên gương mặt mỗi người đều hiện rõ nét vui tươi rạng rỡ, giống như những đứa con xa quê hương lâu ngày, nay được trở về gặp lại cha mẹ cùng người thân của mình. Lễ giỗ Sư ông long trọng, trang nghiêm và thấm tình đạo vị như thế.
Thầy đối với Ân sư chu toàn, song vẫn không quên bổn phận làm con. Thầy thường dạy: “Hiếu thảo là bước đầu tiên trên nấc thang đạo đức.” Lời dạy và việc làm của Thầy luôn đi đôi với nhau. Thế nên khi nghe tin thân mẫu bệnh nặng, Thầy từ chùa Ấn Quang - Sài Gòn, tức tốc về quê để lo cho bà. Đó là vào năm 1956, chúng tôi chưa xuất gia. Từ quê nhà Trà Ôn, Thầy đưa Bà qua Trà Vinh trị bệnh. Lúc xe chạy ngang qua Cầu Kè, Thầy cho dừng nghỉ ở nhà của một Phật tử, nhờ vậy mà chúng tôi đủ duyên được gặp đảnh lễ Thầy và thăm Bà.
Thời gian không lâu thì Bà mất, Ông cụ lên Sài Gòn ở với em trai của Thầy. Vì muốn đáp đền công ơn sanh thành dưỡng dục, nên sau khi sắp xếp mọi việc ở Chơn Không được ổn định thì Thầy rước ông về phụng dưỡng. Để tiện việc chăm sóc và hướng dẫn Ông tu tập, Thầy cho Ông ở ngôi thất nhỏ cạnh bên thất Thầy. Đến năm 1975 thì ông mất, Thầy nói: “Tuy ông mất nhưng Thầy không buồn lắm, vì ông có thời gian tu tập. Nghĩ thương bà cụ mất sớm, lúc mới 59 tuổi, nên Thầy chưa giúp bà tu tập được bao nhiêu.”
Hiếu hạnh của Thầy càng cao thì việc lo cho tăng ni lại càng tận tụy. Vào những năm đất nước mới hòa bình, đời sống tại các Thiền viện rất khó khăn vất vả. Vì thế các thiền viện có mặt lúc bấy giờ, là: Thường Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu... đều được Thầy trực tiếp dẫn dắt. Mỗi tháng Thầy từ Chơn Không về Thường Chiếu một tuần, để giảng dạy giáo lý sách tấn đại chúng tu học, đồng thời hướng dẫn chư tăng ni cách trồng cây, khai mương cấy lúa, lập vườn làm ruộng, làm tương v.v... Những năm Thầy giáo hóa ở Thường Chiếu chúng tôi thật hạnh phúc, vì đây là khoảng thời gian đại chúng Linh Chiếu được gần Thầy nhiều nhất.
Nơi cầu Song Chiếu bắc qua suối Thường Linh, chúng tôi rất vui được chờ đợi đón đưa Thầy. Đều đặn ngày hai buổi sáng chiều, trên con đường đất cát được che mát bởi khu vườn dừa, Thầy đầu đội nón lá, tay chống gậy, ung dung từng bước dạo qua Linh Chiếu. Mỗi chiều tại Thư viện, Thầy ngồi võng thong thả uống từng ngụm nước, nhìn quanh đại chúng rồi tùy nghi nói một thời pháp ngắn. Qua từng lời giảng bình dị, Thầy khéo léo răn dạy đại chúng tu học. Kết thúc thời pháp thoại, Thầy thường hỏi lại và bảo chúng tôi trả lời xem hiểu thế nào. Mỗi ngày qua pháp âm của Thầy, chúng tôi như người đi trong sương móc, dần dần thấu hiểu sâu hơn lời Phật tổ chỉ dạy.
Trong hoàn cảnh cơm không đủ no, áo không đủ mặc, thấy đại chúng lao động cực nhọc, Thầy thường dẫn lời người xưa để động viên: “Gian nan giả phi khốn ngã dã, nhi thành ngã giả dã” - Gian nan đó chẳng phải làm khốn đốn ta, mà chính là làm thành cho ta ấy vậy. Chính những lời khích lệ ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi, những đứa con gái Như Lai đang tu học tại thiền viện Linh Chiếu này, ngày càng vững lòng tin và kiên định hơn trên con đường tu học đầy gian nan thử thách.
Thầy dành cả cuộc đời của mình để phụng sự Tam bảo và luôn mang tâm nguyện cứu khổ chúng sanh. Vì thế, không những lo cho tăng ni tứ chúng tu học đúng với chánh pháp, mà Thầy còn hết lòng quan tâm đến từ thiện xã hội bên ngoài. Thuở ấy, người dân quanh vùng Phước Thái này, đời sống còn lắm khó khăn, nhiều người già yếu bệnh hoạn nhưng thiếu điều kiện chữa trị. Do đó vào năm 1988, Thầy cho thành lập Tuệ Tĩnh đường đặt tại Thiền viện Linh Chiếu, với mong muốn xoa dịu phần nào nỗi đau khổ sanh lão bệnh tử của kiếp người. Thầy đã mang bi nguyện của mình truyền dạy cho chúng tôi hạnh vị tha, góp chút bình an giúp mọi người cũng chính là hướng xã hội đến cuộc sống chân thiện mỹ.
