Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 2
30. Pháp ngữ dạy chúng thiền viện Viên Chiếu

Năm Ất Hợi - 1995

Nhân ngày đầu xuân, chư ni Viên Chiếu mừng tuổi Thầy. Đặc biệt đây cũng là năm Viên Chiếu đã tròn 20 năm sống ở trong rừng, vì vậy hôm nay Thầy sẽ nói về việc này với tụi con.

Những năm đầu tiên, Tăng Ni ở các thiền viện đều chưa có phương tiện quay phim, chụp hình. Nếu có những hình ảnh đó, bây giờ đem ra triển lãm thì mới thấy bước tiến không thể ngờ! Lúc ấy ở trên núi xuống hai ba chục người, lương thực không đủ ăn. Thầy nghĩ, nếu Thầy lo nuôi chúng như khi còn ở Chơn Không thì chắc chắn không tài nào nuôi nổi.

Khi vào đây chỉ thấy toàn rừng với rừng, Thầy chỉ cho tụi con chỗ làm ruộng, chỗ nào cất nhà v.v… Bấy giờ Thầy chỉ nghĩ cách giải quyết sao cho hiện tại tụi con có cơm ăn áo mặc để tu, còn mọi việc mai kia ra sao từ từ sẽ tính. Nhìn miếng đất “lầy mà cấy lúa tốt”, Thầy tin rằng với đôi bàn tay và ý chí quyết tu, tụi con sẽ tạo được điều kiện sống ở nơi này. Nghĩ vậy nên Thầy quyết định cho mấy đứa con vô ở đây.

Thầy tin vào tụi con và tụi con cũng không phụ lòng tin của Thầy. Với lòng chân thành nghĩ tới đạo lý, tới sự tu thôi, mà từ những cảnh duyên xấu, hoàn cảnh khó khăn… tụi con đã làm tất cả biến thành cái hay, cái tốt. Ngày nay các thành viên buổi đầu đã đi nhiều nơi, số còn lại không bao nhiêu. Nhưng những đứa có mặt từ buổi đầu đến giờ, tụi con đều thấy rất rõ bước tiến của Viên Chiếu. Về hình thức, vật chất… thay đổi từng năm, mỗi năm mỗi đổi khác. Hiện nay, tuy nói hoàn bị nhưng thật ra chưa dừng ngang đây mà vẫn còn thay đổi nữa. Thầy nghĩ, nếu mình giữ vững lập trường trước sau như một thì sẽ tiến mãi không dừng, còn thay đổi như chong chóng thì không bao giờ thành tựu được điều gì hết.

Vì có lập trường nên Thầy hướng dẫn Viên Chiếu tụi con cũng như các thiền viện khác, đi từ con số rất nhỏ mà tiến dần lên được như hiện giờ. Do Thầy có hướng đi thực tế và tin chắc con đường đó không sai lầm, nên Thầy khẳng định để hướng dẫn tất cả Tăng Ni. Điều rất tốt là tụi con tin Thầy, dù lúc gặp hoàn cảnh khó khăn hay những trường hợp gay cấn… tụi con vẫn tin Thầy. Nếu Thầy có quyết định, có hướng đi cụ thể mà tụi con lại không tin Thầy thì chắc rằng không thể có được như ngày hôm nay.

Rõ ràng, trên nhờ sự gia hộ của Tam bảo, kế là sự khẳng định đường hướng tu hành của Thầy, dưới là tụi con có lòng tin nơi Thầy. Nhờ đầy đủ ba yếu tố ấy mới có kết quả như hiện tại. Nhờ tụi con cố gắng, trong cảnh cực khổ, khó khăn vẫn một lòng quyết tu, quyết tiến nên giữa rừng rú cỏ dại, từ cái trại rung rinh muốn sập bây giờ thành một ngôi già-lam tương đối khang trang. Ni chúng khởi đầu với một số rất ít, bây giờ đông đảo. Về nội tâm thì không ai biết được, nhưng về hình thức thì rõ ràng trong 20 năm qua, dần dần thành khoảnh tốt đẹp như thế này, thật không ai ngờ được. Đó là một sự thành công rất tốt.

Ở đây Thầy không đánh giá mặt làm việc giỏi, mà đánh giá về sự cố gắng tu hành của tụi con khiến cho Phật tử tin tưởng. Bởi tin tưởng nên họ mới chung lo, nếu nói tụi con làm ra cơm ăn để yên ổn tu thì thật tình là chưa bao giờ đủ ăn. Ăn còn chưa đủ, huống là có chùa. Làm không đủ ăn mà bây giờ chùa chiền khang trang, ấy là do Phật tử tin tưởng. Từ Thầy tin tưởng Tam bảo, tụi con tin tưởng ở Thầy, rồi Phật tử tin tụi con, cho nên ngày nay mới có sự tiến bước trên hình thức đáng kể như thế này.

Thầy thường nói với Tăng Ni rằng, chúng ta cứ thành thật nỗ lực tu thì Tam bảo không bỏ chúng ta. Thầy tin chắc như vậy. Nếu thiếu lòng tin thì không bao giờ tiến. Thầy nhìn lại, từ Thường Chiếu, qua Linh Chiếu, vô Viên Chiếu, cho tới mấy Chiếu kia, ở đâu cũng nề nếp, khang trang. Đó là nhìn về mặt hình thức vật chất, còn tinh thần thì sao?

Ngày xưa, lúc ở Chơn Không, Thầy tin chắc rằng dạy Tăng Ni 3 năm, từ năm 1974 đến năm 1976, Tăng Ni mãn khóa sẽ có đủ lòng tin với Tam bảo. Nhưng rất tiếc, mới hơn một năm thì thầy trò phải xuống núi làm ruộng rẫy. Từ đó, thời gian học, thời gian tu không còn được như Thầy sắp xếp buổi đầu, kéo dài tới bây giờ là 20 năm. Như vậy, thay vì xưa Thầy nghĩ 3 năm đủ lòng tin thì bây giờ là 20 năm mới đủ.

