Chánh văn:
Phàm vào đạo có nhiều đường, cốt yếu mà nói không ngoài hai đường: một là lý nhập, hai là hạnh nhập.
Lý nhập là nương giáo để ngộ tông. Tin sâu chúng sanh đồng có một chân tánh, nhưng đều bị khách trần vọng tưởng che đậy không thể hiển bày. Nếu mà bỏ vọng về chân, lóng đứng như tường vách, không mình không người, phàm thánh đồng một, vững chắc không đổi dời, lại không theo văn giáo. Đây tức cùng lý thầm hợp, không có phân biệt, lặng lẽ vô vi, gọi đó là Lý nhập.
Hạnh nhập gồm có bốn hạnh, ngoài ra các hạnh khác đều gồm trong bốn hạnh này. Những gì là bốn? Một là Báo oán hạnh. Hai, Tùy duyên hạnh. Ba, Vô sở cầu hạnh. Bốn, Xứng pháp hạnh.
1. Báo oán hạnh
Thế nào là báo oán hạnh? Nghĩa là hành giả tu đạo, nếu khi chịu khổ nên tự nghĩ rằng: Ta từ xưa trong vô lượng kiếp bỏ gốc theo ngọn, trôi lăn các cõi, phần nhiều khởi oán ghét, gây hại vô cùng. Ngày nay tuy không phạm tội nhưng đều là do họa đời trước, quả ác nghiệp đã chín muồi thì chẳng phải trời chẳng phải người hay tạo ra cho mình, chỉ nên cam tâm nhẫn chịu thôi, trọn không kêu oán.
Kinh nói: Gặp khổ mà không buồn, vì sao? Vì biết suốt vậy. Khi tâm kia sanh cùng với lý tương ưng. Thể của oán là tiến đạo, nên nói là báo oán hạnh.
2. Tùy duyên hạnh
Chúng sanh vốn không có ngã, đều do nghiệp chuyển, khổ vui đồng thọ, đều từ duyên sanh. Nếu được quả báo thù thắng, các việc vinh dự... là do quá khứ nhân đời trước của ta cảm đến ngày nay mới được như vậy. Duyên hết lại thành không, có gì mà vui mừng. Được mất tùy duyên, tâm không tăng giảm, đối với gió hỷ không động, thầm thuận với đạo, nên nói là hạnh tùy duyên.
3. Vô sở cầu hạnh
Người đời hằng mê, chỗ chỗ đắm trước, gọi đó là cầu. Người trí ngộ chân, lý cùng người đời trái nhau. An tâm vô vi, tùy duyên vận chuyển muôn pháp đều không, không có gì mong thích, công đức thường thầm theo nhau, ba cõi ở lâu giống như nhà lửa. Có thân đều là khổ, cái gì được mà vui. Thấu suốt chỗ này, nên xả bỏ các pháp có, dứt tưởng không cầu.
Kinh nói “có cầu đều là khổ, không cầu mới được vui”. Như vậy quyết biết không cầu thật là đạo hạnh. Nên nói là vô sở cầu hạnh vậy.
4. Xứng pháp hạnh
Lý tánh tịnh gọi đó là pháp. Tin hiểu lý này, các tướng đều không, không nhiễm không trước, không đây không kia. Kinh nói: “Pháp không chúng sanh vì lìa chúng sanh cấu, pháp không có ngã vì lìa ngã cấu.” Người trí nếu hay tin hiểu lý này phải nên xứng pháp mà hành. Pháp thể không có keo lẫn, đối với thân mạng tài vật bố thí tâm không tham tiếc. Hiểu thấu được ba không, không nương tựa không dính mắc, chỉ là trừ bỏ cấu dơ, xứng pháp để giáo hóa chúng sanh mà không chấp tướng. Đây là tự hành lại hay lợi tha cũng hay trang nghiêm đạo Bồ-đề. Bố thí đã như thế, năm độ kia cũng vậy. Vì trừ vọng tưởng tu hành lục độ mà không có chỗ hành. Đó là xứng pháp hạnh.
Kệ rằng:
Ngoài dứt các duyên,
Tâm không manh mối,
Tâm như tường vách,
Khả dĩ vào đạo.
Rõ Phật tâm tông,
Bình đẳng không khác,
Hành hiểu tương ưng,
Gọi đó là Tổ.
