Ngày 02/01/Canh Thìn - 06/02/2000
Hôm nay là ngày Tết Nguyên đán năm Canh Thìn, tôi về đây được Tăng Ni tụ hội tại Tổ đường này làm lễ Khánh tuế, đồng thời cũng yêu cầu tôi có những lời nhắc nhở trong ngày đầu năm, quý vị nương đó tinh tấn tu hành, chóng đạt được đạo quả. Tôi nhận lời và sẽ có những điều nói lên cho quý vị nhận ra, hiểu rõ để ứng dụng tu.
Năm này đối với tôi thì tuổi đã khá cao, sự sống của tôi còn được lúc nào thì mừng lúc ấy, chớ không có gì bảo đảm lâu dài. Bởi vậy những gì tôi đã ấp ủ từ lâu, mong muốn thực hiện thì ngày nay tôi sẽ nói rõ cho tất cả Tăng Ni nhận hiểu. Mai kia nếu quý vị thấy được đạo lý chân thật và tinh tấn tu hành, có hiệu quả thì quý vị cố gắng thực hiện những gì tôi đang ôm ấp và chỉ dạy cho quý vị hôm nay. Vì vậy buổi nói chuyện này, tôi để tên là Hoài bão của tôi.
Hoài bão của tôi tức là những nỗi ấp ủ, trông chờ, mong đợi, thực hiện cho được. Những điều đó tôi ôm ấp đã lâu rồi, nhưng chưa có cơ hội để trình bày rõ ràng cho Tăng Ni thấy biết và hiểu rõ.
Nói tới hoài bão của tôi thì tất cả ai cũng lạ, nghĩ đó là cái gì quý vị chưa từng nghe, chưa từng biết. Nhưng thật sự hoài bão của tôi đã trưng bày cho tất cả thấy, tất cả biết rồi, nhưng chưa hiểu được thâm ý của tôi. Như vậy, khi nói tới hoài bão thì tôi liền đặt ra một câu hỏi để quý vị nhớ. Tại sao tôi đặt tên thiền viện này là thiền viện Thường Chiếu? Nếu quý vị hiểu được tên thiền viện Thường Chiếu tức là đã cảm thông được hoài bão của tôi.
Chữ Thường Chiếu, tôi thường hay nói có hai ý. Ý thứ nhất là đứng về phương diện lịch sử. Thường Chiếu là hiệu, tên của một thiền sư cuối đời Lý. Thiền sư này ở tại chùa Lục Tổ, tức ngài chịu ảnh hưởng hay được kế thừa hệ phái Vô Ngôn Thông. Nhưng chùa Lục Tổ lại là chùa của hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và hệ Vô Ngôn Thông tới đây đã hòa hội thành một. Chỗ của ngài ở và truyền đạo chính là nơi hòa hội. Cho nên tôi thấy danh hiệu của ngài xứng đáng kế thừa, xứng đáng hòa hội những phái thiền Việt Nam trở thành một, để lưu truyền sau này. Đó là nói về ý nghĩa của lịch sử. Nhưng đây chỉ là phần nhỏ, chưa phải là hoài bão của tôi.
Hoài bão của tôi thì nằm ngay hai chữ Thường Chiếu. Thường là luôn luôn, là mãi mãi. Chiếu là soi sáng. Luôn luôn mãi mãi soi sáng, đó là Thường Chiếu. Khi thành lập thiền viện Thường Chiếu đồng thời có thiền viện Viên Chiếu. Lúc đó, hai thiền viện ra đời trước ở vùng này. Tôi đặt bên Ni là Viên Chiếu, cũng mang hai ý nghĩa. Một là tên một thiền sư đời Lý và một ý nghĩa khác nữa, Viên là tròn, Chiếu là soi sáng.
Thường Chiếu là đứng về mặt thời gian, chiếu mãi, soi sáng mãi, không ngừng, không đứt đoạn. Đó là ý nghĩa Thường Chiếu. Đứng về chiều thời gian, nó liên tục cho tới không biết đâu là cùng. Đó là Thường. Nhưng nếu thường như vậy, có thể bị khu biệt trong một khu vực nào, một ngôi chùa nào miễn thường là được. Cho nên tôi đòi hỏi thêm một điều nữa là phải viên. Viên là tròn. Tròn tức là đứng về mặt không gian trùm khắp. Như vậy Thường Chiếu là mãi mãi lâu dài, Viên Chiếu tức là trùm khắp hết. Đứng về mặt thời gian thì mãi mãi không cùng, đứng về mặt không gian thì bao trùm không thiếu.
Như vậy thì nguyện vọng, tâm tư của tôi có thể là tham. Tôi muốn Phật pháp hay là con đường của Thiền tông, ngọn đuốc của nhà thiền sẽ soi sáng, soi sáng mãi không dừng, không tắt. Chẳng những soi sáng một nơi mà soi sáng trùm hết. Đó là mong đợi, là ấp ủ trong lòng tôi. Ngày nay Thường Chiếu đã thành hình, Viên Chiếu cũng thành hình, cộng thêm ba Chiếu nữa cũng thành hình. Những nơi tôi dùng từ “Chiếu” ở sau là đều nói lên ý nghĩa soi sáng.