Sở dĩ kéo dài như vậy là vì thời gian trước ở Bát Nhã tụi con chỉ lo tu, lao động rất ít. Lại thêm mỗi tháng Thầy giảng luôn một tuần, vừa kinh luận và sử. Còn từ ngày xuống đây, tu và học rất ít mà lao động thì nhiều, nên phải kéo dài tới 20 năm mới đủ lòng tin. Như vậy để thấy rằng, nếu đứa nào trước sau không đổi ý, tức là tin chắc được Tam bảo, dù hoàn cảnh khó khăn thế nào cũng cố gắng thì dù không tiến mau, nhưng với thời gian dài cũng tiến chứ không lùi.

Như Thầy đã nói, Thầy tin chắc Tam bảo nên Thầy dạy tụi con cũng đủ lòng tin Tam bảo, rồi cứ thế nối tiếp mà dạy lại đàn em có đủ lòng tin Tam bảo. Được vậy thì trên thế gian này, ngọn đèn chánh pháp mãi không lu mờ. Thầy tuổi đã già, sự sống không biết kéo dài tới đâu. Nhưng sống tới đâu cũng được, miễn là sau Thầy có những người tin chắc Tam bảo và biết hướng dẫn người sau cùng tu. Đó là điều Thầy rất yên lòng.

Thầy yên lòng không phải vì chùa tốt, mà vì trách nhiệm bổn phận của Thầy đã tròn. Yên lòng khi nhìn thấy được những nét tiến của tụi con, từ hình thức đến tinh thần đều vững mạnh, đầy đủ lòng tin để hướng dẫn hậu lai. Thầy mong rằng, từ đây về sau, chẳng những tin mà tụi con còn sáng được đạo nữa. Chính mình đủ niềm tin, được sáng lý đạo, rồi đem ánh sáng đó chiếu soi cho mọi người cùng sáng, đó là sở nguyện của Thầy. Bởi Thầy thấy ở đất nước Việt Nam, người Phật tử thâm tín Phật pháp rất đông, nhưng ngọn đèn chánh pháp thì soi chưa được sáng, nên Phật pháp biến thành mê tín. Thầy nghĩ, đời Thầy phải làm sao cho mê tín tan dần. Muốn cụ thể sở nguyện này, Thầy dùng chữ Chiếu để đặt tên cho các thiền viện.

Chiếu tức là soi sáng. Đem chánh pháp soi sáng, xua tan mê tín mờ tối. Khi hai thiền viện đầu tiên ở đây ra đời, Tăng thì Thầy đặt Thường Chiếu, còn bên Ni thì Thầy đặt tên là Viên Chiếu. Thường Chiếu là chiếu hoài, sáng mãi không ngừng, không tắt. Viên Chiếu là chiếu soi trùm hết. Rồi sau các thiền viện tiếp tục ra đời, Thầy cũng dùng chữ Chiếu để đặt tên tiếp, với mong muốn ánh sáng được tăng thêm trùm khắp. Như vậy là biểu trưng đủ hết, cả thời gian và không gian. Về thời gian thì sáng soi mãi không dừng, về không gian thì trùm khắp không giới hạn.

Thầy nghĩ, biết đâu sở nguyện của Thầy mai kia biến thành sự thật, khi đó chắc Thầy không còn có mặt ở đây. Đời Thầy chiếu một lõm, đến lớp Tăng Ni kế thừa, mỗi Chiếu năm bảy mươi người, mỗi người ra gánh vác một nơi, mở mang đầy hết thì mới tròn. Ngày xưa một mình Thầy, bây giờ Tăng Ni lớp tụi con, lựa kỹ cũng được trên chục người, tức là tăng gấp mười rồi. Cứ như vậy mà từng lớp tăng lên, lúc đó sẽ có một số đông Tăng Ni truyền bá chánh pháp, làm cho ngọn đèn chánh pháp sáng khắp mọi nơi, không còn bị giới hạn nữa. Thầy trông cậy ở tất cả Tăng Ni đang theo tu học với Thầy, mỗi người cố gắng hết sức mình, nỗ lực tự tu và nhắc nhở huynh đệ cùng tu, để cho lòng tin Tam bảo luôn tăng trưởng. Đuốc trí tuệ được thắp sáng thì thế gian sẽ bớt mờ tối, chánh pháp của Phật được sáng lên thì mê tín, dị đoan sẽ không còn.

Khi giải thích về tu thiền cho mọi người biết, Thầy chỉ nói đơn giản “tu thiền là soi sáng lại chính mình”, tức là chiếu. Nghĩa là, lúc chưa biết tu thì để sáu căn đuổi theo sáu trần, bây giờ biết tu thì không để sáu căn phóng ra ngoài mà quay trở lại soi sáng chính mình. Đường lối tu rõ ràng, không có gì nghi ngờ. Tất cả tụi con khéo ứng dụng tu, nếu không tường tận thì ít ra cũng có được biết phần nào chứ không bị mê lầm như trước nữa.

Kỷ niệm 20 năm của Viên Chiếu, cũng là 20 năm của Thường Chiếu. Đây là kỷ niệm sâu đậm nhất đời Thầy, vì Thầy đã phải trải qua những năm tháng không được sáng sủa, cực khổ, phiền hà… đủ thứ. Ngày nay thì tương đối an ổn, nhẹ nhàng. Thầy tin tưởng lòng thành của tất cả tụi con xứng đáng để Thầy gửi gắm sở nguyện của Thầy. Vì vậy Thầy mong rằng, kể từ đầu năm Ất Hợi này về sau, những đứa lớn phải xứng đáng làm tròn trách nhiệm mà Thầy trông đợi, còn các người nhỏ thì phải ráng tinh tiến tu theo sự hướng dẫn của các sư huynh, sư chú, sư bác và sư thầy của mình, để đường tu được đi tới nơi tới chốn.

Đó là những điều Thầy nhắc nhở cho tất cả hiểu và cố gắng tu.