Giảng:
Cửa thứ ba
NHỊ CHỦNG NHẬP
Phàm vào đạo có nhiều đường, cốt yếu mà nói không ngoài hai đường: một là lý nhập, hai là hạnh nhập.
Lý nhập là nương giáo để ngộ tông. Tin sâu chúng sanh đồng có một chân tánh, nhưng đều bị khách trần vọng tưởng che đậy không thể hiển bày. Nếu mà bỏ vọng về chân, lóng đứng như tường vách, không mình không người, phàm thánh đồng một, vững chắc không đổi dời, lại không theo văn giáo. Đây tức cùng lý thầm hợp, không có phân biệt, lặng lẽ vô vi, gọi đó là Lý nhập.
Nhị chủng nhập là Lý nhập và Hạnh nhập. Lý nhập là nương nơi kinh luận của Phật tổ dạy để nhận ra nơi mình có bản tâm thanh tịnh, đó là nương giáo mà ngộ được tông.
Tất cả chúng sanh đều sẵn có chân tánh, nhưng vì bị khách trần vọng tưởng che lấp khiến không thể hiển bày, nếu bỏ vọng trở về chân, tâm yên lặng cũng như tường vách không lay động, không phân biệt mình người, phàm thánh riêng khác, không chạy theo văn nghĩa trong kinh, đó là chúng ta nhân nơi kinh mà ngộ tâm, gọi là hợp lý. Lý này là lý nhất tâm. Trong nhà Phật thường nói từ nơi sự đạt lý tức là từ hình thức bên ngoài mà nhận được bản tâm. Cho nên ở đây nói lý nhập là nương nơi kinh điển để nhận ra bản tâm.
Hạnh nhập gồm có bốn hạnh, ngoài ra các hạnh khác đều gồm trong bốn hạnh này. Những gì là bốn? Một là Báo oán hạnh. Hai, Tùy duyên hạnh. Ba, Vô sở cầu hạnh. Bốn, Xứng pháp hạnh.
1. Báo oán hạnh
Thế nào là báo oán hạnh? Nghĩa là hành giả tu đạo, nếu khi chịu khổ nên tự nghĩ rằng: Ta từ xưa trong vô lượng kiếp bỏ gốc theo ngọn, trôi lăn các cõi, phần nhiều khởi oán ghét, gây hại vô cùng. Ngày nay tuy không phạm tội nhưng đều là do họa đời trước, quả ác nghiệp đã chín muồi thì chẳng phải trời chẳng phải người hay tạo ra cho mình, chỉ nên cam tâm nhẫn chịu thôi, trọn không kêu oán.
Kinh nói: Gặp khổ mà không buồn, vì sao? Vì biết suốt vậy. Khi tâm kia sanh cùng với lý tương ưng. Thể của oán là tiến đạo, nên nói là báo oán hạnh.
Hạnh nhập gồm có bốn hạnh: một là Báo oán hạnh. Hai, Tùy duyên hạnh. Ba, Vô sở cầu hạnh. Bốn, Xứng pháp hạnh.
Một là Báo oán hạnh. Người xuất gia hay cư sĩ tại gia, phải nhớ rằng đời này chúng ta không gây tạo nghiệp ác, nhưng đời quá khứ đã tạo bao nhiêu oan gia không lường được, cái họa còn lưu lại sớm muộn gì cũng sẽ đến với chúng ta. Bởi vì nhiều đời chúng ta đã sống trong mê lầm, tạo nghiệp rất nhiều, quên mất gốc chân, trôi lăn trong sanh tử. Tuy đời này biết tu không tạo nghiệp, nhưng cái họa ươm đời trước, quả báo xấu đã thuần thục nên phải gặt hái khổ đau. Cho nên những điều bất hạnh đến mình phải cam tâm nhận chịu, không trách trời oán người, không phiền ai hết, vui vẻ đón nhận vì đó là nghiệp quá khứ, chúng ta phải gan dạ chịu đựng tất cả, nên tuy gặp cảnh khổ mà tâm không khổ. Nếu gặp cảnh khổ mà kêu trời trách đất, than tại sao tôi ăn ở hiền lành, cứu người này giúp người kia mà chính bản thân tôi lại khổ lắm vậy! Oán trách như thế thì vô tình cái quả đời trước chưa trả hết mà bây giờ lại còn thêm tội.
