Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Thiền Sư Việt Nam Giảng Giải - Phần II
Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung
← Trở lại Đọc tiếp →

(1230 - 1291)

Thượng sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương Trần Liễu, là anh cả của hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại vương mất, hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng sĩ tước Hưng Ninh Vương.

Lúc nhỏ, Thượng sĩ đã tỏ ra bẩm chất cao sáng, thuần hậu có tiếng. Được cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ, ngài đã hai lần ngăn giặc Bắc xâm lăng, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn cửa biển Thái Bình.

Tuệ Trung thượng sĩ là con của Trần Liễu, anh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ngài tên thật là Trần Quốc Tung, tước hiệu Hưng Ninh Vương. Lúc nhỏ, Thượng sĩ đã tỏ ra bẩm chất cao sáng, thuần hậu có tiếng. Được cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ, ngài đã hai lần ngăn giặc Bắc xâm lăng, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn cửa biển Thái Bình.

Về con người, Thượng sĩ vốn khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã. Lúc còn để chỏm, ngài đã chuộng cửa Không. Đến tham vấn thiền sư Tiêu Dao ở tinh xá Phước Đường, ngài lãnh hội được yếu chỉ, bèn dốc lòng thờ làm thầy, lấy thiền duyệt làm cái vui hằng ngày, không lấy công danh làm chỗ sở thích, ngài lui về ấp Tịnh Bang do vua phong cấp cho, đổi tên lại là làng Vạn Niên.

Dẹp giặc xong vua phong ấp cho những người trong hoàng tộc có công với đất nước. Thượng sĩ cũng lui về, chọn một nơi ở yên lúc tuổi già, đó là ấp Tịnh Bang, sau đổi tên là làng Vạn Niên.

Ngài tìm đến tinh xá Phước Đường, tham vấn thiền sư Tiêu Dao là người xuất thân từ hàng đệ tử của các vị thiền sư trên núi Yên Tử. Nhân đó, ngài lãnh hội được yếu chỉ thiền và thờ thiền sư Tiêu Dao làm thầy. Từ đó, ngài lấy thiền duyệt làm vui, chứ không vui với công danh. Ngài là một tướng quân, thân thích với vua mà lại thích tu hơn thích làm quan. Rất đặc biệt.

Chúng ta bây giờ ngồi thiền vui hay khổ? Có người ngồi thiền hai tiếng, xuất mồ hôi hột, đau chân gần chết, đâu có gì vui. Thật ra nếu chúng ta tu khéo một chút thì tâm được an tĩnh, thân thể nhẹ nhàng thảnh thơi. Chừng đó mới thấy cái vui của thế gian không thể so bì được với cái vui thiền duyệt. Cho nên người tu thiền luôn nguyện lấy vui thiền duyệt làm thức ăn hằng ngày, lấy thiền định làm chỗ an ổn. Đó là mục đích chính của người xuất gia.

Trộn lẫn thế tục, hòa cùng ánh sáng, trong việc đối xử ngài chưa hề phụ lòng ai, nhân đó tiếp mạnh hạt giống pháp, dìu dắt được người sơ cơ. Người nào đến hỏi han cũng được ngài chỉ cho chỗ cương yếu khiến tâm tánh họ ứng dụng được nhẹ nhàng, khi hành cũng như lúc tàng, không gì nhất định cả.

Trộn lẫn thế tục, hòa cùng ánh sáng, nhà thiền gọi là “hòa quang đồng trần”. Khi trời nắng, ánh sáng bủa khắp, trong ánh nắng đó có những hạt bụi nhỏ li ti. Hạt bụi là trần, ánh sáng là quang, nhiều hạt bụi lẫn trong ánh sáng, hòa mà không hòa, vì bụi không phải ánh sáng, ánh sáng không kết thành bụi, nhưng bụi không ngoài ánh sáng, đó là hòa quang đồng trần. Như quý thầy cô ở thiền viện tu hành thanh tịnh, Phật tử ở thế gian trần tục, quang một nơi, trần một nơi thì không thể hòa quang đồng trần.

Thượng sĩ đã giác ngộ nhưng vẫn sống như người thế tục, hình thức cư sĩ là bụi, tâm tỉnh giác là ánh sáng. Ngài đã đem ánh sáng trí tuệ của mình hòa với bụi bặm, để bao bọc cứu vớt những kẻ trần tục. Đây là điều quý Phật tử nên học hỏi. Sống trong bụi trần mà đem ánh sáng của mình đánh thức người mê, để họ cùng tỉnh với mình, xứng đáng là người đạo đức và làm tròn bổn phận ở thế gian. Đó mới là người thật quý.

Thượng sĩ chưa hề phụ lòng ai. Ai hỏi gì ngài cũng đối đáp chứ không từ chối. Nhân đó mà hạt giống chánh pháp ngày càng hưng thịnh, ngày càng có nhiều người hiểu và ngộ được lý thiền.

Từ lâu, nhà vua nghe đồn đãi về ngài bèn cho sứ thỉnh vào cửa khuyết. Ngài hầu chuyện lời lời đều tỏ ra siêu tục, nhân đó vua tôn ngài là Sư huynh, tặng cho hiệu Thượng sĩ.

Ngài là con Trần Liễu, đối với vua Trần Thánh Tông là anh em chú bác nhưng vì ở xa nên ít về triều. Vua Thánh Tông nghe đức độ của ngài, mời vào cung để đàm đạo. Thấy chỗ hiểu của ngài siêu thoát, nên vua tôn ngài làm Sư huynh, tặng hiệu là Thượng sĩ.

Một hôm, có vị tăng đến hỏi:

- Bạch Thượng sĩ, tôi vì sanh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng, song chưa biết thân này từ đâu sanh ra? Chết sẽ đi về đâu?

Ngài đáp:

- Giữa trời dù có đôi vành chuyển,

Biển cả ngại gì hòn bọt sanh.

(Trường không túng sử song phi cốc,

Cự hải hà phòng nhất điểm âu.)

Vị tăng thắc mắc việc sanh tử, từ đâu sanh ra và chết đi về đâu. Đây là vấn đề thiết yếu trọng đại của kiếp sống con người.

Thượng sĩ trả lời:

Giữa trời dù có đôi vành chuyển,

Biển cả ngại gì hòn bọt sanh.

Trả lời như vậy có lạc đề không? Người nào khéo nhận thì thấy câu này hay vô cùng.

Đôi vành chuyển chỉ cho mặt trời mặt trăng mọc lặn trên bầu trời. Mặt trăng mặt trời mỗi ngày mọc rồi lặn trong hư không, nếu sánh với bầu trời thênh thang thì không có nghĩa lý gì. Hòn bọt nổi lên rồi tan đi trên mặt biển cũng chẳng quan trọng gì đối với biển cả mênh mông.