***

Năm Bính Tý - 1997 

Hôm nay, nói theo thế gian là sắp mãn năm Bính Tý qua năm Đinh Sửu, hay hết năm 1996 qua năm 1997. Tất cả chư Ni tại đây, các vị lớn, trên đường tu đã được 10 năm, 20 năm thì chắc rằng không còn ngờ vực gì về việc tu hành nữa. Riêng những đứa mới vào tu vài năm, ắt hẳn còn nhiều điều ngỡ ngàng, chưa thấu suốt.

Một năm trôi qua tưởng như dài, kỳ thật chẳng bao nhiêu, chỉ như giấc mơ thôi. Thời gian tuy không thật, nhưng mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm trôi qua thì sự tích lũy trên đường tu của mình, sẽ dồn chứa thêm giáo lý và đạo đức nên tâm sáng suốt và trí tuệ càng phát triển hơn. Như thế sự tu hành mới hữu ích, có hiệu nghiệm. 

Nếu qua một năm rồi, mà nhìn lại vẫn giậm chân tại chỗ, không tiến bộ chút nào thì thời gian đó chỉ là trôi suông uổng phí, không đem lại lợi ích cho bản thân và người xung quanh. Vì vậy, Thầy nhắc nhở chung, kẻ mới người cũ đều phải cố gắng tu để đồng tiến lên. Người cũ tiến xa, người mới tiến thêm, tất cả đều phải tiến. Giờ Thầy nhắc hai mặt: 

Một là, mỗi ngày tụi con phải nhớ khéo giũa gọt tất cả tâm tư, hành động của mình, trở thành sáng suốt tốt đẹp hơn. Chúng ta tu, điều quan trọng đầu tiên là đức hạnh. Đức hạnh có được từ ngôn ngữ và hành động. Ngày xưa mới vào đạo, hành động của mình còn nhiều thô tháo, sơ sót, phải khéo luyện tập sửa chữa lâu ngày. Hành động và ngôn ngữ của mình thuần thục, đó là đức hạnh. Lời nói và hành động không làm thương tổn đến người xung quanh, không làm đau khổ cho chúng sanh khác, đó là đạo đức. Vả lại, còn phải cố gắng làm cho huynh đệ cùng tăng trưởng lòng tin Tam bảo, mở sáng trí tuệ. Như thế mới đem lại đạo đức cho mình và người. Nếu mỗi lời nói, mỗi hành động chỉ làm người xung quanh tăng trưởng phiền não, đó là người không có đức hạnh.

Người tu phải cẩn thận, dè đặt từng lời nói, từng hành động của mình, làm sao một năm qua không phải hối hận một lần nào, về lời nói và hành động của mình đối với mọi người xung quanh. Nếu không cẩn thận, không dè dặt, cứ mỗi một tháng hối hận đôi ba lần, đó là sự tu chưa thuần thục. Cho nên đối với người tu, trước tiên là nói đến đức hạnh, mà đức hạnh từ ngôn ngữ và hành động của mình toát ra.

Vậy tất cả, từ lớn đến nhỏ, từ tu lâu đến mới tu, đều phải khéo dè dặt, sửa đổi lại ngôn ngữ và hành động của mình, để mỗi tháng, mỗi năm đều có tiến bộ, đức hạnh càng ngày càng tăng trưởng. Như vậy, bước tiến của người tu là bước tiến đạo đức. Nói đến đức hạnh là nói đến giới luật. Ở đây chúng ta không giữ những giới chi tiết như Nam tông, mà chỉ giữ những giới căn bản làm cho thân khẩu ý được thanh tịnh, đó là khéo giữ giới.

Hai là, bước tiến của nội tâm. Khi chưa biết tu, tâm như khỉ vượn điên đảo rối loạn, chuyền cây này sang cành khác không dừng một phút giây nào. Bây giờ đã biết tu, tụi con phải chặn đứng nó lại, vì đó là nhân tạo bao nhiêu thứ nghiệp sanh tử luân hồi trong muôn kiếp. Biết nó thì phải hạn chế, phải hàng phục, đừng để nó đủ sức mạnh lôi kéo mình nữa. Đây là điều hết sức gay go, khó khăn. 

Thế nên tụi con phải nỗ lực nhiều, trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, giờ nào cũng là giờ làm chủ, biết kiểm soát được mình. Nếu như vậy, tụi con từ một tâm lang thang loạn động, lần lần trở thành an tĩnh thanh tịnh. Đó là đã thành công trên đường tu. Nếu không hàng phục được, giả sử tu tới bao nhiêu năm đi nữa thì vẫn còn bị mầm sanh tử dẫn nối tiếp những đời khác, không bao giờ chấm dứt được. 

Giờ phút ngồi thiền là giờ phút thiêng liêng, là giờ quyết liệt nhất trong một ngày tu của mình, vì đây là giờ phút gác hết mọi sự, chỉ còn chăn giữ nội tâm. Cho nên, nếu giờ phút đó mà chểnh mảng, để mặc vọng tưởng lôi dẫn đi thì rất phí uổng. Cần phải chú tâm, vận dụng hết khả năng, hết sức tỉnh giác để thắng được nó. Giờ ngồi thiền thắng được thì ra ngoài khả dĩ mới thắng được, còn giờ ngồi thiền mà không thắng được thì khi ra ngoài chắc chắn sẽ bị vọng tưởng lôi dẫn đi. Không bao giờ có việc tu thả trôi mà được kết quả, kết quả là do nỗ lực cố gắng.

Khó khăn trên đường tu không từ ngoài đến, mà chính ở nội tâm mình. Hay nói cách khác, bởi do tập khí cũ đã chất chứa từ thuở nào, thói quen đó còn ẩn náu trong tàng thức, nên khi muốn nó yên lặng thì trở lại bị tán loạn. Vì vậy, nếu muốn sự tu hành được thành công thì khi có một ý niệm nào phát ra, phải thấy đó là lỗi lầm lớn, xóa bỏ liền đừng để nó lôi dẫn. Như vậy là khéo tu, còn nuôi dưỡng những ý niệm tốt xấu, cứ mặc tình để nó lôi kéo loạn động, tức là đã thua.