Quý vị mới thấy tâm tư tôi ấp ủ, mong mỏi một ngày này. Hiện tại tôi làm được bao nhiêu cũng như tôi thắp một ngọn đuốc. Từ ngọn đuốc đó, đứng về hai mặt, chiều dài thì ngọn này sắp tắt, ngọn khác nối tiếp theo. Ngọn khác tắt thì ngọn sau nối tiếp theo, mãi mãi không cùng không tận. Đó là thường. Nhưng chỉ một ngọn này tắt tiếp một ngọn khác thì chỉ là chiếu ở một khu vực nhỏ thôi. Mà tôi không muốn như vậy, tôi muốn làm sao một ngọn đuốc được mồi với 10 ngọn đuốc, 20 ngọn đuốc. Rồi 10 ngọn, 20 ngọn sẽ mồi được ba bốn chục ngọn. Mãi mãi từ một khu vực nhỏ lan dần lan dần cho tới khắp nơi, chỗ nào, chốn nào cũng sáng hết. Đó là hoài bão của tôi. Quý vị thấy có tham không? Nếu tham cho tôi thì tham, nhưng tham cho quần chúng, tham cho mọi người, chắc không phải là tham.
Tại sao tôi lại đặt nặng chữ “Chiếu” như vậy. Bởi vì trong kinh Phật đã dạy: “Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp”. Phật dạy, mọi người chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc của mình lên. Nhưng ngọn đuốc của mình phải mồi ở đâu mới sáng, mới cháy. Mồi với chánh pháp của Phật, chánh pháp của Phật là những ngọn đuốc đang cháy sáng. Chúng ta muốn ngọn đuốc mình sáng thì phải mồi từ chánh pháp, nó sẽ sáng. Đó là lời Phật dạy trong kinh.
Chư Tổ trong nhà thiền thì luôn luôn dùng từ chuyên môn là “Truyền đăng tục diệm”. Truyền đăng tức là trao đèn, tục diệm là nối đuốc. Chư Tổ dạy chúng ta phải trao đèn, phải nối đuốc để cho ánh sáng liên tục không dừng. Như vậy đức Phật đề cập tới thắp đuốc lên mà đi, chư Tổ cũng luôn luôn dạy chúng ta phải tiếp nối, phải trao truyền bằng những ngọn đèn, những cây đuốc để hướng dẫn người sau.
Tại sao Phật lại đặt nặng cây đèn ngọn đuốc. Bởi vì nói tới đạo Phật, nói tới đức Phật thì chúng ta phải hiểu ngay Phật là giác ngộ. Đạo Phật là phương pháp dạy chúng ta giác ngộ, hay là con đường đưa chúng ta đến chỗ giác ngộ. Mà giác ngộ là sáng. Nói tới giác ngộ là nói tới sáng suốt. Như vậy giác ngộ được tượng trưng bằng những ánh sáng đèn, ánh sáng của đuốc và luôn ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Nói tới giác ngộ là nói tới trí tuệ, nói tới ánh sáng. Như vậy thì chúng ta truyền bá đạo Phật là truyền bá sự giác ngộ, truyền bá trí tuệ, chớ chúng ta không bao giờ truyền bá những cái mờ tối, những cái âm u được.
Đạo Phật là giác ngộ, là trí tuệ, cho nên được tượng trưng bằng đèn bằng đuốc. Nếu không có giác ngộ, không có trí tuệ là không có đạo Phật. Vì thế cái hệ trọng của người tu Phật như thế nào? Chúng ta tu phải có giác ngộ, phải mở sáng con mắt trí tuệ. Có trí tuệ rồi thì chúng ta mới chỉ, mới dạy lại những người khác mở sáng con mắt trí tuệ được. Nếu chúng ta mù tối mà dạy người được sáng thì phông có chuyện đó. Trong tay chúng ta không có một cây đuốc mà muốn đốt đuốc để dắt dẫn người khác đi ra khỏi đường mê, được không? Muốn dẫn người ta ra khỏi chỗ tối tăm mù mịt thì trong tay mình phải có sẵn một ngọn đuốc sáng. Mình có đuốc sáng thì mới dìu dắt người ra khỏi chỗ u tối được.
Như vậy tu theo đạo Phật mà không đặt nặng vấn đề giác ngộ, không đặt nặng mở sáng con mắt trí tuệ, thì chưa phải đạo Phật. Ý nghĩa rõ ràng như vậy. Nhưng gần đây chúng ta thấy người tu hơi lơ là, không đặt nặng trí tuệ. Bởi không đặt nặng trí tuệ nên chúng ta càng tu càng đi xa với đạo. Đó là vì mình không nhắm đúng trọng tâm mà Phật đã nhắm. Đức Phật đi tu, thành Phật là do giác ngộ. Từ giác ngộ Ngài mới đi truyền đạo, nếu Ngài không giác ngộ thì không có đạo Phật.