Cũng vậy, khi chúng ta nhận ra nơi mình có tâm thể bất sanh bất diệt rồi thì thấy sự sống chết ở thế gian này chỉ như trò chơi, chẳng có gì bận tâm. Sở dĩ chúng ta bận tâm với sanh tử là vì còn thấy thân này thật, thân này quan trọng. Cho nên, người nào tu mà bệnh nhiều, lúc sắp chết khóc lên khóc xuống thì đảm bảo đi trong sanh tử, chứ không giác ngộ giải thoát được.

Lại hỏi:

- Thế nào là đạo?

Ngài đáp:

- Đạo không có trong câu hỏi, câu hỏi không có trong đạo.

Vị tăng thắc mắc đạo là gì, đạo như thế nào? Thượng sĩ đáp: Đạo không ở trong câu hỏi, câu hỏi không ở trong đạo. Bởi vì đạo là lẽ thật, là tâm trong sạch lặng lẽ sẵn có nơi mỗi người. Vừa khởi niệm tìm hiểu là đạo đã ẩn, nên nói đạo không ở trong câu hỏi. Câu hỏi là tướng sanh diệt nên câu hỏi không ở trong đạo, vì đạo là thể bất sanh bất diệt.

- Cổ nhân nói: “Không tâm tức là đạo.” Đúng chăng?

- Không tâm chẳng phải đạo, không đạo cũng không tâm. Nếu họ nói “Không tâm là đạo” thì tất cả cây cỏ đều là đạo cả sao? Bằng ngược lại nói “Không tâm chẳng phải đạo” thì cần gì nói có không?

Vị tăng lại hỏi: Cổ nhân nói “Không tâm tức là đạo”. Đúng chăng?

Thượng sĩ đáp: Không tâm chẳng phải đạo, không đạo cũng không tâm. Các thiền sư thường nói “không tâm là đạo”, tại sao ở đây Thượng sĩ phủ nhận, nói không tâm chẳng phải đạo? Vì đạo chỉ cho thể thanh tịnh trong sáng, không thể dùng ngôn ngữ trong đó. Vừa khởi nghĩ, dấy niệm thì đạo mất nên nói không tâm chẳng phải đạo. Đạo không có tên, không có danh tự, nếu nói đạo là tâm thì đã mất đạo rồi. Nên nói không đạo cũng không tâm, còn hai thì không tới chỗ thật.

Thượng sĩ đáp như thế, sợ vị tăng còn nghi nên nói tiếp: Nếu họ nói “Không tâm là đạo” thì tất cả cây cỏ đều là đạo cả sao? Cỏ cây là vật vô tri, nếu nói không tâm là đạo thì cỏ cây vô tri là đạo sao? Bằng ngược lại nói “Không tâm chẳng phải đạo” thì cần gì nói có không? Nếu nói có nói không là còn thấy hai bên, là đã ở trong chỗ có tâm rồi.

Lắng nghe ta nói kệ đây:

Âm:

Bản vô tâm vô đạo

Hữu đạo bất vô tâm

Tâm đạo nguyên hư tịch

Hà xứ cánh truy tầm?

Dịch:

Vốn không tâm không đạo,

Có đạo chẳng không tâm.

Tâm đạo vốn rỗng lặng,

Chỗ nào đâu đuổi tầm?

Vị tăng chợt nhận ra ý chỉ, xá lạy lui ra.

Vốn không tâm không đạo, có đạo chẳng không tâm. Nói vốn không tâm không đạo, bởi vì còn thấy tâm thấy đạo là thấy hai nên chưa đúng. Còn thấy có đạo thì chẳng không tâm, vì có đạo tức là có tâm, còn có hai thì chưa phải đạo.

Tâm đạo vốn rỗng lặng, chỗ nào đâu đuổi tầm? Chỉ khi tâm rỗng lặng, không đối đãi không phân biệt phải quấy thì chỗ đó là đạo, vừa khởi niệm tìm liền sai. Đạo gần hay xa? Chính chỗ không tâm không đạo mới là chỗ thật gần. Chúng ta sẵn có cái biết, cái biết đó không đợi suy nghĩ hay dấy niệm mới có. Dừng nghĩ suy mới thấy đạo, còn tìm hiểu phân tích thì đừng mong thấy được đạo, vì càng tìm càng xa.

Học những lời này mới thấy Phật pháp rất chân thật mà cũng rất sâu kín. Muốn hiểu thì phải dừng suy nghĩ. Cho nên, ngồi thiền là phương tiện để chúng ta nhận ra cái thật mình đã bỏ quên, để minh chứng rằng cái đó luôn sẵn có, không cần tìm kiếm đâu xa.

Vị tăng chợt nhận ra ý chỉ, xá lạy lui ra. Chỗ này nghe hơi trái đạo lý. Thượng sĩ là cư sĩ, vị tăng là người xuất gia. Song, đây là điểm đặc biệt của Phật giáo đời Trần, không câu nệ hình thức mà cốt nhận ra cái chân thật. Dù xuất gia hay cư sĩ, thấy được cái đó rồi đều đáng kính. Lâu nay, chúng ta cứ bám vào hình thức bắt lỗi này kia, đó là chưa biết chỗ chân thật. Càng đi sâu vào lời dạy của các ngài, chúng ta càng thấy tinh thần thiền cởi mở rộng rãi, không câu nệ hình thức.

Có vị tăng hỏi:

- Bạch Thượng sĩ, thế nào là đại ý Phật pháp?

Ngài đáp:

- Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ,

Cánh bằng nhốt gió ruột kiến trùng.

(Ngao đầu đả lãng tiêu minh nhãn,

Bằng dực đoàn phong lũ nghị trường.)

Lại hỏi:

- Như vậy học nhân ắt được chỗ vào.

Ngài đáp:

- Gãi ngứa phải đâu người khác ngứa,

Đói ăn chính thật nhà ngươi ăn.

(Bà giới phi tha giới

Cơ xan chỉ nhữ xan.)

- Thế nào là Thanh tịnh pháp thân?

- Ra vào trong vũng nước trâu,

Nghiền ngẫm trong đống cứt ngựa.

(Xuất nhập ngưu tâu nội

Toàn nghiêm mã phẩn trung.)

- Thế ấy thì không thể chứng nhập?

- Không có niệm nhơ bợn tức pháp thân thanh tịnh. Hãy nghe ta nói kệ đây:

Âm:

Bản lai vô cấu tịnh,

Cấu tịnh tổng hư danh.

Pháp thân vô quái ngại,

Hà trược phục hà thanh?

Dịch:

Xưa nay không dơ sạch,

Dơ sạch toàn tên suông.

Pháp thân chẳng ngăn ngại,

Gì đục lại gì trong?

Vị tăng muốn biết đại ý Phật pháp nên đến hỏi Thượng sĩ, Thượng sĩ trả lời bằng hai câu thơ:

Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ,

Cánh bằng nhốt gió ruột kiến trùng.

Con trạnh là loại rùa biển, đầu mình to mà vỗ sóng trong mắt con sâu nhỏ. Cánh bằng là chỉ con chim lớn, thường gọi là đại bàng, cánh đại bàng mà lướt gió trong ruột con kiến. Không sao hiểu nổi.