Nếu không nhiếp phục được thì tâm bao giờ an? Tâm không an thì đời tu của mình bao giờ được lạc. Phải nhớ, tâm loạn thì không vui, nếu có vui cũng chỉ là vui trong đùa cợt loạn động, chứ không phải niềm vui của thiền định. Tâm an thì dù ngồi thiền hay ngồi chơi ngoài gốc cây cũng thấy an vui, nhẹ nhàng, thanh thoát. Chúng ta tu làm sao cho đời mình vượt khỏi những hầm hố sâu thẳm của vô minh, ái ngã... Vượt qua được những hầm hố đó rồi, mới thanh thoát ngồi dưới gốc cây bồ-đề nhìn mây trời, nếu không thì sẽ quanh quẩn mãi trong khổ đau.

Tóm lại, mỗi người tu cần phải có đầy đủ hai điều: một là đức hạnh tốt, hai là nội tâm an nhàn thanh tịnh. Như vậy mới xứng đáng là người tu, đại diện cho đức Phật truyền bá chánh pháp. Nếu thiếu hai điều này là khuyết điểm lớn, vì không làm tròn bổn phận của người tu. Đó là phần Thầy nhắc về sự tu tập của mỗi người.

***

* Thầy dạy các vị làm Phật sự ở Viên Chiếu

Năm Đinh Sửu - 1997

Trước đây Thầy đã dạy về phần tu tự lợi, giờ Thầy nói đến phần làm lợi ích cho mọi người. Chúng ta tu tự lợi không chưa đủ, mà phải tu hạnh lợi tha nữa. Vì vậy, Thầy nhắc cho biết về phần tu cho người, mà phần chuyên môn nhà Phật gọi là tự giác và giác tha. Nếu mình tu được an ổn, thanh thoát thì phải làm lợi ích thiết thực cho người, vậy mới được đầy đủ công đức.

Trước khi muốn làm lợi ích cho ai, tự bản thân phải cố gắng thực hiện cho được sự an định của tâm mình, tức là làm lợi ích cho bản thân rồi thì sẽ làm lợi ích cho người khác được. Nếu mình còn phiền não rối rắm mà muốn giải phiền não cho người, dạy người khác tâm an định thì làm gì có chuyện đó. Tuy nhiên, việc này kỳ thật không đơn giản, vì muốn làm lợi ích cho người thì mình phải đầy đủ tư cách.

Thầy cần nhắc tụi con. Như trong kinh nói các vị A-la-hán khi nhìn thấy phiền não của chúng sanh vô số, các ngài chán nản muốn nhập Niết-bàn. Song với quan niệm của Bồ-tát thì khác, Bồ-tát nhìn chúng sanh ai cũng có phiền não, nhưng trong phiền não có viên ngọc quý. Bồ-tát dùng trí giác của mình, nhận chân được mỗi chúng sanh đều có viên ngọc quý báu, nên dù thấy chúng sanh bên ngoài phủ che trăm ngàn thứ xấu, các ngài vẫn không chán, không sợ. Muốn lấy viên ngọc bị chôn vùi từ lâu thì phải chịu mọi khó khăn cực khổ, phá vỡ những thứ che đậy nó. 

Viên ngọc là thật, những thứ che đậy là những bức màn, những tấm vải, là chuyện rắc rối tầm thường, là thứ bao phủ tạm thời không thật. Cho nên tâm niệm Bồ-tát độ chúng sanh không biết chán, vì biết chúng sanh có cái chân thật rất quý báu, còn cái giả chỉ là lớp bên ngoài mà thôi. Sở dĩ chúng ta phát tâm Bồ-tát làm lợi ích chúng sanh không buồn chán cũng không thối chí, chính là nhờ thấy được lẽ thật đó. 

Thầy làm Phật sự đâu phải tất cả mọi thứ đều như ý, cũng có đủ chuyện vui buồn, nhưng Thầy biết những thứ vui buồn đó chỉ là bên ngoài không đáng kể. Việc tối quan trọng là nơi mỗi người đều có cái chân thật, cần khai thác cho họ thấy, chỉ cho họ nhận ra. Bởi biết rõ như vậy nên Thầy không sợ. Thầy biết rằng nói đi nói lại nhiều lần thì mỗi người sẽ tự thấy, không mất đi đâu.

Hiểu rồi trên đường tu lợi tha mới không thối chí, còn không thì làm Phật sự một lúc rồi cứ muốn vào thất ở luôn. Bởi vì nay người này chê, mai người kia quấy nhiễu, đủ thứ chuyện đòi hỏi làm không nổi. Nhưng sự thật tất cả đều là vỏ bên ngoài, như người đang nổi sân đùng đùng, lúc đó trông họ rất hung dữ nhưng một lát thì nguội lại không còn đùng đùng nữa, sân đó có còn hoài đâu mà sợ! Biết rõ ai cũng có cái chân thật, còn tất cả phiền não đều tạm bợ. Vì vậy khéo tìm mọi phương tiện để chỉ giùm, giúp cho mọi người nhận ra. Đó là điều thiết yếu.

Huynh đệ tụi con đừng nghĩ rằng mình khôn, người khác khờ khạo. Khờ khạo chẳng qua là cái bên ngoài, còn viên ngọc bằng nhau không khác. Hiểu như vậy chúng ta không dám khinh rẻ nhau, đó là hạnh của Bồ-tát Thường Bất Khinh, trong kinh dạy rất đầy đủ. Bởi biết mọi người đều có cái thật như mình, nên không bao giờ dám khinh ai.

Như vậy xung quanh mình, không ai vô phước vô phần cả. Khôn thế gian là khôn do huân tập còn cái chân thật không do huân tập được. Huân tập những tốt xấu của thế gian, làm cho tâm ô nhiễm, gọi là lanh lợi. Ai được lanh lợi tưởng mình hơn, thấy kẻ khác khờ khạo tưởng họ thua. Nhưng đâu ngờ rằng, viên ngọc quý như nhau, không hơn không thua. Sống trong huynh đệ phải nhìn nhau bằng tánh giác đó, còn người có trách nhiệm dắt dẫn, phải nhìn chúng sanh đồng có tánh giác thì việc giáo hóa mới không nản. 