Nói tới đạo Phật mà không nói tới giác ngộ là tột thiếu sót lớn. Cho nên chúng ta phải thấy rõ trách nhiệm của mình là làm sao cầm được ngọn đuốc sáng trong tay, để dẫn người từ chỗ mê lầm ra chỗ tỉnh giác, từ chỗ tối tăm đến chỗ sáng suốt. Đó mới là việc bổn phận của mình. Nếu làm cái gì khác chỉ là việc phụ, chớ không phải chánh.
Ở đây, tôi dùng chữ “Chiếu” là soi sáng. Lấy cái gì để soi sáng? Tức phải thắp đèn, phải mồi đuốc. Thắp đèn mồi đuốc mới có thể soi sáng được. Đó là trọng tâm. Bởi vì tất cả chúng ta đã nguyện trọn đời tu để được thành Phật. Thành Phật tức là được giác ngộ viên mãn. Nếu tu một năm, hai năm, ba năm tới năm mười năm mà không giác ngộ tí nào hết, là tu đúng sở nguyện của mình chưa? Đó là câu hỏi mà tất cả quý vị phải tự đặt ra.
Nếu càng tu càng mù mịt, càng tu càng không biết được cái gì là gốc của sự giác ngộ hết thì chưa phải là tu theo Phật. Dù thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật hằng ngày mà ở trong tâm mê muội thì chưa phải là tu theo Phật. Cho nên đối tượng của sự chiếu soi là mê lầm. Cũng như đối tượng của ngọn đèn, cây đuốc là bóng tối. Sở dĩ chúng ta mồi đèn, thắp đuốc là vì tối. Do tối mới mồi đèn thắp đuốc. Cũng vậy, vì muốn phá tan vô minh mê lầm muôn đời muôn kiếp của con người, nên chúng ta mới tu theo Phật để được giác ngộ. Chỉ có giác ngộ, dùng trí tuệ phá tan hết những thứ mê lầm, vô minh. Đó là gốc của sự tu.
Biết bao nhiêu người đi tu Phật, họ làm những điều rất tốt, thương người, cứu vật đủ hết. Nhưng thương cứu mà chưa sáng chưa giác, đó cũng là một người mù dân một người mù thôi, không đi tới đâu hết. Cho nên chúng ta cương quyết tu là phải sáng, phải giác ngộ. Như vậy còn chỗ nào tối tăm, chúng ta phải thắp đèn, đốt đuốc rọi cho sáng.
Sự tối tăm của thế gian là nhờ đèn nhờ đuốc mà phá tan. Nhưng muốn phá sự tối tăm của con người thì phải nhờ gì? Nhờ trí tuệ, nhờ giác ngộ. Trí tuệ, giác ngộ mới phá tan được cái tối tăm mê lầm của con người. Con người tối tăm mê lầm cái gì, chỗ nào? Đó là một câu hỏi để chúng ta tự gạn tự xét. Chúng ta có phải là người đang mê lầm, đang tối tăm không? Chắc ít ai dám nói mình là người mê lầm, tối tăm. Nhưng thật sự tất cả chúng ta đều là người mê lầm. Không ai chẳng mê lầm cả.
Bây giờ tôi đi thứ tự, trước hết là cái mê lầm trong Phật giáo. Đã nói tu là giác ngộ, cho nên nói tới người tu, lý đáng ít nhiều cũng phải giác, chớ không được mê. Nhưng bây giờ, chúng ta thấy rất đáng thương nhiều nơi, nhiều chùa tu chỉ là tin, chớ không có trí. Cúng Phật, Phật ban phước. Lạy Phật được công đức. Làm cái gì cũng nhờ Phật ban phước, nhờ Phật độ cho. Bị tham sân si quấy nhiễu, sống bực bội khổ sở, lên chùa thắp hương cầu nguyện Phật gia hộ cho con hết phiền não. Cái gì cũng Phật hết. Mình không có tu, chỉ xin Phật, cầu Phật cho thôi.
Như vậy là tu bằng trí tuệ hay bằng lòng tin. Nếu bằng lòng tin thì không phải là trí. Mà không phải trí thì không có giác. Không có giác thì sao? Thì mê. Nhiều khi tôi rất buồn, Phật tử của chúng ta cứ ỷ lại vào chư Tăng Ni. Nếu có bệnh thì nhờ thầy cầu an, nếu chết thì nhờ thầy cầu siêu. Cứ cúng tiền cho thầy cầu an, cầu siêu. Như vậy là hài lòng, cho là tu kỹ rồi đó.