Hơn nữa, người hiểu được lý nghiệp báo thì không còn hèn nhát, kêu than như những người không hiểu. Cho nên chúng ta thấy có những người nghèo mà sống vui, vì họ tự biết nghèo là do thiếu phước nên cam chịu không trách hờn ai hết. Còn có người nghèo mà cứ dòm ngó người này người kia, trách móc ông đó làm ác, gian tham mà sao giàu có, còn tôi sao lại nghèo? Như vậy có phải tự mình chuốc khổ hay không!
Tất cả những nỗi khổ trên đời đều có nguyên nhân, nên nhớ không ai bỗng nhiên tới làm khổ mình mà phải có lý do nào đó, cứ nghiệm ngay nơi tâm mình thì biết. Giả sử chúng ta không buồn giận ai đó mà có thể đến trước mặt họ lớn tiếng chửi mắng được không? Không được. Từ đó suy ra nếu có người vừa thấy mặt mình họ liền mắng chửi, thì biết quá khứ ta đã vô tình hay cố ý gieo oán hờn với họ lâu rồi mà chúng ta quên, bây giờ bị người khinh khi ghét bỏ cũng đáng thôi, nên cười chấp nhận.
Hiểu được như thế thì giả sử có bao nhiêu cái khổ dồn dập đến, chúng ta cũng sẵn sàng chấp nhận, cái gì đã vay thì vui lòng trả, trả nhiều chừng nào cảm thấy nhẹ nhàng chừng ấy vì mau hết nợ. Nếu không hiểu như thế, khi gặp điều không may thì lo sợ oán trách. Như vậy nghiệp cũ chưa trả hết lại thêm nghiệp mới.
Người Phật tử chân chính gặp khổ gan dạ chịu đựng chứ không buồn trách ai, nếu còn oán trách người thì biết mình chưa tin sâu lý nhân quả. Lý nhân quả gần nhất, phổ thông nhất của nhà Phật mà mình chưa tin thì những giáo lý cao siêu hơn nữa làm sao tin nổi. Hiểu như vậy chúng ta an nhiên cam chịu, không oán hờn thù hận ai hết.
2. Tùy duyên hạnh
Chúng sanh vốn không có ngã, đều do nghiệp chuyển, khổ vui đồng thọ, đều từ duyên sanh. Nếu được quả báo thù thắng, các việc vinh dự... là do quá khứ nhân đời trước của ta cảm đến ngày nay mới được như vậy. Duyên hết lại thành không, có gì mà vui mừng. Được mất tùy duyên, tâm không tăng giảm, đối với gió hỷ không động, thầm thuận với đạo, nên nói là hạnh tùy duyên.
Trong cuộc sống có hai trường hợp thường xảy ra mà chúng ta không biết tùy duyên.
Thứ nhất, gặp cảnh khổ chúng ta không biết nó từ đâu đến, bèn oán người trách trời nên trong khi chịu khổ, tâm còn thêm oán hận. Đó là chúng ta không biết tùy duyên trong cảnh khổ.
Thứ hai, khi gặp cảnh vinh dự an vui, chúng ta không biết tùy duyên nên sanh tâm vui mừng quá đáng, khiến tâm ngã mạn vì thấy vinh dự, tự cho mình là cao người khác là thấp. Nếu biết những cảnh tốt đẹp vinh dự đến với mình là do duyên lành đời trước đã tạo, bây giờ nó đến là lẽ đương nhiên thì có gì đâu mà mừng.
Nếu biết tùy duyên, khi khổ đến biết đó là duyên nghiệp đời trước của mình thì vui vẻ chấp nhận. Gặp cảnh vui cũng biết đó là duyên lành đời trước đã gieo không phải ngẫu nhiên mà có, mình làm mình hưởng có gì đâu mà mừng. Nhưng phải nhớ: hưởng hết sẽ thành không, cho nên trong khi hưởng phải dè dặt, đừng hưởng hết. Nhà nho có câu hữu phước bất khả hưởng tận, nghĩa là có phước không nên hưởng hết. Trong khi hưởng phải dè dặt, không mừng cũng không khinh ai, biết vậy ráng tạo thêm phước, nếu hưởng mà không tạo thêm thì phước sẽ hết. Như vậy đối với cảnh vui tâm không mừng không khinh ai, đó là tâm không tăng giảm. Cho nên ngọn gió hỷ không lay động được tâm.