Thỉnh thoảng có những người tu ở thiền viện một thời gian rồi đòi cất thất ở, hoặc xin vô thất tu, vì bên ngoài phiền não hoài không tu được. Phiền não nếu thật thì mới tu không được, còn nó là giả thì có gì mà tu không được! Hiểu rồi trong chúng cùng tu vui vẻ, bao dung nhau. Nếu không sẽ ôm ấp cái sai biệt, rồi nuôi dưỡng hoài trở thành tập khí xấu.

Thế nên người lớn phải đặt nặng vấn đề lợi ích người khác, muốn lợi ích cho người thì phải nhớ họ có tánh giác, còn những phiền não xấu xa chỉ là giả, tạm thời mà thôi, đừng cố chấp hoài việc đó. Ráng khơi cho họ thấy được tánh giác, đó mới là trách nhiệm của người tu. Phải đem hết khả năng của mình để cùng chung sống tu đạo, nhắc nhở nhau cùng khai thác để những thứ mây mờ tan đi, tánh giác hiện bày. Đó là ý nghĩa sâu xa của đời tu, mới thật xứng đáng với tinh thần cao cả của người xuất gia học đạo. 

Ngược lại, cứ cố chấp với nhau thì sanh phiền não, từ phiền não nhỏ sanh phiền não lớn, rồi chồng chập nhiều lớp, thành ra vừa sâu vừa dày. Chừng đó than thở, sao trên thế gian phiền não quá, không biết chạy đâu tu cho được. Không chịu nhận cái thật, mà cứ chạm cái giả rồi bị cái giả đuổi chạy suốt đời, quên ông Phật vàng ngọc ngồi trong chùa. Đừng để chưa vào trong chùa đã dội ra bởi những sư tử giả để ở bên ngoài. Như vậy, mình phải là người thông minh biết lựa chọn. Trên đường tu ở đâu cũng có Phật, Bồ-tát. Không ai đáng chê cũng không ai đáng khinh. Phải quý kính hết mọi người. Đó là người tu chân thật, cũng là người làm Phật sự chân chánh.

Hôm nay Thầy có ít lời nhắc nhở, các vị có trách nhiệm ráng cố gắng thực hiện như lời Thầy dạy. Được như vậy thì mới xứng đáng là người xuất gia cầu giải thoát sanh tử.

***

Ngày 22/12/Đinh Sửu - 20/01/1998

Hôm nay nhân ngày cuối năm, Thầy về thăm những vị nhập thất và tất cả chúng Viên Chiếu. Theo lời thỉnh cầu của tụi con, Thầy có ít lời nhắc nhở.

Qua bao nhiêu năm Thầy thường tới lui Viên Chiếu, có khi rảnh thì đi thăm hết xung quanh, bận thì chỉ tới thăm và nói chuyện với tụi con rồi về. Hôm nay có thời gian đi giáp một vòng, Thầy nhớ hơn 20 năm trước, dẫn tụi con vào đây chỉ chỗ cho an cư lập nghiệp, với một khu rừng ẩm ướt, gốc cây đầy khắp. Lúc đó Thầy nghĩ, chẳng qua là có chỗ cho tụi con ở tu tạm thôi, vậy mà ngày nay nơi đây đã trở thành một khu già-lam, với khung cảnh rất đẹp như thế này. Đây là điều quá sức tưởng tượng của Thầy. Qua đây Thầy biết được, về hình thức cũng như tinh thần, trong sự tu hành tất cả từ lớn đến nhỏ đã từng bước chuyển biến tích cực.

Những năm về trước Thầy rất buồn, thấy tụi con làm lụng quá nhiều, thời giờ tu tập không có bao nhiêu, nên chưa có được kết quả tốt. Gần đây phần lớn là nhờ duyên đàn-na thí chủ ủng hộ, tụi con chỉ làm thêm một phần nhỏ thôi. Vì vậy công tác trong chúng được nhẹ và sự tu hành được tăng. Nhờ sự tu hành tăng nên qua những buổi đi thăm mấy đứa nhập thất, Thầy thấy đứa nào cũng có những bước tiến, hoặc nhiều hoặc ít chứ không ai giậm chân tại chỗ. Chứng tỏ hướng Thầy dẫn tụi con đi là hướng chân thật, sáng sủa chứ không phải lối quanh co hay u tối. Nhờ đi đúng đường lối mà tụi con được tăng tiến, từ đạo đức cho đến ngoại duyên, chỗ ăn chỗ ở khang trang, sự tu hành được thanh tịnh, tâm càng ngày càng trong sáng hơn. Đó là điều Thầy hết sức mừng.

Thầy luôn luôn nghĩ rằng, đời của Thầy không còn dài. Nếu nhìn lại đồ đệ của mình tu hành không tiến thì Thầy không biết sau khi Thầy trăm tuổi sẽ ra sao! Bây giờ Thầy thấy tụi con, lớn tiến theo lớn, nhỏ tiến theo nhỏ, đứa nào cũng có bước tiến đáng mừng. Vì vậy Thầy yên lòng, Thầy ra đi cũng có những người ở lại duy trì chánh pháp và hướng dẫn những người sau tu hành được kết quả tốt.

***

Ngày 22/12/Mậu Dần - 07/02/1999

Lúc mới xuống đây, Thầy trực tiếp làm việc với Thông Triệt. Thông Triệt có dẫn Thầy đi chỉ khu này làm gì, khu kia làm gì. Nhất là khu tụi con hiện giờ đang cất chùa, Thông Triệt nói rằng sẽ dựng tượng Quan Âm. Khi ấy Thầy chỉ nghe, không có một ý niệm gì hết. Ở đây ẩm thấp, Thầy chỉ có một lo nghĩ duy nhất là chỗ nào có thể cấy lúa được, chỗ nào có gạo ăn thì Thầy chấm chỗ đó thôi.