Tôi đặt câu hỏi lại: Nếu Phật tử bệnh, nhờ thầy cầu an, thầy bệnh nhờ ai cầu an? Chắc nhờ bác sĩ. Như vậy tại sao Phật tử bệnh không nhờ bác sĩ cho rồi. Nếu thầy bệnh, thầy tự cầu an được, hoặc Tăng Ni có đức cầu cho mình hết bệnh, thì Phật tử mới bắt chước làm theo. Đằng này thầy bệnh rước bác sĩ, mà Phật tử bệnh rước thầy cầu an. Tin được không, làm việc đó có trí tuệ không? Đó là tôi nói khi sống. Còn lúc chết, nếu cầu được siêu thì chắc ngày xưa đức Phật đi cầu liên miên, phải không? Vì Ngài độ chúng sanh mà. Quý vị đọc lịch sử Phật, thấy có đám ma nào đức Phật đi cầu siêu không? Chưa từng thấy. Phật từ bi đáo để, muốn độ hết chúng sanh mà Ngài không cầu. Bây giờ chúng ta từ bi hơn Phật sao? Rõ ràng chúng ta hướng dẫn Phật tử chỉ biết cầu mà không biết tu.
Trong kinh Phật dạy quá rõ. Người tạo nghiệp lành sẽ được đến cõi lành. Người tạo nghiệp ác phải vào cõi ác. Không phải người khác cầu cho mà mình được. Chỉ có thể giúp khi mình sắp từ trần, chư Tăng hoặc chư Ni hướng dẫn nhắc nhở cho mình tỉnh. Điều đó có ích. Tôi đọc A Hàm, nhớ vị cư sĩ được đức Phật khen ngợi là người cúng dường rất thâm hậu cho chư Tăng là ông Cấp Cô Độc. Khi ông gần tịch, có cho người đến báo tin với Phật. Ông dặn người báo tin xin Phật cho phép ngài Xá Lợi Phất tới thăm ông. Phật cho phép ngài Xá Lợi Phất tới thăm. Tới nơi, ngài không lập đàn cầu an mà chỉ hỏi:
- Trưởng giả lúc bình thường tu những pháp gì. Trưởng giả có giữ được năm giới không?
Ông trả lời:
- Con giữ trọn vẹn năm giới.
- Trưởng giả có tu được sáu pháp không? (Sáu pháp tức là bố thí, trì giới v.v...
- Dạ, con tu pháp đó được rồi.
Ngài cứ nhắc lại những gì mà ông đã hứa, đã tu cho ông nhớ. Rồi kết luận: “Trưởng giả đừng ngại, ông sẽ đi con đường lành, không có gì phải lo sợ hết”. Sau đó ngài Xá Lợi Phất ra về, không có tụng bài kinh nào. Đó là đạo lý chân thật.
Chúng ta bây giờ cứ lo tụng kinh mà không biết cầu được hay không. Ngày xưa, chỉ có trường hợp bệnh nặng hoặc gần chết, chư Tăng tới nhắc nhở bình nhật mình tu pháp gì. Nhắc những điều đó cho nhớ và hỏi lại xem mình có nhớ hay không v.v… Như vậy là đủ rồi. Đó là lòng tin hay trí tuệ? Khị mình nhận giới pháp của Phật, học những bài kinh của Phật, nhắc lại cho mình nhớ. Đó là mở sáng trí tuệ. Còn người không nói gì hết, cứ tụng kinh rồi phục nguyện, đó là đặt nặng về cầu nguyện và lòng tin. Chúng ta tu Phật, dạy Phật tử tu Phật mà không dạy cho họ sáng suốt, không dạy cho họ có trí tuệ. Như vậy là trái hẳn với đạo Phật.
Kế đó là cái mê lầm từ mỗi người chúng ta. Tất cả chúng ta hiện giờ đang mê lầm hay đã giác ngộ? Chắc rằng 100% là nhận mình mê lầm, chưa ai dám nói mình giác ngộ. Mình mê lầm cái gì? Ở đây, tôi nêu lên thứ tự cho quý vị thấy.
Bài pháp đầu tiên đức Phật dạy tại vườn Lộc Uyển là Tứ diệu đế. Đế là lẽ thật, là chân lý. Tuy nói Tứ diệu đế, nhưng câu hỏi đầu tiên đức Phật đặt ra với các thầy Tỳ-kheo hay nhóm ngài Kiều Trần Như là: Tất cả chúng ta có khổ không? Nhiều người nói sống vui, đâu có khổ, mà thật tình chúng sanh đang khổ.