Câu hỏi này ngày xưa ngài Lâm Tế hỏi tổ Hoàng Bá bị Tổ cho ăn gậy, ngài không hiểu gì hết. Ở đây, Thượng sĩ trả lời hai câu thơ, nghe qua cũng chẳng biết nói chi. Tuy vậy, trọng tâm trả lời không hai mà cách sử dụng phương tiện của thiền sư Trung Hoa và thiền sư Việt Nam có khác. Cả hai đều nhằm đưa người học đạo đến chỗ dứt nghĩ bàn. Ngài Lâm Tế sau khi bị tổ Hoàng Bá cho ăn đòn thì từ giã tìm đến thiền sư Đại Ngu. Thiền sư Đại Ngu hỏi:

- Ở chỗ nào đến?

- Ở Hoàng Bá đến.

- Hoàng Bá có dạy lời gì?

- Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?

- Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi?

Ngay câu nói ấy, ngài Lâm Tế đại ngộ.

Còn thấy có lỗi hay không lỗi là còn suy nghĩ phải quấy hơn thua, vừa khởi niệm suy nghĩ là đã trái với đại ý Phật pháp. Tất cả kinh điển đều nói như vậy. Kinh Di-đà dạy niệm Phật nhất tâm. Kinh A-hàm dạy người tu đến Diệt tận định, tức là không còn một niệm, không còn thọ tưởng hành thức. Đó mới là chỗ cứu cánh. Ở đây, ngài chỉ thẳng chỗ không suy nghĩ, không một niệm phân biệt thì tánh chân thật tự nhiên hiện ra, đó là đại ý Phật pháp. Nếu chúng ta không khéo nghe khéo hiểu thì cứ tưởng như các ngài nói đùa, không thấy được cái hay của nó.

Vị tăng nói: Như vậy học nhân ắt được chỗ vào. Thượng sĩ bảo:

Gãi ngứa phải đâu người khác ngứa,

Đói ăn chính thật nhà ngươi ăn.

Câu trả lời rất hay. Mình ngứa chỗ nào tự gãi chỗ đó mới đúng, người khác biết đâu mà gãi cho mình. Cũng như ta đói ta ăn mới no, người khác không ăn thế cho ta được. Ý muốn nói chỗ vào đó là phải tự ông thấy và sống, không ai thế cho ông được việc này.

Đại ý Phật pháp hết sức giản đơn, không một triết gia nào tìm hiểu được, cũng không một học giả nào phăng tìm được, chỉ khi buông hết tất cả thì Phật pháp hiện tiền. Như vậy học Phật là học buông, chỉ tại chúng ta không chịu buông, nên học cả đời vẫn còn lúng túng, không nhận hiểu được chỗ cứu cánh.

Lại hỏi: Thế nào là Thanh tịnh pháp thân? Thượng sĩ đáp:

Ra vào trong vũng nước trâu,

Nghiền ngẫm trong đống cứt ngựa.

Trong nhà thiền dùng cách hỏi trắng nói đen để đáp. Cho nên hỏi thanh tịnh, ngài đáp vũng nước trâu và đống cứt ngựa. Thanh tịnh, nhơ nhớp là đối đãi, nhân cái này có cái kia, nhân nhơ bẩn mới lập thanh tịnh. Đó là pháp đối đãi, không thật.

Lại thưa: Thế ấy thì không thể chứng nhập? Như vậy thì không thể nào chứng nhập được.

Ngài đáp: Không có niệm nhơ bợn tức pháp thân thanh tịnh. Không có niệm nhơ bợn tức là pháp thân thanh tịnh. Vừa dấy niệm là nhơ, che khuất cái thanh tịnh của pháp thân. Niệm nào dấy lên cũng che khuất. Thế nên, nhà thiền thường nói: “Mạt vàng tuy quý, rơi vào con mắt cũng thành bệnh.” Chúng ta cứ nghĩ bụi rơi vào mắt làm mắt mờ, còn mạt vàng óng ánh thì không sao, nhưng mạt vàng rơi vào mắt cũng bệnh. Bụi dụ cho suy nghĩ ác, mạt vàng dụ cho suy nghĩ thiện, chúng ta muốn được pháp thân thanh tịnh thì phải dứt hết niệm thiện ác. Vì còn niệm thì còn nhơ, dù nhớ những câu kinh hay cũng là bợn nhơ.

Pháp thân thanh tịnh thì không cho suy nghĩ, chỉ một tâm thanh tịnh thôi. Đây là điểm thiết yếu quan trọng trong việc tu hành. Làm sao dứt bỏ những niệm tưởng thì nhận ra cái chân thật của mình. Đừng cầu chư Phật Bồ-tát cứu mình mà phải tự nỗ lực, cương quyết chặn bỏ những thứ tạp nhạp.

Học Phật là tuyệt đối tự do. Tự do tạo tất cả, mình tạo mình chịu; tự do dẹp tất cả để thành người sáng suốt. Đó là quyền của mỗi người, không ai can thiệp được. Phật tổ chỉ là người chỉ đường, nhưng thế nhân lại quen ỷ lại, cầu xin Phật ban cho cái này cái kia. Như có Phật tử tin tưởng tôi chút chút, tới nói: “Con ngu quá! Thầy vỗ đầu mấy cái cho con bớt ngu.” Làm sao tôi vỗ được! Điều đó không phải do bên ngoài mà từ bên trong. Tự chữa cho mình, chứ không ai làm giùm được.

Nhiều người mê tín dị đoan, uống thuốc đã gần lành bệnh, tới xin thầy vuốt đầu cho hết bệnh. Thầy vuốt mấy cái, rồi hết bệnh, đâu ngờ hết bệnh là nhờ thuốc. Đó là cớ để tăng trưởng mê tín. Nếu vuốt đầu không hết thì nói “tại bệnh này do nghiệp nên thầy chuyển không được”, thành ra dối gạt nhau. Cái chân thật không phải chỗ đó. Phật tử cần hiểu sâu, biết rõ cái gốc của sự tu hành. Nếu không thì chúng ta mắc kẹt hoài, đầu óc lẩn quẩn, suốt đời tìm không ra lối đi.

Ngài nói kệ:

Xưa nay không dơ sạch,

Dơ sạch toàn tên suông.

Pháp thân chẳng ngăn ngại,

Gì đục lại gì trong?

Tăng hỏi thanh tịnh, ngài nói đục nói trong để trả lời. Rốt cuộc đục trong đều buông hết mới thấy được pháp thân vô ngại, còn mắc kẹt một bên thì chưa đạt được pháp thân. Rất rõ ràng.

Lại hỏi:

- Tổ Quy Sơn nói: “Trăm năm sau, lão tăng sẽ xuống núi làm con trâu nước”, ý muốn nói gì?

- Nếp đỏ mổ thừa anh võ hạt,

Ngô đồng biếc đậu phượng hoàng cành.

(Hồng đạo vịnh tàn anh võ lạp,

Bích ngô thê lão phượng hoàng chi.)