Thầy đưa tụi con vô đây làm ruộng, đặt cho tụi con một trách nhiệm hết sức đơn giản là làm cho có gạo ăn để tu. Không bao giờ Thầy đám nghĩ ngày mai ở đây có một ngôi chùa, có đủ những điều kiện khang trang như thế này. Vậy mà ngày nay ngoài việc có gạo ăn, tụi con còn kiến thiết được ngôi chùa, làm được những Phật sự mà Thầy có thể trông cậy nhiều. Đó là điều Thầy rất quý.

Như vậy tụi con mới thấy rõ ý nghĩa y báo và chánh báo của nhà Phật. Nhà Phật chủ trương con người có mặt trên thế gian này đều do hai phần: một là chánh báo, là con người. Hai là y báo, là ngoại cảnh. Chánh báo tốt thì y báo theo đó tốt, chánh báo xấu thì y báo theo đó xấu. Khu rừng hoang vắng, đất nước ẩm thấp, không ai nghĩ sẽ có một ngôi chùa khang trang. Nhưng tụi con quyết tâm tu, cùng nhau liều chết liều sống tạo phương tiện để ngày nay trở thành nơi khang trang cho huynh đệ cùng tu.

Vậy mới thấy cảnh tùy thuộc người, nếu không có những con người quyết tâm tu hành thì cảnh không bao giờ trở thành tốt đẹp được. Nếu không có giới đức, không có đạo lý thâm sâu thì dù ở giữa thành phố cũng dần dần trở thành hư hoại. Người có giới đức, có hiểu đạo lý thâm sâu thì dù ở nơi thôn dã, ở rừng rú cũng có thể tạo nên ngôi Tam bảo nguy nga tráng lệ. Đây không phải do Thầy làm, cũng không phải do một ai làm, mà là công đức chung của những người ham tu, những người quyết chí học đạo cho đến chỗ an lạc giải thoát. Đó là chuyển được cảnh xấu thành cảnh tốt, như các vị tổ thường nói: Chuyển Ta-bà thành Tịnh độ. Tịnh độ hay Cực Lạc không phải ở đâu xa mà chính ngay đây. Nếu chúng ta khéo tu, khéo gạn lọc ba nghiệp thanh tịnh thì cõi Ta-bà uế trược sẽ trở thành cõi Tịnh độ không nghi ngờ. Hình ảnh ở đây là chứng cứ cụ thể. Tụi con ngồi kiểm lại từ năm tụi con bước chân vào đây, so với ngày nay thì hình thức quá khác, quá sức tưởng tượng. Thường Chiếu cũng vậy, từ một khu cỏ xanh mà bây giờ trở thành ngôi già-lam. 

Thầy luôn nhắc tụi con chỉ sợ mình không tu, chứ đừng sợ mình không có chùa. Nhiều vị cứ lo cất chùa cho to, lo những hình thức cho tốt mà quên tu, đó là điểm yếu. Chúng ta cố gắng nỗ lực tu. Từ sự cố gắng, nơi mình đầy đủ công đức thì bên ngoài cũng theo đó được. Điều này cụ thể không nghi ngờ gì cả. Như vậy bên ngoài trang nghiêm không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà do khả năng tu tập trong nội tâm mình đưa đến.

Như tụi con thấy, Thầy cất chùa không bao giờ than với Phật tử là Thầy hết tiền Phật tử ráng ủng hộ, hoặc gửi thư nhờ Phật tử giúp đỡ. Chỉ cần nói rằng Thầy cất chùa, làm Phật sự gì đó thì Phật tử hưởng ứng. Cũng như ở đây, tụi con không than vãn với ai, nhưng khi làm có đủ phương tiện, đủ điều kiện tốt đẹp, làm không khó khăn. Điều đó chứng minh lòng thành của mình lo cho đạo thì hộ pháp gia hộ, Phật tử hưởng ứng, Phật sự viên thành. Nếu cho những người không thích tu hoặc tu trễ nải lãnh ngôi chùa lớn, mai kia sẽ trở thành nơi hoang sơ. 

Hiểu được lý này, tụi con cố gắng mỗi năm trên đường tu mỗi tiến, đừng để phiền não ở ngoài đắp vô tâm thanh tịnh của mình. Luôn luôn cố gắng dẹp trừ những thói hư tật xấu, những phiền não ở nội tâm, trở thành một cây bồ-đề xanh tươi, một cây sa-la đầy đủ hoa thơm cho mọi người đứng dưới được mát mẻ. Vậy là Thầy cũng như tụi con đã làm được chút Phật sự để lại cho thế gian, chứ chỉ tu lôi thôi có chừng, khi mất thân này sẽ hối hận. Đó là điều đáng tiếc. 

Ngày cuối năm, Thầy không mong gì hơn, chỉ mong tụi con, những gì chưa hay, chưa tốt còn ẩn trú trong nội tâm mình, cuối năm này phải rũ cho sạch, sang năm mới toàn là thứ hay thứ tốt sẵn đủ và phát triển thêm. Đừng nuôi dưỡng chất chứa những thứ dỡ để rồi năm cũ qua, năm mới tới, những bệnh lây nhiễm còn hoài thì không hay không tốt. 

Thầy mong rằng tất cả tụi con từ nay mãi về sau cố gắng tinh tấn tu, xứng đáng là người con dòng họ Thích. Nhìn tượng Phật, nhìn quý Thầy, nhìn Phật tử, lúc nào lòng cũng an ổn vui tươi, không phải hổ thẹn với Phật, với những bậc tôn túc, hổ thẹn với Phật tử. Đó là chỗ mong mỏi của Thầy.

***

Năm Ất Dậu - 2005

Ngày trước, mỗi năm mỗi tháng đi thăm một hai lần, kỳ này Thầy vì tuổi già và không có sức khỏe nên ít đi tới đi lui nhiều, có thể đôi ba năm mới thăm một lần. Lần này Thầy tới đây thăm, có những cảm tưởng nhắc lại cho tụi con biết. 