Thế nào là khổ? Sanh, già, bệnh, chết; bốn thứ này có ai khỏi không? Nếu chúng ta quên khi sanh khổ thì bây giờ già đến, có khổ không? Trước khi già, mấy cái răng rụng đã khổ rồi, tới đủ thứ yếu đuối, chân mỏi, gối dùn... Tất cả đều không an ổn. Nên già là khổ. Đến bệnh có khổ không? Khổ không nghi ngờ. Chết có khổ không? Không biết có khổ không, nhưng trên đời ai cũng sợ chết hết. Như vậy sanh, già, bệnh, chết là cái khổ sẵn của tất cả con người. Dù vua chúa cũng phải như vậy, không ai thoát khỏi những cái khổ đó. Kế đến cộng thêm ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạnh, chung lại là tám thứ khổ. Như vậy con người sống khổ hay là vui? Khổ. Nhưng chúng ta có chấp nhận cái khổ đó không, hay tìm cách khỏa lấp cho quên.
Hiện nay Tăng Ni có nhiều phương tiện, nếu ở những nơi dễ dễ, sau khi tụng thời kinh xuống, mở tivi xem một hồi rồi đi ngủ. Sáng thức dậy làm công kia việc nọ. Hay khuya thức dậy tụng một thời công phu, rồi làm ít công việc. Tối lại rảnh thì mở tivi xem. Như vậy có khổ không? Coi đủ thứ chuyện vui mắt quá, đâu có khổ. Tại sao người ta bày ra những trò chơi như đá bóng, ca kịch.. đủ thứ để làm gì? Để thiên hạ vui chơi mà quên cuộc đời là đau khổ, quên con người đau khổ.
Như người ta chế ra nào là nước hoa này nước hoa nọ, xà bông này xà bông kia cho thơm, để làm gì? Tại biết mình hôi quá, khó chịu quá nên chế những thứ đó để khỏa lấp bớt mùi hôi, chớ có gì lạ. Không muốn để những cái dở cái xấu lộ ra, nên chế những cái đó. Cũng vậy, cuộc đời là khổ, nếu để mình ngồi suy ngẫm thì thấy khổ quá, nên người ta thường hay tìm những cái vui để khỏa lấp đi nỗi khổ. Đó là việc làm của thế gian. Rõ ràng người ta đã thấy cuộc đời là khổ. Nếu không thấy cuộc đời là khổ thì cần gì tạo các thứ vui giả tạm đó làm chi. Hiểu rõ như vậy chúng ta mới thấy rằng lẽ thật của con người là đau khổ, không chối cãi được. Đó là Khổ đế.
Nhưng nhà Phật có cái nhìn khác. Đức Phật thấy tận nguồn gốc khổ từ đâu ra. Cho nên khi nói khổ rồi, mọi người chấp nhận thì Phật liền đề ra nguyên nhân của khổ, chớ không phải ngẫu nhiên. Nguyên nhân là gì ? Là Tập đế, tức là nhóm họp những nguyên nhân tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v. Các thứ này tụ họp lại, tạo thành quả khổ. Khổ là quả, tập là nguyên nhân tạo thành quả khổ. Đức Phật dạy phải mở mắt trí tuệ, quan sát kỹ kiếp người là khổ hay vui. Quan sát, nhận chân ra lẽ thật là có trí tuệ. Nếu không chịu quan sát không chịu tìm kiếm, cứ để lòng tin vào đạo thôi thì làm sao có trí tuệ.
Trí tuệ là quan sát, là nhận định đúng như thật. Nếu chỉ biết quả khổ mà không tìm ra nguyên nhân thì trí tuệ đó chưa dùng được, chưa hữu ích. Cho nên Phật dạy phải xem xét cho tường tận nguyên nhân của khổ là gì. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v.. là gốc, là nhân tạo ra khổ.
Tham có nhiều thứ. Nhưng cái tham gốc mà từ chuyên môn trong nhà Phật gọi là ái ngã. Ái là tham ái. Ái ngã là số một. Tất cả chúng ta có ai không thương mình đâu. Trăm người như một đều thương thân này. Thương thân này là ái ngã. Vì thương thân này nên nó già buồn, nó bệnh buồn, nó chết sợ. Như vậy cái buồn, cái sợ là khổ. Khổ tại vì sợ mất thân. Nếu mình không thương thân này, coi nó như đồ chơi, như rơm như rạ, như có như rác thì nó còn nó mất, mình có sợ không? Thấy cọng cỏ héo, cọng cỏ khô mình có sợ không? Nó là đồ bỏ, có đáng gì mà sợ.
Con người sở dĩ khổ đau là vì ái ngã, thương thân này quá. Thương thân này thì thân này bị già, bị bệnh, bị chết là khổ. Nếu chúng ta dứt được ái ngã thì cái khổ còn không? Không. Từ ái ngã, cho thân mình là quý là tốt, nên ai xúc phạm tới liền nổi sân. Thân mình, mình thương mình quý nó nên ai khinh, ai chê thì tức giận. Như vậy từ ái ngã là tham, rồi tới sân.. đủ thứ si mê theo đó. Chúng ta quan sát được như vậy, thấy tường tận như vậy. Đó là có trí tuệ.