Khi tổ Quy Sơn sắp tịch, ngài bảo chúng: “Sau khi lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ Quy Sơn tăng Linh Hựu. Khi ấy gọi là Quy Sơn tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn tăng? Gọi thế nào mới đúng?” Vị tăng hỏi ý chỉ câu nói này, được Thượng sĩ đáp:

Nếp đỏ mổ thừa anh võ hạt,

Ngô đồng biếc đậu phượng hoàng cành.

Hai câu này mượn ý thơ của Đỗ Phủ. Đỗ Phủ muốn dùng lối thơ đảo ngược để diễn tả cái kỳ đặc của ông. Từ ý đảo ngược đó chúng ta thấy rõ ý nghĩa câu chuyện này. Câu nói xuôi là chim anh võ mổ hạt nếp đỏ, đây đổi ngược lại là nếp đỏ mổ thừa hạt anh võ. Và câu ngô đồng biếc đậu cành phượng hoàng, nói xuôi là chim phượng hoàng đậu cành ngô đồng biếc. Thượng sĩ dùng lối văn đảo ngược để trả lời, chứ không nói theo lẽ thông thường.

- Xưa thái tử Tất-đạt-đa vào miếu thần, tượng thần sụp xuống lạy dưới chân, việc ấy thế nào?

- Nắm xòe vẫn một bàn tay,

Ấn mắt hóa ngàn sai khác.

(Khai quyền nguyên thị chưởng

Niết mục hựu thiên sai.)

Vị tăng ấy nhắc lại chuyện thái tử Tất-đạt-đa vào miếu thiên thần, tượng thần sụp lạy dưới chân, hỏi Thượng sĩ việc ấy như thế nào?

Thượng sĩ đáp:

Nắm xòe vẫn một bàn tay,

Ấn mắt hóa ngàn sai khác.

Nghĩa là xòe năm ngón tay hay co năm ngón tay lại cũng chỉ là một bàn tay, chứ không có bàn tay một xòe một nắm. Cái thấy cũng vậy, đứng thấy hay ngồi thấy cũng chỉ là cái thấy thôi. Vì dụi mắt nên lòa thấy có muôn ngàn thứ sai khác. Xưa thái tử Tất-đạt-đa vào miếu thần, tượng thần sụp xuống lạy dưới chân chỉ là việc thường, không có gì quan trọng.

- Ngài Nam Tuyền bán mình, ý ấy là sao?

- Còn lúc ngài chưa bán mạng thì ý ấy là sao?

Vị tăng không đáp được. Sư hét, đuổi ra.

Một hôm, thiền sư Nam Tuyền ở giữa chúng nói rằng: Lão tăng bán mình, có ai mua không? Bán với giá không mắc không rẻ. Đây là thuật khai ngộ của người xưa, vị tăng này không thông, chỉ hiểu thiền sư Nam Tuyền bán thân nên mới đem hỏi Thượng sĩ. Thượng sĩ hỏi lại: Còn lúc ngài chưa bán mạng thì ý ấy là sao?

Phương tiện của người xưa nói ra đều nhằm khai ngộ cho đệ tử nhận ra ý chỉ thiền. Bán thân mà không bán mắc không bán rẻ, vậy bán giá nào? Ai biết được giá này để mua? Chỗ không mắc không rẻ đó mới là hợp đạo lý. Vị tăng không đáp được, nên ngài hét đuổi ra.

Một vị tăng hỏi:

- Hòa thượng Thủy Lạo lần đầu tiên đến tham bái Mã Tổ hỏi về ý nghĩa việc tổ sư Đạt-ma từ Ấn sang, Mã Tổ đạp cho một đạp té nhào. Thủy Lạo lồm cồm ngồi dậy, chợt tỏ ngộ ngay, vỗ tay cười hả hả. Ấy là nghĩa gì?

Ngài đáp:

- Cái đạp của rồng voi chẳng phải sức lừa chịu nổi.

Hòa thượng Thủy Lạo đến chỗ Mã Tổ Đạo Nhất hỏi về ý nghĩa việc tổ sư Đạt-ma từ Ấn sang, bị Mã Tổ đạp cho một đạp, ngài Thủy Lạo té nhào, khi đứng dậy thì đại ngộ, cười ha hả. Vậy cái cười đó ý nghĩa thế nào?

Thượng sĩ đáp: Cái đạp của rồng voi chẳng phải sức lừa chịu nổi. Ông là con lừa, cái đạp của Mã Tổ là đạp của rồng voi, nên ông đừng trông hiểu nổi chỗ đó. Chỉ có ngài Thủy Lạo mới hiểu được thôi.

Lại hỏi:

- Sau đó Thủy Lạo còn nói với học trò rằng từ lúc ăn cái đạp của Mã Tổ đến nay, ông ta cười mãi không thôi. Thế lại là nghĩa gì?

Ngài đáp:

- Thật là tiếng gầm hống của loài sư tử, phải đâu giọng kêu the thé của chó rừng.

- Tôi không hiểu.

Ngài bèn đọc bài kệ chỉ cho:

Âm:

Nhất đạp đạp đảo,

Thùy giải tầm thảo.

Đại tiếu khởi lai,

Tăng sanh áo não.

Yếu thức Tây lai,

Mã câu khiết thảo.

Dịch:

Một đạp ngã nhào,

Ai hay tìm xét.

Đứng dậy cười to,

Lại sanh buồn thảm.

Cần hiểu Tây sang,

Ngựa tơ ăn cỏ.

Vị tăng xá lui ra.

Vị tăng hỏi tiếp: Sau đó Thủy Lạo còn nói với học trò rằng từ lúc ăn cái đạp của Mã Tổ đến nay, ông ta cười mãi không thôi. Thế lại là nghĩa gì? Đây là nét kỳ đặc trong nhà thiền. Hỏi một câu liền bị đạp cho một đạp rồi lãnh ngộ, từ đó về sau cười hoài. Nếu người nào thấy được thì cũng cười hoài thôi. Bởi vì đã nhận ra cái sẵn có của mình từ thuở nào.

Ví như cha mẹ chôn cất viên ngọc quý để dành cho con cháu, dặn sau này nhớ đào lên. Cha mẹ chết, người con quên lửng, không biết chỗ nào. Bấy giờ gặp một người thân chỉ cho chỗ chôn của báu, người con đào lên gặp viên ngọc mừng quá nên cười ha hả.

Chúng ta cứ chạy ngược xuôi cầu chỗ này xin chỗ kia, cả đời không xoay lại cái thật của mình. Đến khi có cơ hội thấy được thì có người cười, có người khóc. Trước giờ khổ sở bao năm, tìm hoài không thấy, bây giờ thấy được mừng quá nên khóc, cười. Bởi vậy chư tăng ni tu thiền khi ra thất, tôi thường hỏi cười hay khóc. Buồn khóc là vì mất mấy tháng mà không được lợi lạc. Vui cười vì mò được viên ngọc trong túi rồi. Đó là điểm đặc biệt trong nhà thiền.