Khi xưa dẫn tụi con vô đây, Như Đức, Huệ, tụi con thấy ngán không? Chỉ có rừng rú, không có gì đáng để gọi là thiền viện, nhưng Thầy bắt mấy đứa ở đây tu. Có thể mấy đứa cho là Thầy độc tài, bắt buộc phải ở thì ở, chứ không dám cãi. Ở đây so với Linh Chiếu thì tối tăm u mê, rừng rú quá. Vậy mà tụi con cũng nghe lời Thầy rồi cố gắng, vừa tu vừa xây dựng, từ đó tới bây giờ là bao nhiêu năm?

- Dạ, 30 năm. 

Như vậy là 30 năm, từ chỗ rừng rú mà bây giờ đã là một ngôi chùa thanh tịnh có cổng, chánh điện, thất... đầy đủ để tụi con yên ổn tu. Buổi ban sơ không có phương tiện, thiếu thốn mọi bề, nhưng quyết tâm tu, quyết tâm xây dựng thì từ cái không trở thành cái có.

Đứng về mặt hình thức, thiền viện Viên Chiếu lúc ban sơ trước đây 30 năm cho tới bây giờ cách nhau bao nhiêu? 

- Dạ, cách xa nhiều lắm. 

Không thể tưởng tượng nổi, nếu ai hồi xưa đi tới đây chụp hình, bây giờ chụp lại mới thấy khác biệt vô cùng. Nhưng hồi xưa đâu có máy, cũng đâu có ai chụp. Như vậy đứng về mặt hình thức, bước tiến của Viên Chiếu có thể nói là vượt bậc chớ không phải đi từng bước.

Tất cả chúng ta tu với bản nguyện giải thoát sanh tử, thì mỗi ngày đều phải tiến, tiến cho đến đạt được giác ngộ giải thoát. Mục tiêu đó không thể thiếu. Ngày nay tụi con được ở chỗ nơi sang trọng hơn xưa, cũng phải nhớ cái khổ của mình trước kia. 

Từ cái khổ hình thức đó, tới ngày nay được hình thức tốt đẹp, thì nội tâm của mình cũng phải chuyển theo cho kịp. Ngày xưa tụi con còn mù mờ, sân hận, ngày nay đã hết mù mờ, hết sân hận chưa? 

- Dạ, đã bớt mù mờ, tập khí có giảm. 

Ai cũng nói tập khí khó bỏ, khó chừa nhưng tụi con nói có giảm, điều này còn phải thí nghiệm. Thật ra tu phải thấy có hai phần. Một phần là hình thức vật chất, hiện giờ trải qua 30 năm khác xa trăm phần. Một phần về tinh thần, chờ tụi con gặp duyên gặp cảnh, tiến bộ như thế nào, lúc đó mới chứng thực được. Nhưng Thầy cũng hy vọng trong cái khó khổ, tụi con chịu đựng được thì ngày nay dễ dàng thuận tiện. Chắc rằng tụi con cũng phải thấy nó đáng cho mình tiến lên, không có lui sụt. Hơn nữa, ngày xưa tụi con còn trẻ có tính cách trẻ con, bây giờ mấy đứa đi trước còn trẻ không? 

- Dạ, hơi già. 

Tính cách của bà già thì khác biệt. Ba mươi năm tước, tụi con học xong, vô đây ở tu, ít ra cũng hăm mấy tuổi, tới bây giờ cũng 50, 60 tuổi hết rồi. Mấy chục năm ở trong khu rừng này. Vậy tụi con cũng khéo chuyển từ một khu rừng u mê trở thành một ngôi chùa quang đãng. Hai từ “u mê” và “quang đãng” cho tụi con thấy rằng khởi sự ban đầu không bao giờ là tốt hết. Khởi sự là cái dở xấu, chúng ta khéo ứng dụng tu theo lời Phật dạy sẽ trở thành tốt, bảo đảm trăm phần trăm. Cũng như cái chùa này từ chỗ hoang vu, không người biết tới mà bây giờ trở thành nơi quang đãng, xe cộ tới lui dễ dàng. Đó để thấy rằng một khi tu thì công phu từ dở trở thành hay, từ xấu trở thành tốt, chứ không phải hồi xưa có bao nhiêu bây giờ cũng có bấy nhiêu, phải chuyển từ từ.

Thật ra ngày xưa chỉ tụi con ở chỗ này, Thầy cũng thấy ái ngại lắm. Bởi vì tụi con là dân học trò mà bắt đi cấy cày, làm ruộng làm rẫy thì chuyện đó không phải dễ. Cho nên, Thầy cũng ráng đi tới đi lui. Có nhiều buổi chiều, Thầy chống gậy từ Thường Chiếu vô đây, từ đây về Thường Chiếu, có lần đi xe đạp còn bị té nhào. Vì thấy tụi con khó khổ, Thầy không nỡ để tụi con khổ mà muốn chia sớt phần nào, để tụi con thấy rằng Thầy làm cái gì cũng có thủy có chung, chứ không phải quăng đó rồi hết. 

Nhớ ngày xưa, Thiện Trung đi một chiếc xe đạp, Thầy đi một chiếc. Thầy mới tập nên đi trước, Thiện Trung đi sau. Gần tới ngã ba, Thiện Trung đi trước dẫn đường, Thầy đi sau. Tới cửa Thường Chiếu, Thiện Trung quẹo vô, Thầy không nhìn cứ lo đi thẳng, rồi Thầy quẹo theo, thành ra ngã cái đùng, được té xe đạp một lần. Rồi vô đây, đi qua mấy cái mương, bị sụp té nên Thầy đau tới bây giờ.

Kể lại chút chút chuyện để tụi con thấy buổi ban sơ, Thầy cũng cố gắng làm sao cho tụi con có phương tiện để hướng tới, chứ không chán nản rút lui. Lúc đó, nếu ai có tâm hơi chán nản thì chắc ở tới giờ không nổi. Bởi vì Thầy thấy rõ ở ngoài Thường Chiếu dù sao cũng gần đường, đất đai trống trải, còn trong này xa xôi hẻo lánh, đất đai lầy lội. Vậy mà tụi con cũng cố gắng tối đa, làm được như vầy đúng là cái gì quyết tâm đều có thể làm được, dù tụi con là phái nữ. Người ta cứ nghĩ phái nữ không làm được chuyện nặng mà tụi con chuyển được một khu đất rừng cây cối um tùm thành có hoa có quả, đó là cái công của tụi con.