Nhờ thắp đuốc trí tuệ soi kỹ biết nguyên nhân dẫn tới đau khổ, chúng ta dẹp bỏ những nguyên nhân đó thì hết đau khổ. Cho nên đế thứ ba là Diệt đế. Diệt là gì? Là tịch diệt, chấm dứt nguyên nhân gây khổ. Tham, sân, si, mạn, nghi... dẹp sạch rồi thì hết đau khổ. Hết đau khổ là được quả Niết-bàn hay cũng gọi là Diệt đế. Nhờ Diệt đế mà chúng tự an ổn. Muốn diệt nguyên nhân của khổ, không phải ngẫu nhiên diệt được, phải có phương pháp, cho nên Phật chỉ dạy pháp tu là Đạo đế, tức là phương pháp diệt khổ.
Như vậy bài pháp đầu tiên đức Phật có dạy lòng tin không? Hoàn toàn không. Ngài dạy chúng ta phải quan sát. Quan sát từ hiện tượng thân này để kết luận lại nó là đau khổ. Rồi Ngài chỉ nguyên nhân gây ra đau khổ để chúng ta quan sát kỹ các nguyên nhân ấy. Kế chỉ mình những phương pháp diệt nguyên nhân đau khổ. Diệt hết nguyên nhân đau khổ thì được giải thoát hết khổ, gọi là Niết-bàn. Kiểm lại hoàn toàn không có chút nào gọi là lòng tin, mà là trí tuệ.
Như khi chúng ta bị sốt rét run rẩy, tới bác sĩ khám. Bác sĩ biết đây là bệnh rét, run rẩy là hiện tượng đau khổ. Nhưng cái run rẩy đó có nguyên nhân. Là gì? Bác sĩ phải tra cứu xem bệnh này do loại vi trùng gì, làm cho run rẩy. Biết được vi trùng là từ quả phăng tới nhân. Biết được vi trùng rồi phải tìm thuốc. Thuốc nào giết được vi trùng đó. Tìm thuốc xong, chỉ bệnh nhân chích hoặc uống. Uống vô mới chết vi trùng. Đó gọi là diệt. Hết vi trùng rồi là mạnh. Mạnh tức là Niết-bàn, là thảnh thơi.
Đường lối của Phật dạy cụ thể, thực tế làm sao, không có gì huyền hoặc, mê tín. Chúng ta bây giờ không chịu tu như vậy, không chịu quan sát, không chịu tìm hiểu mà cứ đặt lòng tin. Tin ở Phật ban, Phật cứu, Phật độ mà không nghe lời Phật, quan sát để chiếu soi kỹ, rồi ứng dụng cách Phật dạy để tiêu trừ những thứ mê lầm của mình. Tiêu trừ được mê lầm thì mới hết khổ. Cho nên người tu thì đông, mà chưa chắc có vị nào hết khổ.
Chúng ta tu phải nắm vững, hiểu tường tận cái gì làm cho con người đau khổ. Những nguyên nhân ấy diệt được rồi thì khổ theo đó hết. Phật nói thân này nhơ nhớp, bất tịnh là để phá ái ngã. Như kinh Kim Cang, Bát Nhã v.v.. Phật nói thân này như huyễn như hóa là để phá cái ngã. Dùng trí tuệ quán chiếu thấy rõ thân nhớp nhúa, duyên hợp tạm bợ đúng như thật. Thấy tường tận như vậy thì hết ái ngã. Hết ái ngã thì mọi cái khổ theo đó hết. Như vậy có phải là quán chiếu không?
Quán chiếu tức là soi sáng. Soi sáng lại mình thấy tường tận con người mình, thấy được nguyên nhân nào làm cho mình đau khổ. Thấy tột cùng, đó là quán chiếu. Quán chiếu thì trí tuệ phát sáng. Thấy đúng như thật về thân, thấy đúng như thật về tâm là chúng ta có trí tuệ. Ngược lại, không chỉ quán chiếu mà cứ cầu xin Phật thì làm gì có trí tuệ.
Vì muốn nhắc nhở cho Tăng Ni biết rõ cách tu của đạo Phật, nên tôi đặt tên các thiền viện có chữ Chiếu. Phải soi sáng, đừng mê lầm nữa. Như vậy mà có người nào chịu chiếu chưa? Cũng còn thích xin chứ chưa có chiếu. Đó là chưa chịu mở sáng con mắt trí tuệ. Chúng ta mê lầm về thân, mê lầm về tâm.