Thượng sĩ đáp: Thật là tiếng gầm hống của loài sư tử, phải đâu giọng kêu the thé của chó rừng. Tiếng gầm rống của sư tử to lớn vang dội cả núi rừng, chứ không phải tiếng kêu the thé của dã can. Cái cười của người ngộ đạo, chứ không phải cái cười của thế gian.

Thượng sĩ dạy như thế mà vị tăng vẫn chưa hội, nên ngài phải nói kệ dạy tiếp:

Một đạp ngã nhào,

Ai hay tìm xét.

Đứng dậy cười to,

Lại sanh buồn thảm.

Ngài Thủy Lạo bị ăn đạp của Mã Tổ, liền hội được ý chỉ của Tổ sư nên cười ha hả. Thế mà người đời sau cứ thắc mắc nghi vấn nên buồn thảm, buồn ở chỗ thắc mắc nghi vấn đó.

Cần hiểu Tây sang,

Ngựa tơ ăn cỏ.

Hai câu này dẫn lời của tổ Bát-nhã-đa-la huyền ký cho tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, sau này dưới ngài sẽ có con ngựa tơ ăn cỏ. Tức là sau tổ Bồ-đề-đạt-ma sẽ có Mã Tổ ra đời làm hưng thịnh thiền tông ở Trung Hoa.

Vị tăng khác hỏi:

- Bạch Thượng sĩ, lời xưa nói: “Xanh xanh trúc biếc thảy là pháp thân”, có đúng chăng?

Ngài đáp:

Sa-di ăn măng rừng bữa trước

Đâu phải như pháp thân ngươi hôm nay.

(Sa-di tạc nhật thực khê duẩn

Mạc thị như kim nhữ pháp thân.)

Lại hỏi:

- Còn câu nói “Rậm rậm hoa vàng đều là Bát-nhã” là ý nói gì?

Hoa đào đâu phải cây bồ-đề,

Sao lại Linh Vân nhập được đạo.

Vị tăng hỏi: Xanh xanh trúc biếc thảy là pháp thân, có đúng chăng? Thượng sĩ đáp:

Sa-di ăn măng rừng bữa trước,

Đâu phải như pháp thân ngươi hôm nay.

Nếu trúc xanh là pháp thân thì người ta ăn măng cũng là ăn pháp thân sao? Như vậy có đúng không? Thật ra đó là một lối nói khác. Khi tâm như thì muôn cảnh đều như, nên thấy trúc biếc hoa vàng đều là pháp thân. Trúc xanh không phải pháp thân, pháp thân ở tâm mình chứ không ở ngoài.

Lại hỏi: Còn câu nói “Rậm rậm hoa vàng đều là Bát-nhã” là ý nói gì? Ngài đáp:

Hoa đào đâu phải cây bồ-đề,

Sao lại Linh Vân nhập được đạo.

Thượng sĩ dẫn câu chuyện của ngài Linh Vân, một hôm thấy hoa đào nở rộ, ngay đó ngài ngộ đạo, làm kệ:

Ba mươi năm qua tìm kiếm khách,

Bao lần lá rụng lại đâm chồi.

Từ khi thấy được hoa đào nở,

Thẳng đến ngày nay trọn chẳng nghi.

Ngài Linh Vân nói ba mươi năm trở lại đây tìm trang kiếm khách mà không gặp, từ ngày thấy hoa đào nở, ngài bừng ngộ không còn nghi ngờ nữa, nên có bài kệ ngộ đạo này.

Ngài Hương Nghiêm cuốc đất văng cục đá chạm vào cây trúc, nghe tiếng vang liền ngộ đạo. Đạo có sẵn trên hoa đào, trên cây trúc chăng? Hoa đào không phải là Bồ-đề, tiếng vang của cục đá chạm vào cây trúc cũng không phải Bồ-đề, nhưng ngộ là Bồ-đề. Như vậy ngộ ở nơi người chứ không phải từ nơi cảnh, khi tâm người tu đã thuần thục và chín muồi, bất chợt gặp một duyên nào bên ngoài, ngay đó liền ngộ.

Lại hỏi:

- Có ba vị tăng đi hành khước giữa đường gặp cọp, người nào cũng né qua một bên mà đi. Bấy giờ như thế nào?

Ngài đáp:

- Gió thổi ngại gì đám hoa rậm,

Trăng tà đâu quản đáy khe sâu.

(Phong xuy bất ngại hoa gian mật,

Nguyệt lạc vô phương giản để thâm.)

Ba vị tăng là ngài Quy Tông, Trí Kiên và Nam Tuyền, đều là những bậc thiền sư nổi danh đương thời. Các ngài đã thông đạo lý rồi nên đối duyên xúc cảnh, tâm không khởi niệm phân biệt suy lường hay lo sợ, việc đến hay đi các ngài vẫn bình thản an nhiên. Giống như gió thổi qua đám hoa rậm hay cỏ gai, gió vẫn cứ thổi không ngại; như trăng hiện bóng trong nước, chỗ nào có nước là trăng hiện bóng, trăng không nghĩ đáy khe này sâu ngộp mà không hiện, suối kia cạn thoải mái mới hiện. Hai câu thơ của Thượng sĩ ý nói ngài Quy Tông, Trí Kiên, Nam Tuyền tránh cọp mà đi một cách tự nhiên, chứ không dấy niệm phân biệt gì cả, giống như gió thổi, như trăng hiện bóng vậy.

Lại hỏi:

- Lúc ấy Quy Tông nói “Giống tợ con mèo.” Đó là ý gì?

- Miệng nói không phải tự mình gặp.

- Còn ngài Trí Kiên nói “Giống tợ con chó.” Đó là ý gì?

- Lão ấy nắm được thời cơ gom quét sạch hết, nhưng có điều đáng tiếc.

- Còn ngài ý thế nào?

- Con chó.

- Đến sư Nam Tuyền nói “Đó là một con cọp.” Ý chỉ thế nào?

- Gót chân chẳng chấm đất.

Vị tăng thắc mắc: Quy Tông nói “giống tợ con mèo”. Thượng sĩ đáp: Miệng nói không phải tự mình gặp. Đó chỉ là một lối nói.

Lại hỏi: Còn ngài Trí Kiên nói “giống tợ con chó”. Đó là ý gì? Thượng sĩ đáp: Lão ấy nắm được thời cơ gom quét sạch hết, nhưng có điều đáng tiếc. Ngài Trí Kiên khéo dùng được thời cơ, gom hết quét sạch, nhưng tiếc một chút là nói giống tợ con chó, nên còn kẹt chút ít.

Tăng hỏi: Còn ngài ý thế nào? Thượng sĩ đáp: Con chó. Đây là lối nói để người hỏi không còn chấp nữa.

Tăng lại thắc mắc: Đến sư Nam Tuyền nói “đó là một con cọp”. Ý chỉ thế nào? Thượng sĩ đáp: Gót chân chẳng chấm đất. Đó mới là thứ thiệt, là chỗ cứu cánh. Còn nói chó nói mèo là còn so sánh, chưa tới chỗ tột cùng.