Mỗi sáng qua Linh Chiếu, Thầy chống gậy rảo bước quanh vườn chùa xem chư ni lao tác, rồi đến thăm Tuệ Tĩnh đường, thấy các cụ già đang ngồi chờ vào khám bệnh, Thầy lại gần hỏi thăm bệnh tình và an ủi khuyên họ chịu khó đến châm cứu, hốt thuốc uống cho mau hết bệnh. Trong các buổi họp nội bộ Tuệ Tĩnh đường hằng tháng, Thầy lắng nghe báo cáo kết quả làm việc của các ban, rồi ôn tồn nhắc nhở: “Người có bệnh thường nóng nảy, khó tánh, nên các con phải dùng lòng từ bi mà điều trị cho họ. Phải nhẹ nhàng, ân cần, kiên trì giúp người bệnh được an ổn vui vẻ. Nhớ luôn luôn tỉnh táo sáng suốt, đừng để các thứ ma phiền não quấy nhiễu. Có như vậy thì tụi con tuy trị bệnh cho người, mà bản thân mình vẫn tu được.”
Với tâm của một bậc thầy hướng đệ tử đến giác ngộ giải thoát, Thầy thường nhắc nhở chúng tôi “Tu trong bận rộn, đừng vì việc chữa bệnh mà xem nhẹ sự tu hành: “Chư tăng ni phải tự độ mới có thể độ người, mình có giác ngộ giải thoát mới có thể giúp người giác ngộ giải thoát, vì vậy đối với việc chuyên tu không thể lơ là. Chúng ta đi giảng dạy giáo hóa hay làm việc từ thiện xã hội, cũng chỉ vì lòng từ bi muốn cứu khổ ban vui cho người. Chỗ cứu cánh của hàng tu sĩ là phải thực hiện hoài bão tự giác giác tha, an vui giải thoát ngay trong đời sống hiện tại này."
Pháp âm Thầy vang đến đâu thì nơi đó an lạc, bước chân Thầy đi qua nơi nào thì chốn ấy bình yên, cỏ cây cũng được xanh mát. Nhìn lại đoạn đường đã qua, nhờ dòng sữa pháp của Thầy nuôi dưỡng mà Linh Chiếu từng bước trưởng thành. Một số huynh đệ đã đủ khả năng gánh vác Phật sự tại vài Thiền viện, như: Ni sư Hạnh Diệu, Ni sư Hạnh Nguyên, Ni sư Hạnh Chiếu vv... Còn ở tại Linh Chiếu thì số chúng lớn cũng đã đảm đang được Phật sự, giảng dạy kinh điển cho chư ni lớp nhỏ.
Những thành tựu ấy, đều nhờ thâm ân giáo dưỡng của Thầy. Thầy như cội đại thọ cành lá sum suê, luôn tỏa bóng râm che mát cho cả tăng ni tứ chúng. Chúng tôi được tắm gội trong dòng suối từ bi của Thầy, nhờ Thầy giáo dưỡng và khai mở mắt đạo mà chúng tôi biết được lối về. Ân đức của Thầy thật cao lớn biết bao!
Về già, Thầy thường nhắc chúng tôi: “Thầy dạy bao năm rồi, mấy đứa con đa phần đều đủ niềm tin đối với Phật pháp. Thầy đã tròn bổn phận, bây giờ phần còn lại là của tụi con. Mỗi đứa đều biết rõ, ngay thân tứ đại huyễn hóa này có cái chân thật. Vậy thì tụi con hãy cố gắng buông xả vọng tưởng, dứt trừ tập nhiễm phiền não để sống trở về với chân tâm hiện tiền của chính mình." Lời Thầy dạy cho thấy tâm huyết và hoài bão, mà một đời Thầy cưu mang trong lòng đối với tăng ni tứ chúng. Có thể nói, cuộc đời hành đạo của Thầy luôn gắn liền với sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Ánh sáng trí tuệ cùng hạnh nguyện tự lợi, lợi tha của Thầy luôn tỏa sáng cho hàng hậu học noi theo.
Giờ đây, khi các Thiền viện đều được trang nghiêm, tăng ni tứ chúng đồng biết Phật pháp tu hành thì Thầy tuổi hạc đã cao, thân tứ đại trải qua nhiều năm lao nhọc, nay có chút bệnh duyên lại thêm nhọc nhằn. Chân yếu gối mòn, nhưng Thầy vẫn vì đàn con mà hiện hữu, bình thản trong đau bệnh. Những lúc thấy Thầy không khỏe, chúng tôi chỉ biết lặng thinh ngồi nhìn, không dám mở lời. Thầm cầu nguyện Thầy được khỏe, Thầy sống lâu ở đời cùng với chúng con. Cầu mong là như vậy, nhưng chúng tôi vẫn biết các pháp luôn luôn biến chuyển. Nhưng dù thế nào đi nữa thì chúng tôi, hàng tăng ni tứ chúng đệ tử đệ tôn môn hạ của Thầy, vẫn giữ vững ý chí tu học, kiên trì nguyện lực, quyết xứng đáng với thâm ân pháp hóa của Thầy. Nguyện tu theo Chánh pháp, nguyện thắp tiếp ngọn đèn Thiền mà Thầy đã khơi dậy và sẽ truyền trao mãi mãi không để lu mờ.