Từ ngày tu nhận chân được lẽ thật về tâm của mình, tôi mới thấy chúng ta có cái mê lầm nặng nề về tâm. Tâm mình là cái gì? Đa số đều nói cái nghĩ suy hơn thua, phải quấy, tốt xấu v.v... là tâm mình. Nếu thế thì khi những cái đó vắng mặt, nó không hiện ra chẳng lẽ mình mất tâm? Như những phút giây ta ngồi thiền, không có nghĩ suy hơn thua phải quấy, lúc đó có tâm không? Nếu không tâm thì làm sao biết, làm sao thấy vọng tưởng, làm sao biết nó đang chạy nhảy. Biết mình có vọng tưởng, nó đang chạy nhảy thì còn có một cái gì thầm kín bên trong nữa. Chớ không phải những cái hơn thua phải quấy, tốt xấu v.v…
Thế mà lâu nay chúng ta chỉ lấy cái nổi, tức là tâm phân biệt chia chẻ sự vật tốt xấu, phải quấy, hơn thua v.v.. cho là tâm mình. Rồi theo đó tạo nghiệp, cái gì ưa thích thì giành với nhau. Ai cũng muốn được, đó là tham. Người ta được, mình không được thì giận. Giận là sân. Từ tâm phân biệt hơn thua phải quấy mà tạo thành nghiệp tham, sân, si... đủ thứ. Đã nhiều nghiệp rồi thì cái khổ theo đó cũng vô cùng.
Cho nên Phật dạy chúng ta phải nhìn lại tâm của mình, đừng bị những thứ đối đãi, hơn thua, tốt xấu v.v... làm chủ. Phải buông xả nó để trở về cái chân thật. Khi chúng ta nhận, sống được với cái chân thật, đó là tu. Nếu chạy theo cái hơn thua phải quấy thì không bao giờ chúng ta tu được.
Nếu mình thấy thân này là tạm bợ, sống dai chết yểu không quan trọng, quan trọng ở chỗ mê lầm hay tỉnh giác. Người tỉnh dù chết yểu cũng vẫn tốt. Người mê dù sống đến muôn tuổi cũng không ra gì, không có giá trị. Thiền sư Huyền Giác sống có bốn mươi mấy tuổi thôi mà tới ngày nay, chúng ta vẫn học với ngài. Như Chứng Đạo Ca, chúng ta phải học thuộc lòng những câu ngài nói. Trong khi người thế gian sống cả trăm tuổi mà không có gì hay, không có gì sáng, chúng ta có học không? Đó, để thấy giá trị của con người là giác ngộ, thức tỉnh, chớ không phải mê lầm. Vì vậy, đạo Phật cốt mở sáng con mắt trí tuệ cho chúng ta.
Tất cả quý vị có thấy mình đang mê lầm không? Nếu còn ái ngã là còn mê lầm. Chúng ta đã tu đã học đã hiểu mà còn ở trong mê lầm, huống nữa là người thế gian. Họ chưa biết tu, chưa biết học không mê lầm sao được. Chúng ta ngày nay ráng tu ráng nghiền ngẫm, chiếu soi lại mình để thức tỉnh. Tỉnh rồi thì ta có ngọn đuốc sáng. Từ ngọn đuốc sáng đó ta soi chiếu cho mọi người, để ai ai cũng được tỉnh. Nếu tất cả đều tỉnh thì thế gian này sẽ giống cõi Cực Lạc. Không còn ái ngã nên không còn tham, không còn sân, không còn si. Tham sân si không còn thì sống trên thế gian này an vui biết mấy. Con người đâu còn làm khổ nhau.
Ngày nay các nước văn minh trên thế giới, học làm những chuyện rung trời động đất, nhưng con người có hết khổ không? Tiến bộ chừng nào con người lo sợ nhiều chừng nấy. Hồi xưa, đánh giặc gặp nhau có gươm có giáo, gặp mặt thì đâm chém. Bây giờ ở đâu đó bấm nút là thiên hạ tan nát hết. Thế thì cái tiến bộ của khoa học chưa phải làm cho con người hết khổ. Rõ ràng ngày nay nhiều tai họa do con người tạo nên không thể lường hết, chưa bao giờ nhân loại thật sự an ổn. Cho nên đạo Phật dạy chúng ta tu để dẹp tan tham sân si. Con người hết tham sân si là hết khổ.
Chúng ta tu là phải thấy, phải biết được lẽ thật. Đó là gần với đạo. Vì vậy tôi mong những ai đã tu thì ráng mở sáng trí tuệ ra và luôn luôn đem trí tuệ đó soi sáng cho người khác. Đó là tự giác, giác tha, là con đường tu hành của Bồ-tát. Có Bồ-tát nào mê không? Bồ-tát tức là hữu tình giác hay là giác hữu tình. Một chúng hữu tình được giác ngộ, rồi đem sự giác ngộ đó đến cho mọi người, đó là giác hữu tình. Như vậy Bồ-tát là giác. Còn Phật thì sao? Phật thì giác hạnh viên mãn. Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
Ngày nay có một số người lầm lẫn, thấy ai làm việc bố thí nhiều, cho tiền của nhiều, liền nói người đó tu hạnh Bồ-tát. Làm việc thiện là tu hạnh Bồ-tát hay làm cho người ta giác ngộ là tu hạnh Bồ-tát? Rõ ràng trong kinh đã định nghĩa Bồ-tát là hữu tình giác và giác hữu tình. Mình là một con người, là một chúng sanh được giác ngộ, gọi là hữu tình giác. Đem sự giác ngộ đó để giáo hóa cho người cùng được giác ngộ là giác hữu tình. Như vậy mới là Bồ-tát.