Người thế gian quen dùng những hình ảnh để so sánh cái này với cái kia. Như ở Đà Lạt, gió thổi rừng thông, người ta thường nói tiếng thông reo. Gió thổi gặp lá thông cản lại thành ra nghe như vậy, chứ thông nào biết reo. Cho nên, thế nhân sống bằng tưởng tượng nhiều hơn sống thật, không thấy được chân lý, lẽ thật. Ngài Nam Tuyền thấy cứ thấy, không khởi thêm một niệm nào, nên Thượng sĩ khen: Gót chân không chấm đất. Gót chân chấm đất thì dính đất, gót chân không chấm đất thì không dính gì cả. Tức là không còn phân biệt chấp trước, hoàn toàn tự tại.

Tăng hỏi:

- Thế nào là Pháp thân?

Ngài đáp:

- Bên ao thấy hai cái,

Dưới trăng vui ba người.

(Trì biên khán lưỡng cá

Nguyệt hạ hỷ tam nhân.)

Bên hồ nước trong, nếu chúng ta đi trên bờ hồ thì thấy bóng mình hiện dưới nước, mình đi đâu bóng đi theo đó, giống như có hai người cùng đi. Trong đêm trăng sáng, chúng ta đứng trên sân thì thấy bóng mình, mình và mặt trăng, gồm ba người. Nhưng ánh sáng là ánh sáng, không có hai ba. Chỗ chân thật cứu cánh lúc nào cũng sẵn, trong sáng, vì chúng ta mê lầm nên thấy có đối đãi, có hai có ba.

- Pháp thân với Sắc thân giống nhau hay khác nhau?

- Gươm mang hiệu Long Tuyền,

Ngọc xưng tên hổ phách.

(Kiếm trước Long Tuyền hiệu

Châu xưng hổ phách thiên.)

Cây gươm được khắc hiệu Long Tuyền, cây gươm và hiệu Long Tuyền là một hay là hai? Cây gươm là cây gươm, người ta muốn gắn hiệu gì cho cây gươm đều được. Hòn ngọc là hòn ngọc, hổ phách chỉ là tên đặt. Cũng vậy, pháp thân là cây gươm, sắc thân là hiệu, chỉ là tên giả, không có gì quan trọng.

Tăng hỏi:

- Thế Tôn nói: “Suốt bốn mươi chín năm, ta chưa từng nói một chữ.” Vậy mười hai phần giáo từ đâu mà được?

Ngài đáp:

Hơi xông khỏi hộp mong khôi phục,

Thuốc thánh mở bình muốn bệnh tiêu.

(Khí xung xuất hạp cầu khôi phục

Linh bảo khai bình dục bệnh tiêu.)

Thượng sĩ ví pháp Phật nói ra như thuốc báu đựng trong bình vàng, vì muốn cho chúng sanh hết bệnh nên mới mở nắp bình lấy ra cho uống. Tất cả kinh điển Phật nói ra cho đệ tử nghe, như thanh gươm báu thời loạn tỏa hơi sáng xông ra khỏi hộp, được dùng để dẹp bất bình đem lại an lạc trong cõi. Tuy nói rất nhiều nhưng quy lại không ngoài nơi tự tâm, khai thị cho mọi người nhận ra tâm thể thanh tịnh sẵn có nơi mình.

Thế nên, mười hai phần giáo đức Phật nói xong, ngài phủ nhận là chưa từng nói một chữ. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện chứ không phải là cái thật, thể thanh tịnh có sẵn nơi mỗi người mới là chân thật cứu cánh. Cũng như thuốc trị bệnh, như hơi gươm xông ra từ hộp là tạm chứ không phải thật. Nếu hết bệnh thì thuốc cũng bỏ đi, xã hội thái bình gươm nằm yên trong vỏ.

Sở dĩ giáo pháp của Phật có là do bệnh của chúng sanh còn, nếu chúng sanh hết bệnh thì giáo pháp cũng bỏ luôn. Thế mà lâu nay chúng ta chấp pháp Tứ đế là chân lý, là bất khả. Đó chỉ là phương tiện. Hiểu như thế mới thấy được chiều sâu của pháp Phật.

- Thế nào là Phật của chính mình?

- Chẳng đến rượu bồ-đào,

Khó gặp người đập hũ.

(Bất hướng bồ-đào tửu

Hy phùng phá ứng nhân.)

Muốn biết người say đập ghè đập hũ thế nào thì phải uống rượu bồ-đào mới hiện tướng người say. Cũng vậy, muốn biết Phật của chính mình thì phải ngộ; ngộ là nhận ra ngay, không cần hỏi. Giống như muốn thấy người say thì phải tới quán rượu, tới đó sẽ thấy, không cần hỏi.

- Phải hiểu thế nào?

- Nhà lớn một đêm ngủ,

Sông dài chung đò qua.

(Đại hạ nhất dạ miên

Trường giang đồng độ thuyền.)

Phật của chính mình là người ngủ, thân này là cái nhà. Đã đi chung con đò thì Phật và mình không hai, không xa lạ. Lời nói này chân thành đáo để. Phật của chính mình là ở ngay nơi mình, chẳng phải phần ngoài, đừng tìm kiếm đâu xa.

- Thế nào là tâm của cổ Phật?

- Trọn nói khắp thành không quốc sắc,

Đâu hay cửa tía có thuyền quyên.

(Tận đạo mãn thành vô quốc diễm,

Bất tri chu hộ hữu thuyền quyên.)

Tâm cổ Phật là Phật xưa của mỗi người. Giống như nói cả thành không có người đẹp, nhưng đâu ngờ trong cửa tía vẫn có lắm người đẹp. Cũng vậy, tâm cổ Phật ở sẵn nơi mình chứ không phải đâu xa. Ngay nơi mình đã có tánh Phật, có thiếu đâu mà đi tìm kiếm.

- Cổ nhân nói “Tức tâm tức Phật”, mà sao không hiện trước mắt?

- Phanh trai tìm ngọc dù khó gặp,

Mổ cá cầu châu uổng công thôi.

(Thám châu phẫu bạn tuy nan đắc

Mạc hướng khoa ngư tác biệt tầm.)

Muốn lấy ngọc trai thì phải ngay con trai mà mổ để lấy mới có, chứ còn mổ cá để lấy ngọc trai thì không bao giờ được. Cũng vậy, muốn cho Phật hiện tiền thì phải ngay nơi sáu căn mà nhận, đừng tìm chỗ nào khác.

- Dám hỏi thế nào là gia phong của Thượng sĩ?

Ngài đáp:

- Rảnh, ném trái rừng kêu vượn tiếp,

Lười, câu cá suối khiến hạc tranh.

(Nhàn phao nham quả hô viên tiếp,

Lãn điếu khê ngư dẫn hạc tranh.)