Ví dụ có hai đứa học trò học cùng lớp, khả năng tương đương, nhưng đến lúc đi thi thì đứa đậu đứa rớt. Đứa thi đậu mừng quá quên luôn nỗi buồn của người bạn thi rớt, thấy mình giỏi hơn rồi coi thường bạn, nên có những lời nói thái độ làm cho bạn mình buồn. Đứa học trò thi rớt thì mặc cảm nên nhìn bạn không như trước, trong lòng không ưa, rồi trách móc đủ thứ. Như vậy cả hai đều không biết tùy duyên.
Phải biết tài năng ngang nhau nhưng kết quả hiện tại sai biệt là do duyên phước đời trước sai biệt. Hiểu như vậy thì không oán hờn cũng không vui mừng. Người đang buồn mà mình vui thì bị người ta ghét. Nếu người được mà mừng thì người mất tất nhiên phải buồn. Một bên mừng một bên buồn thì không làm sao gặp nhau.
Cho nên hằng ngày đối với sự được mất chúng ta không mừng không buồn không tăng không giảm, thì ngọn gió hỷ không lay động được tâm. Đó là tùy duyên hạnh.
3. Vô sở cầu hạnh
Người đời hằng mê, chỗ chỗ đắm trước, gọi đó là cầu. Người trí ngộ chân, lý cùng người đời trái nhau. An tâm vô vi, tùy duyên vận chuyển muôn pháp đều không, không có gì mong thích, công đức thường thầm theo nhau, ba cõi ở lâu giống như nhà lửa. Có thân đều là khổ, cái gì được mà vui. Thấu suốt chỗ này, nên xả bỏ các pháp có, dứt tưởng không cầu.
Kinh nói “có cầu đều là khổ, không cầu mới được vui”. Như vậy quyết biết không cầu thật là đạo hạnh. Nên nói là vô sở cầu hạnh vậy.
Người đời thường ở trong mê, mỗi chỗ mỗi chỗ đều có tham trước, cho nên mong cái này cầu cái kia. Vì còn mong cầu là còn mê, hết mê thì hết cầu. Thử xét lại những cái mong cầu vô lý của chúng ta. Ai cũng biết mỗi ngày qua đi là mạng sống hao mòn một chút. Nhưng cứ mong cho ngày tháng qua mau, ngày nay chưa qua đã gỡ lịch mong tới ngày mai, tháng này mong tới tháng kia, năm này mong tới năm sau coi có tốt hơn không. Do đó những ngày cuối năm người ta xôn xao, mong qua năm mới, như vậy là mong cho mau chết phải không? Tuy nhiên chết thì không chịu, mà mong cho hết ngày hết tháng, thật là vô lý! Người tu cũng vậy, không lo vun bồi công đức tu hành, mà cứ mong hết tháng hết năm, để tính tuổi hạ được mười năm, hai mươi năm v.v... Nhưng giá trị của người tu là ở chỗ công phu tu hành chứ không phải căn cứ trên thời gian.
Chúng ta thấy năm nay mình còn mạnh khỏe. Qua năm tới là thêm một tuổi, già thì lẩm cẩm, đi đứng yếu đuối, vậy thì mong hết năm để làm gì! Nghe nói đến già chết thì sợ, mà mong hết ngày, hết tháng hết năm, rõ ràng đó là mê chứ chưa tỉnh. Nên nói ở trong mê rất lâu, vọng cầu quá nhiều. Vì thế chúng ta cứ sống một cách bình an, tâm tư lặng lẽ thanh tịnh, đó là biết sống, là vô sở cầu.
Chúng ta thấy người trí khác với kẻ ngu. Kẻ ngu vì sống trong mê cho nên thường tham trước, bởi tham trước nên mới mong cầu. Ngược lại người trí biết tất cả pháp thế gian không thật nên không tham đắm, tâm an ổn vô vi, bao nhiêu công đức tùy theo duyên thầm thầm vận chuyển. Biết rõ ba cõi không lâu bền, chẳng khác nào như trong nhà lửa, có thân là có khổ, có gì vui cầu. Thế nên xả hết những pháp hữu vi, tâm không mong cầu gì cả thì được an vui. Nên nói còn cầu là còn bất an, còn khổ.