Hôm nay, Thầy về đây để ôn lại những gì năm xưa, nhắc tụi con hai điều. Đối với hình thức chùa chiền, tụi con đã thành công, còn về tinh thần tu tập thì Thầy chưa thấy rõ. Nếu được vui vẻ tu tập thì Thầy hy vọng. Chẳng lẽ quăng tụi con trong rừng, phá rừng rồi trở thành phàm phu sao? Mình phá rừng là để vừa làm vừa tu. Khu rừng này, cây cối vô ích đã chặt hết, trồng lại cây có hoa có quả cho đẹp thì nội tâm tụi con cũng phải như vậy. Những thói quen cũ, những gì xấu dở phải ráng dẹp sạch để tâm hồn được thanh thản nhẹ nhàng như khu vườn hiện nay. Như vậy mới khỏi hổ thẹn. Còn hình thức tốt mà bên trong đen thui thì chưa xứng đáng.

Với ngoại cảnh, Thầy thấy tụi con có được một khung cảnh an ổn tu hành, vắng vẻ ít người, ít xe lộ là được lắm rồi, chỉ còn một việc là tụi con cần phải cố gắng nơi nội tâm. Đó là lời Thầy nhắc nhở. Không biết bao lâu, Thầy mới lại về thăm, nhưng lần này Thầy cho là lần chót Thầy đi thăm các thiền viện. Nói cho tụi con biết, nhắc cho tụi con hiểu để rồi ứng dụng tu, sau này dù Thầy không tới, tụi con cũng nhớ mà cố gắng tinh tấn tu, làm sao như cái tên Viên Chiếu, sáng tròn chứ không khuyết.

Tụi con cũng vậy, làm sao cho tâm luôn tròn sáng, những gì vui buồn tẩy hết đi, không để nó làm dơ bẩn. Đó là tụi con khéo tu. Chứ còn ở Viên Chiếu mà đứa nào trong tâm cũng buồn buồn rầu rầu thì hết chiếu nổi. Người nào mù mịt quá thì phải cố gắng tỉnh. Cố gắng không được thì rời đi chứ còn ở mà làm huynh đệ mù mịt theo thì không tốt. Thật ra không ai lập thiền viện ra, có 10 người mà vẫn thủy chung 10 người, cùng tiến đều như nhau, thỉnh thoảng vẫn có một hai người lui sụt. Nếu không can đảm vươn lên thì họ phải rút. Đó là chuyện thường. Cho nên, tụi con cố gắng giữ đúng lập trường, đúng thời khóa tu hành. Ai không chịu thì tự ý rút lui, không có gì phải buồn. 

Thầy nhắc để tụi con cố gắng, mỗi đứa cố gắng một chút để thành một Viên Chiếu không có chỗ nào tối, như trăng rằm không có mây, chỗ nào cũng thấy sáng. Sáng có hai cách sáng, một là tươi sáng, hai là ở trong mát được sáng. Ở đây, Thầy chỉ muốn được tươi sáng dù đen như Cao Miên đi nữa. Cái quý của mình là tâm hồn tươi sáng, nên sống với mọi người đều vui, ai tới thấy cũng vui. Đừng nghĩ đến thể xác mình cực khổ, đen đúa mà chỉ nghĩ tu sao cho được kết quả là tốt. Đó là mong mỏi của Thầy, mong tụi con đạt được sở nguyện.

***

Tất cả tụi con phải luôn nhớ, mình tu vì một mục đích duy nhất là giác ngộ giải thoát sanh tử, nên mới cùng chung hợp lại đây để khép mình trong khuôn đạo lý. Vì thế không được buông lung theo những điều vô ích, làm mất thời giờ trên đường tu của mình. Từ đây về sau, cơ sở vật chất và thời khóa tu học… mọi thứ đều đã ổn định, tụi con phải nhớ luôn luôn tạo duyên tốt, chứ không hài lòng ngang đó mà không tăng tiến thêm nữa.

Nhân đây, Thầy nhắc thêm vài điều thiết yếu trong cuộc sống: 

Điều thứ nhất là luôn giữ nếp sống Lục hòa. Nếu ứng dụng được lục hòa rồi thì trong cuộc sống mọi thứ sẽ dễ dàng hơn. Bởi vì huynh đệ sống chung, nếu không dùng tình hòa để đối xử với nhau, mà tâm còn đố kỵ, tranh hơn tranh thua... thì tâm không bao giờ an. Tâm không an thì tọa thiền không có kết quả. 

Điều thứ hai là huynh đệ phải thương yêu và thông cảm nhau. Trong chúng có những người khỏe cũng có những người yếu, có những người thông minh, cũng có những người không được thông minh... tụi con phải đem hết tâm từ bi của mình để bao dung cho huynh đệ. Người khỏe giúp người yếu, người thông minh giúp người kém hơn, để cho tất cả đều tiến đồng đều nhau. Như vậy sự tu hành sẽ đạt nhiều kết quả tốt đẹp.

Điều thứ ba là khi tu phải gan dạ, cương quyết, dứt khoát. Đối với những việc thời quá khứ mà mình còn chấp chứa trong lòng, cần phải buông xả đừng hối tiếc. Buông xả dứt khoát sẽ giúp cho đường tu được nhẹ nhàng, sẽ tiến nhanh hơn. Nếu tu mà những việc quá khứ đã huân tập tới bây giờ, vẫn còn lưu lại trong tâm mình thì chắc chắn tu khó mà tiến được. Vì vậy tụi con đều phải dứt khoát, đừng để những phiền não xấu dở lưu luyến trong lòng, làm mờ yếu chí quyết tiến tu trên đường đạo.

Thầy nghĩ rằng, tất cả tụi con đứa nào cũng đã quyết tâm, thực hiện bằng được những điều thiết yếu này thì chắc chắn sẽ có kết quả trăm phần trăm, không nghi ngờ. Đó là những lời thầy nhắc nhở hôm nay, mong tất cả cố gắng.  

Mục Lục