Thượng sĩ nói khi rảnh rang thì ném trái cây rừng kêu vượn khỉ tới ăn, khi lười thì ngồi câu bên bờ suối, được cá thì kêu hạc tới mổ ăn. Gia phong của ngài là thế ấy. Hai chữ rảnh và lười chỉ cho những lúc thảnh thơi thong thả, Thượng sĩ làm những việc tưởng chừng vô ích mà lại rất hữu ích, không bận bịu mà vẫn thường tự tại. Chúng ta bây giờ không biết nhàn, không biết lười nên làm việc gì cũng thấy quan trọng, lo lắng không yên.

Lại hỏi:

- Tổ ý và giáo ý là đồng hay khác?

Ngài đáp:

- Sóng, nước tên tuy khác,

Búp, nở một đóa hoa.

(Ba thủy danh tuy dị

Khai hàm nãi nhất hoa.)

Sóng nước tên tuy khác nhưng thể không hai. Đóa hoa khi còn búp và khi nở tuy khác nhưng thể cũng không hai.

- Bồ-đề với phiền não khác nhau, giống nhau thế nào?

- Trong nước có vị muối, giữa sắc có màu keo.

(Thủy trung diêm vị, sắc lý giao thanh.)

Keo và màu không rời nhau, cũng như vị mặn và nước biển không hai. Như vậy phiền não không cách biệt với Bồ-đề, không phải ngoài phiền não có Bồ-đề, không phải ngoài Bồ-đề có phiền não. Vậy mà chúng ta lại sợ phiền não, cầu Bồ-đề. Ví như người thế gian gặp cảnh gia đình khổ điêu đứng là phiền não. Một khi sực tỉnh cuộc đời giả tạm, phát tâm tu hành là từ phiền não chuyển thành Bồ-đề. Lại khi đang tu, nghe ở nhà có nhiều chuyện rắc rối, muốn trở về giúp đỡ thì Bồ-đề thành phiền não. Như vậy phiền não và Bồ-đề không có hai, mà do mê nên có cái này cái kia. Ý nghĩa này rất rõ.

- Thế nào là nghiệp sanh tử?

- Sương thu lác đác bờ lau,

Trời đêm tuyết xuống nhuộm màu trăng thanh.

(Thu sương trích trích lô hoa ngạn,

Dạ tuyết phân phân nguyệt sắc thiên.)

Ban đêm tuyết sương rơi phủ trên hoa lau, làm mờ cả bóng trăng. Sáng ra mặt trời lên, ánh sáng rọi thì sương tan mất. Như vậy nghiệp sanh tử có đó rồi mất đó, giống như sương hay tuyết đêm rơi ngày tan vậy, không có gì quan trọng. Đừng thấy nghiệp sanh tử thật rồi chạy theo nó để phải chịu khổ đau.

Lại hỏi:

- Ngài Dật-đa (Di-lặc) không tu định tuệ thì làm sao thành Phật được?

Ngài đáp:

- Đào đỏ trên cây thời tiết đúng,

Cúc vàng bên giậu chắc gì xuân.

(Hồng đào thọ thượng chân thời tiết,

Hoàng cúc ly biên bất thị xuân.)

Phật Thích-ca và Bồ-tát Di-lặc cùng tu một lượt, mà đức Thích-ca đã thành Phật còn Bồ-tát Di-lặc thì chưa. Thế nên tăng hỏi: Ngài Dật-đa (Di-lặc) không tu định tuệ thì làm sao thành Phật được?

Thượng sĩ đáp:

Đào đỏ trên cây thời tiết đúng,

Cúc vàng bên giậu chắc gì xuân.

Cúc nở vàng rực bên hàng rào không phải là mùa xuân, nhưng đào nở đỏ trên cây đó là tiết xuân. Cũng vậy, tuy Bồ-tát Di-lặc không chuyên tu định tuệ, nhưng có trì tụng kinh nên khi công đức tích lũy đầy đủ, nhân duyên thời tiết đến thì ngài thành Phật.

- Khi ngồi thiền tập định thì thế nào?

- Vua chúa xuống xe chọi ếch nhái.

Câu này lấy từ điển tích vua nước Việt là Câu Tiễn đi đánh nước Ngô, trên đường đi vua thấy có con ếch to, phùng mang có vẻ chống lại xe. Vua bảo dừng xe bước xuống, kính cẩn chào con ếch rồi lên xe đi lại. Khi đó những người hầu cận hỏi: “Tại sao Bệ hạ xuống xe chào con ếch?” Vua đáp: “Vì con ếch dũng cảm dám chống lại xe.” Ếch nhái là loài thấp hèn, tại sao vua chúa phải xuống xe chào? Vua xuống xe là vì trọng dũng khí của con ếch.

Người tu cũng vậy, không phải tọa thiền tập định là thành Phật, nhưng đó là dũng khí của người tu. Nhờ có dũng khí mới gan dạ ngồi bất động không cựa quậy suốt hai ba giờ đồng hồ. Do dũng khí mới khả dĩ vươn lên tiến đạo.

- Khi không ngồi thiền tập định thì thế nào?

- Thuyền Phạm Lãi sông hồ vui thú.

Ý này dẫn từ điển tích Phạm Lãi là người sống trong thời Xuân Thu. Ông giúp Việt Vương Câu Tiễn diệt được Ngô Phù Sai, khôi phục lại nước Việt. Việc nước lo xong, ông từ quan, lênh đênh trên thuyền dạo chơi vùng Ngũ Hồ. Thượng sĩ dẫn chuyện này để thấy rằng người nhận được chỗ chân thật thì hành động nào cũng là thiền, đi đứng nằm ngồi đều thiền, thấy tất cả pháp đúng như nó. Như vậy mới xứng đáng là người cao tột.

Có vị tăng hỏi:

- Kinh nói: “Muốn đạt đến con đường vô sanh, cần biết rõ cội nguồn.” Thế nào là cội nguồn?

Ngài đáp:

Tìm nguồn chẳng có cội,

Nắm cội cũng không nguồn.

(Tầm nguyên phi hữu bản,

Cứ bản diệc vô nguyên.)

Muốn đạt đến con đường vô sanh, cần phải biết rõ cội nguồn. Nhưng tìm nguồn thì không có cội, nếu bám vào cội thì không thấy nguồn, còn thấy cội nguồn thì con đường vô sanh còn xa.

Lại hỏi:

- Trong kinh nói: “Không tức là sắc, sắc tức là không”, ý ấy thế nào?

Ngài im lặng giây lâu, rồi hỏi lại:

- Ông hiểu chưa?

- Chưa hiểu.

- Ông có sắc thân chứ?

- Có.

- Sao nói sắc tức là không? Ông thấy “cái không” có tướng mạo gì không?

- Không.

- Sao nói không tức là sắc?

- Rốt cuộc là thế nào?

- Sắc vốn không không, không vốn không sắc.

Vị tăng lễ tạ. Ngài nói:

- Nghe kệ ta đây:

Âm:

Sắc tức thị không không thị sắc,

Tam thế Như Lai phương tiện lực.