Tại sao cầu là khổ? Cầu không được mới khổ, chứ cầu mà được như ý thì sao lại khổ? Người ta thường nói mong được như ý là vui. Nhưng sự thật không có gì như ý, bởi ý của mình không dừng ở đâu hết thì làm sao có cái được như ý. Ví dụ có người nghèo quá, mong có được chừng mười ngàn đồng để qua cơn đói khổ. Tình cờ gặp người tốt bụng, thấy người này nghèo liền thương giúp cho mười ngàn. Được mười ngàn rồi, người nghèo kia lại mong nếu mình có một trăm ngàn thì cả năm sống an ổn! Có mười ngàn rồi lại muốn có trăm ngàn, cứ mong muốn hoài làm sao hết khổ, chỉ không muốn là không khổ. Vì muốn được cái này rồi muốn cái kia chứ không dừng. Tâm của con người không dừng lại, nếu dừng lại tức là an vui. Hơn nữa cầu bất đắc là chuyện thường thấy ở thế gian, người đau khổ nhiều nhất là do cầu mà không được. Cho nên không cầu thì tự tại an vui, niềm an vui ngay chỗ vô cầu.
Đạo Phật chủ trương vô cầu vô trước, ngay chỗ tột cùng là thành Phật cũng không cầu. Thông thường ai tu cũng mong thành Phật, nếu không cầu thành Phật thì tu làm gì? Muốn cầu thành Phật, mà nghe nói tu phải trải qua ba vô số kiếp mới thành thì sanh chán. Bây giờ không cầu thành Phật mà chỉ biết hết vọng thì quả Phật không cầu cũng thành. Nếu cầu thành Phật mà vọng tưởng cứ dấy lên hoài thì làm sao thành. Cho nên chúng ta chỉ biết ngay nơi nhân mà trừ chứ không mong kết quả.
Giống như anh làm vườn trồng cây mà không chịu vun phân tưới nước cứ mong cho cây lớn, đó là điều mong cầu vô ích. Người làm vườn khôn ngoan thì chỉ chịu khó lựa hạt giống tốt, ươm cây rồi săn sóc, nhổ cỏ tưới nước, vun phân đều đặn, đủ nhân duyên thì cây trưởng thành ra hoa kết trái. Người tu cũng vậy, nếu biết nhân thành Phật là hết vọng tưởng thì cứ bình tĩnh tu, vọng tưởng hết thì quả Phật tự đến, chứ không mong cầu vô ích. Cho nên chúng ta tu phải tập hạnh thứ ba là không mong cầu gì hết.
4. Xứng pháp hạnh
Lý tánh tịnh gọi đó là pháp. Tin hiểu lý này, các tướng đều không, không nhiễm không trước, không đây không kia. Kinh nói: “Pháp không chúng sanh vì lìa chúng sanh cấu, pháp không có ngã vì lìa ngã cấu.” Người trí nếu hay tin hiểu lý này phải nên xứng pháp mà hành. Pháp thể không có keo lẫn, đối với thân mạng tài vật bố thí tâm không tham tiếc. Hiểu thấu được ba không, không nương tựa không dính mắc, chỉ là trừ bỏ cấu dơ, xứng pháp để giáo hóa chúng sanh mà không chấp tướng. Đây là tự hành lại hay lợi tha cũng hay trang nghiêm đạo Bồ-đề. Bố thí đã như thế, năm độ kia cũng vậy. Vì trừ vọng tưởng tu hành lục độ mà không có chỗ hành. Đó là xứng pháp hạnh.
Kệ rằng:
Ngoài dứt các duyên,
Tâm không manh mối,
Tâm như tường vách,
Khả dĩ vào đạo.
Rõ Phật tâm tông,
Bình đẳng không khác,
Hành hiểu tương ưng,
Gọi đó là Tổ.
Lý tánh tịnh là thể tánh thanh tịnh của chúng ta, cũng gọi là chân tâm, Bát-nhã ba-la-mật, pháp thân, hay là Như Lai tàng... Như vậy lý là chỉ cho cái pháp bổn vô pháp. Hiểu lý này thì biết tất cả pháp có hình tướng đều rỗng không hư giả. Cho nên không nhiễm trước, không phân biệt đây kia.
Người tu xứng pháp hạnh là nhận ra nơi mình có thể tánh thanh tịnh không sanh diệt. Cho nên làm tất cả việc mà không mắc kẹt trên hình thức, vì thấy tất cả tướng đều hư giả nên không nhiễm trước, không chấp ngã nhân, chúng sanh, thọ giả, không chấp tất cả pháp bên ngoài. Biết như vậy mà tu, tu lục độ cũng hành như vậy, gọi là xứng pháp hạnh.
Tổ nói kệ:
Ngoài dứt các duyên,
Tâm không manh mối,
Tâm như tường vách,
Khả dĩ vào đạo.
