Kinh Di Giáo dạy: Ví như chăn trâu cầm roi xem chừng, không cho nó đi bừa vào lúa mạ. Đây là xuất phát mục chăn trâu.
Kế tiếp Mã Tổ hỏi Thạch Củng: “Ông ở đây làm gì?” Thạch Củng đáp: “Chăn trâu.” Mã Tổ hỏi: “Trâu làm sao chăn?” Thạch Củng đáp: “Một phen ùa vào đồng cỏ nắm mũi lôi trở lại.” Mã Tổ bảo: “Ông giỏi chăn trâu.”
Lại, thiền sư An ở núi Đại Quy nói: “Tôi ở Quy Sơn không học thiền Quy Sơn, chỉ chăn giữ một con trâu.”
Lại, thiền sư Đoan ở Bạch Vân hỏi Quách Công Phụ: “Trâu thuần chưa?”
Hoặc tự chăn hoặc dạy người chăn thấy khá nhiều, từ xưa đến nay càng bày rõ ràng. Sau mới có người vẽ thành tranh. Ban đầu từ chưa chăn, rốt sau cả hai đều mất, phân chia thành mười mục. Con trâu hẳn theo thứ lớp, ban đầu đen từ từ trắng, rốt sau không còn cái trắng nào sánh bằng.
Phổ Minh lại ở mỗi mục làm một bài tụng, Phổ Minh chưa biết rõ người ở đâu? Tranh và tụng cũng chưa rõ do tay một người chăng? Nay miễn bàn. Chỉ là tranh ấy hình ảnh hiển bày mà ý thú rất sâu sắc. Bài tụng thì lời gần mà ý chỉ thì rất xa. Người học giữ ở bên mình làm bản đồ để xem xét đức nghiệp của mình. Cúi xuống, xét chỗ mình đã tiến, ngước lên mong chỗ mình chưa đến, mới mong tránh khỏi cái lỗi được ít cho là đủ, mà phải rơi vào tăng thượng mạn. Như thế sẽ giúp ích rất nhiều. Tôi bèn sao lục cho khắc lại bảng gỗ. Ngoài ra còn có tìm trâu cho đến vào chợ, cũng gồm mười bức cùng với những bức tranh này đại đồng tiểu dị. Lại đến trong giáo lý phân biệt tiến tu theo thứ lớp có thể so sánh mà biết. Tôi đều in phụ vào sau sách để tiện tham khảo. Nếu là người một phen vượt lên là vào thắng thì không nhọc roi vọt mà trâu trắng nằm sẵn sờ sờ trên đất, chẳng rơi vào giai cấp, chỉ trong một sát-na năng sở đều mất. Thế là tranh hóa thành đồ bỏ, tụng thành lời thừa vậy.
Giảng:
Trong bài tựa này, ngài Châu Hoằng dẫn kinh Di Giáo nói việc tu hành: Ví như người chăn trâu cầm roi xem chừng không cho trâu đi bừa vào lúa mạ của người, để cho thấy việc tu hành dụ như chăn trâu đã được Phật nói từ trước còn ghi lại nơi kinh điển, chứ không phải sau này các thiền sư đặt ra. Đó là lý do xuất phát tranh chăn trâu.
Ngài dẫn kinh rồi dẫn các thiền sư nói về chăn trâu. Thạch Củng Huệ Tạng là một thiền sư, khi còn tại gia chuyên nghề săn bắn. Một hôm, nhân đuổi bầy nai chạy qua trước am Mã Tổ, gặp Mã Tổ đứng trước. Sư hỏi:
- Hòa thượng thấy bầy nai chạy qua đây chăng?
Mã Tổ hỏi lại:
- Chú là người gì?
- Thợ săn.
- Chú bắn giỏi không?
- Bắn giỏi.
- Một mũi tên chú bắn được mấy con?
- Một mũi bắn được một con.
- Chú bắn không giỏi.
- Hòa thượng bắn giỏi không?
- Bắn giỏi.
- Một mũi tên Hòa thượng bắn được mấy con?
- Một mũi tên bắn được một bầy.
- Sanh mạng chúng nó đâu nên bắn một bầy.