Ý nghĩa tôi đặt chữ Thường Chiếu, Viên Chiếu là hạnh gì? Hạnh Bồ-tát. Đó là thắp sáng ngọn đèn trí tuệ của mình, rồi soi sáng cho mọi người. Hoặc cho người mồi ánh sáng với đèn tuệ của mình, đó là phá cái mê lầm cho chúng sanh. Mình giác, người cùng giác, gọi là tự giác, giác tha. Mình giác rồi thấy ai mê mình mới thương, mới cố tìm cách giúp đỡ cho họ được giác. Hiểu thấu đáo lẽ thật của đạo chúng ta mới không lầm.
Như bố thí có ba cách: tài thí, pháp thí, vô úy thí. Tài thí đi trước là vì người đang đói không có cơm ăn, giảng kinh họ nghe họ không hiểu, không chịu nghe. Cho nên tạm dùng tài thí trước rồi tới pháp thí. Pháp thí là giúp cho người ta tỉnh, tỉnh rồi chỉ cho họ cách tu vượt qua mọi khổ đau. Hết khổ đau thì không còn sợ hãi, đó là vô úy thí. Như vậy tài thí tuy Phật đặt trước, nhưng nó không quan trọng bằng pháp thí. Ba môn tài thí, pháp thí, vô úy thí thì pháp thí là trên hết, Phật dạy hết sức rõ. Người tu mà không giác thì lấy gì bố thí cho người. Quý vị mê lầm không chịu sáng, không thấy được lẽ thật của đạo thì dạy ai. Mình mê thì không thể dạy cho người ta giác được. Cho nên ai đã là người tu thì phải cố gắng mở sáng mắt trí tuệ, nhìn thấy đúng như thật, để chỉ dạy cho người. Đó là chỗ chân thật.
Qua tên Thường Chiếu này, quý vị thấy chỗ ấp ủ của tôi thế nào? Tôi muốn quý vị phải tự thắp đuốc lên cho sáng, rồi mồi ngọn đuốc sáng của mình cho nhiều người. Đem đến nơi này, đem đến nơi kia, bủa sáng cho mọi người hết mê lầm. Mọi người hết mê lầm tức là cứu khổ chúng sanh. Ánh sáng đó không chỉ có một thời gian ngắn 10 năm, 20 năm hay là ba bốn mươi năm, mà là ngọn đuốc này sẽ tiếp nối ngọn đuốc khác. Người khác gần tắt thì có người khác nối theo, tiếp tục đến vô cùng, để cho thế gian không còn mờ tối nữa. Đó là mong mỏi, sự ấp ủ của tôi.
Ánh sáng này chẳng những một nơi, mà tất cả nơi đều được chiếu soi. Được vậy thì cuộc đời không còn mê tối, chúng sanh sẽ không còn đau khổ nữa. Đó là sở nguyện, là trông chờ mà tôi gởi gắm cho tất cả quý vị. Quý vị có chịu nhận trách nhiệm đó không? Tôi giao, tôi gởi mà quý vị không nhận, đó là lỗi của quý vị. Tất cả chúng ta ai ai cũng có trách nhiệm. Nếu khả năng mình không thể như ánh sáng mặt trời bủa khắp thiên hạ, hay ánh sáng mặt trăng tỏa chiếu một vùng trời, thì ít ra cũng là một ngọn đèn, một cây đuốc. Không được sáng như đèn điện, ít ra cũng là ngọn đèn cầy hay cây đèn dầu nhỏ nhỏ, nhất định phải có ánh sáng.
Ý nghĩa tôi đặt tên cho ngôi thiền viện này, từ khi đặt chân lên mảnh đất Thường Chiếu, tôi đã mơ ước, đã trông đợi ôm ấp hoài bão ấy. Từ đó cho tới ngày nay, tôi không biết ngọn đèn tôi sẽ tắt lúc nào, nên mong quý vị hãy cố gắng, hãy thắp ngọn đuốc của mình, đốt ngọn đèn của mình lên cho cháy, để tiếp tục sáng mãi. Khi ngọn đèn tôi tắt thì những ngọn đèn của quý vị sẽ nối nhau sáng lên.
Tôi chỉ là một ngọn mà thôi, tới quý vị là trăm ngọn ngàn ngọn, không phải một ngọn như tôi nữa. Như vậy mới đúng ý nghĩa Thường Chiếu, Viên Chiếu. Đó là lời nhắc nhở đầu năm, cũng là đặt trách nhiệm cho tất cả quý vị đi đúng đường, làm đúng bổn phận của mình, đừng để sai lệch. Đó là mong mỏi trông chờ của tôi đối với tất cả Tăng Ni. Tôi nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho tất cả chúng ta đều là những người được “Truyền đăng tục diệm” mãi mãi.