Bốn câu đầu của bài kệ nói rằng: Ngoài dứt hết các duyên, không còn mắc kẹt vào các pháp hư giả, trong tâm không dấy niệm, lặng yên như tường vách mới có thể vào đạo. Nếu tâm còn xao động thì không thể vào đạo, vì đạo tức vô tâm.
Rõ Phật tâm tông,
Bình đẳng không khác,
Hành hiểu tương ưng,
Gọi đó là Tổ.
Rõ được tâm tông thì tâm bình đẳng không sai biệt. Hạnh và giải hợp nhau gọi là Tổ. Hạnh là thực hành, giải là sự lãnh hội lý đạo, hai cái hợp nhau thì gọi là Tổ. Phần nhiều chúng ta hạnh và giải không tương ưng. Chúng ta thường nghe Phật tổ và các bậc tôn túc nhắc tới nhắc lui thân cảnh là giả như hoa đốm trong hư không, như trăng đáy nước... nghe đến thuộc lòng. Nhưng khi thân đau yếu thì sợ, cảnh đổi thay mất mát thì buồn. Như vậy là hạnh giải không hợp nhau.
Nếu thấy thân là huyễn hóa, giả sử có ai chĩa súng vào ngực bắn chúng ta cũng không sợ, vì thân huyễn hóa thì còn mất gì cũng được. Như vua Đường mời Tứ tổ Đạo Tín về triều, ngài không về. Vua nói không về thì lấy thủ cấp, ngài đưa cổ ra chờ, như vậy mới là hạnh giải tương ưng.
Chúng ta bây giờ hạnh một đường mà giải một ngả, cho nên nói không ai nghe. Miệng thì nói cái gì cũng giả mà gặp tiền của nhiều thì thích, muốn cất chùa to để lại đời đời. Nếu thấy thân này giả thì không cần trau giồi cho đẹp, muốn trau giồi cho đẹp thì chưa thấy thân là giả. Đó là một sự thật. Bởi lời nói và hành động chưa phù hợp nên nói ra người ta không tin. Tôi thường nói với tăng ni học được điều gì thì ứng dụng làm cho được điều đó. Bao giờ hiểu và làm đi đôi thì nói gì người ta cũng tin.
Đức Phật thật chính xác khi ngài tự xưng là thầy dẫn đường. Thầy dẫn đường thì dĩ nhiên đã đi qua con đường đó rồi mới dám dẫn người khác đi, nếu chưa đi qua mà dẫn người đi là nguy. Cho nên những gì đức Phật dạy chúng ta là ngài đã tự thân chứng nghiệm chứ ngài không nói suông. Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta làm người dẫn đường dễ hơn đức Phật một chút, vì ngày xưa đức Phật phải tự mình tìm đường giải thoát, khi giác ngộ giải thoát rồi ngài trở lại dẫn dắt chúng sanh từ bờ mê qua bến giác. Bây giờ chúng ta chưa đi tới chỗ giải thoát mà dám dẫn người khác đi, vì trong tay có sẵn bản đồ mà đức Phật đã vẽ. Như vậy khả dĩ chúng ta có thể dẫn đường và rủ người khác cùng đi. Nhưng người cầm bản đồ phải đi trước không có quyền đi sau. Cho nên ở đây Tổ nói hạnh giải tương ưng mới gọi là Tổ.
Tóm lại, cửa Bát-nhã Tâm kinh chỉ cho chúng ta nhận ra cái sẵn có nơi mình. Đến cửa Phá tướng là phá dẹp mọi hình tướng để chúng ta không mắc kẹt. Phá tướng là phá những hình thức bên ngoài để trở về bản tâm, nhưng mới phá thôi chứ chưa thực hành. Tới cửa Nhị chủng nhập mới bắt đầu đi vào cuộc sống, điều cần yếu phải tránh hai cái duyên bên ngoài là khổ và vui đến với chúng ta. Ở đời, hầu hết ai cũng muốn tránh khổ cầu vui. Nhưng người tu phải làm chủ, không để khổ vui chi phối, vì ai tu mà không gặp khổ và vui. Cho nên chúng ta phải nhận định cho chín chắn, khổ vui đến không phải là chướng đạo tu không được. Khổ vui không làm chướng ngại sự tu hành của chúng ta. Vượt qua vui mới tiến vào cửa thứ tư là an tâm.