- Chú đã biết như thế, sao không tự bắn?
- Nếu bảo tôi bắn tức không có chỗ hạ thủ.
- Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt.
Ngay khi đó, Sư ném cung bẻ tên tự lấy dao cạo tóc theo Mã Tổ xuất gia, Mã Tổ cho hiệu là Huệ Tạng, sau ở núi Thạch Củng nên có tên Thạch Củng. Một hôm Sư làm việc ở nhà trù, Mã Tổ xuống hỏi:
- Ông đang làm gì?
Sư đáp:
- Chăn trâu.
- Trâu làm sao chăn?
- Một phen ùa vào đồng cỏ nắm mũi lôi trở lại.
- Ông giỏi chăn trâu.
Pháp chăn trâu của thiền sư khác với kinh ở chỗ “trâu đi vào lúa mạ của người mới lôi cổ nó lại” và “trâu đi vào đồng có thì kéo nó lại”. Thông thường mục đồng chăn trâu cho trâu ăn cỏ, khi trâu ăn lúa mạ mới đuổi rầy. Nhưng tại sao đây nói trâu ùa vào đồng cỏ nắm mũi lôi trở lại, vậy mục đồng để trâu nhịn đói sao? Chăn trâu của Kinh và Thiền khác những gì? Đứng về mặt giáo lý (kinh Di Giáo), Phật chỉ dạy dừng nghiệp ác tức là khởi nghiệp ác (vào lúa mạ) lôi cổ trở lại, mà chưa dạy đoạn ý niệm lành. Đến các thiền sư thì khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, khởi thức phân biệt tốt xấu thiện ác là có lỗi cần phải đoạn, nên nói trâu ùa ra đồng cỏ là kéo đầu lại. Đó là mục đồng khéo chăn trâu hay thiền sinh khéo điều phục tâm.
Kế thiền sư Đại An nối pháp tổ Bá Trượng, khi thiền sư Linh Hựu tới mở đạo tràng tại núi Quy, ngài đến phụ tá. Khi thiền sư Linh Hựu tịch, đại chúng thỉnh sư nối tiếp trụ trì tại đây. Sư thượng đường dạy chúng: “Đại An này ở tại núi Quy ba mươi năm, ăn cơm núi Quy, đại tiện núi Quy, mà không học thiền núi Quy, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người, liền đánh đập điều phục nó. Đáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi.”
Thiền sư Thủ Đoan ở Bạch Vân hỏi cư sĩ Quách Công Phụ: “Trâu ông đã thuần chưa?”
Vậy pháp chăn trâu đã có từ đức Phật được ghi lại ở kinh điển. Sau các thiền sư ứng dụng tự tu tập hoặc hướng dẫn người tu tập. Rồi các ngài mới họa ra thành mười bức tranh, từ chưa chăn đến rốt sau đều mất, trâu từ màu đen dần dần trắng, cho đến hoàn toàn trắng.
Mười mục chăn trâu này được thiền sư Phổ Minh làm mỗi mục một bài tụng, nói lên lý đạo rất sâu xa người tu học cần nên có, để làm bản đồ tự bản thân chiêm nghiệm, xét lại công hạnh tu tập của mình, nỗ lực tiến tới và tránh cái lỗi được ít cho là đủ. Ngoài mười bức tranh Đại thừa còn có mười bức tranh Thiền tông, hai bộ tranh này đại đồng mà tiểu dị, cũng được ngài in ra để tham khảo. Ngài nói người tu hành từ thấp tiến lên thì nhờ mười bức tranh chăn trâu để thấy rõ bước tiến của mình tới đâu mà không lầm lạc. Bậc xuất cách chỉ một phen nghe liền đại ngộ không phải dụng công tu tập, lúc nào thể chân thật cũng hiện tiền, trong khoảng sát-na năng sở đều hết thì mười bức tranh chăn trâu này coi như thừa. Những vị đó thấy tranh và tụng chỉ cười một trận thôi, không cần thiết, không ép phải đọc phải xem. Nếu không phải những vị đó thì xem tranh đọc tụng là điều cần thiết.