Không bản vô sắc sắc vô không,

Thể tánh minh minh phi thất đắc.

Dịch:

Sắc tức không, không tức sắc,

Ba đời Như Lai phương tiện đặt.

Không vốn không sắc, sắc không không,

Thể tánh sáng ngời không được mất.

Trong kinh Bát-nhã nói: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, đó là phương tiện Phật dạy chúng ta quán chiếu để phá chấp. Bởi do lâu nay chúng ta chấp thân mình là thật, nên Phật nói thân không thật để thấy rõ tánh nó là không.

Chúng ta phải đi tới chỗ cuối cùng, cái nào thấy ra cái nấy, sắc thấy sắc, không thấy không thì thể tánh hiện rõ sáng ngời, không mất. Cũng như trước ba mươi năm, thiền sư thấy núi sông là núi sông. Đến khi gặp thiện tri thức chỉ dạy, thấy núi sông không phải núi sông. Sau ba mươi năm, lại thấy núi sông là núi sông. Giai đoạn thấy núi sông không phải núi sông là quán, là phá chấp, chưa tới chỗ thật. Đây là giai đoạn ứng dụng tu, chưa phải chỗ cuối cùng. Tới chỗ cuối cùng mới thấy sắc sắc không không.

Ngày kia, Thái hậu mở tiệc thịnh soạn. Ngài dự tiệc gặp cá thịt cứ ăn. Thái hậu thấy lạ hỏi:

- Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?

Thượng sĩ cười đáp:

- Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh. Thái Hậu chẳng nghe cổ đức nói: “Văn-thù là Văn-thù, Giải Thoát là Giải Thoát” đó sao?

Ngài vào cung thăm, Thái hậu mở tiệc thịnh soạn tiếp đãi. Tiệc có cả chay lẫn mặn, ngài ngồi ở giữa nên gắp cả hai bên. Thái hậu lấy làm lạ hỏi: Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được? Thượng sĩ đáp: Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh. Lời nói nghe như ngạo nghễ nhưng là lẽ thật. Chúng ta tu để giác ngộ thành Phật, chứ không phải để thành ông Phật ngồi trên bàn thờ. Phật là chuyện của Phật, mình là chuyện của mình. Phật tu trước Phật giác ngộ, mình tu sau mình giác ngộ Phật của mình. Cho nên ngài nói Phật là Phật, anh là anh.

Ngài nói tiếp: Không nghe cổ đức nói “Văn-thù là Văn-thù, Giải Thoát là Giải Thoát” đó sao? Trong thiền sư Trung Hoa có kể thiền sư Văn Hỷ sau khi tham vấn thiền sư Tánh Không, nghe nói trên Ngũ Đài Sơn có Bồ-tát Văn-thù thị hiện, ngài khao khát muốn lên Ngũ Đài Sơn để yết kiến. Sư đến chùa Hoa Nghiêm, sang lễ bái hang Kim Cang, gặp một ông già dắt trâu đi, mời Sư vào chùa, ông gọi: “Quân Đề!” Có đồng tử “Dạ”, ra đón. Ông già thả trâu, dẫn Sư vào trong. Sư nhìn thấy nhà cửa đều hiện sắc vàng. Ông già ngồi trên giường, chỉ cái đôn bảo Sư ngồi. Ông già hỏi:

- Vừa ở đâu đến?

Sư thưa:

- Ở phương nam đến.

- Phương nam Phật pháp trụ trì thế nào?

- Đời mạt pháp Tỳ-kheo ít giữ giới luật.

- Chúng nhiều ít?

- Hoặc ba trăm hoặc năm trăm.

Sư hỏi lại:

- Ở đây Phật pháp trụ trì thế nào?

- Rắn rồng lẫn lộn, phàm thánh chung ở.

- Chúng nhiều ít?

- Trước ba ba, sau ba ba.

Đồng tử dâng trà và tô lạc, Sư dùng vào cảm thấy tâm ý sảng khoái. Ông già đưa chung pha lê lên hỏi Sư:

- Phương nam lại có cái này chăng?

Sư thưa:

- Không.

- Hằng ngày lấy cái gì uống trà?

Sư không đáp được. Thấy bóng mặt trời xế chiều, Sư hỏi:

- Tôi xin ở lại một đêm được chăng?

Ông già bảo:

- Ông còn chấp tâm chẳng được nghỉ.

- Tôi đâu có chấp tâm.

- Ngươi đã thọ giới chưa?

- Thọ giới đã lâu.

- Ngươi nếu không chấp tâm đâu cần thọ giới.

Sư từ tạ trở xuống. Ông già sai đồng tử tiễn chân. Sư hỏi đồng tử:

- Trước ba ba, sau ba ba là nhiều ít?

Đồng tử gọi:

- Đại đức!

Sư ứng thanh:

- Dạ!

Đồng tử bảo:

- Ấy nhiều ít?

Sư lại hỏi:

- Đây là chỗ gì?

Đồng tử đáp:

- Đây là chùa Bát-nhã trong hang Kim Cang.

Sư buồn bã, biết ông già đó là Văn-thù mà không thể nào gặp lại được. Sư đảnh lễ đồng tử xin một câu khi từ biệt. Đồng tử nói kệ:

Diện thượng vô sân cúng dường cụ,

Khẩu lý vô sân thổ diệu hương,

Tâm lý vô sân thị trân bảo,

Vô cấu vô nhiễm thị chân thường.

Dịch:

Trên mặt không sân đồ cúng dường,

Trong miệng không sân xuất diệu hương,

Trong tâm không sân là trân bảo,

Không nhơ không nhiễm là chân thường.

Nói xong, Quân Đề và chùa đều ẩn, chỉ thấy trong mây năm sắc Văn-thù cưỡi kim mao sư tử qua lại, chợt có cụm mây trắng từ phương đông bay qua che lấp.

Niên hiệu Hàm Thông năm thứ ba (862) Sư đến Hồng Châu lại viện Quan Âm yết kiến Ngưỡng Sơn. Qua câu nói, Sư liền khế ngộ bản tâm. Ngưỡng Sơn cử Sư sung chức điển tọa. Sư nấu cháo, thường thấy Văn-thù hiện trên nồi cháo. Sư lấy cây giầm quậy cháo đập, nói:

- Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ.

Văn-thù nói kệ:

Khổ hồ liên căn khổ,

Điềm qua triệt đới điềm,

Tu hành tam đại kiếp,

Khước bị lão tăng hiềm.

Dịch:

Dưa đắng gốc vẫn đắng,

Dưa ngọt rễ cũng ngon,

Tu hành ba đại kiếp,

Lại bị lão tăng đòn.

Niên hiệu Quang Khải thứ ba (887) Tiền Vương thỉnh Sư trụ Long Tuyền Giải Thự. Giải Thự là giải thoát thự, thự là chỗ ở, là dinh thự. Bắt đầu từ đó, người ta gọi ngài là Giải Thoát. Về sau Thượng sĩ cũng gọi ngài Văn Hỷ là Giải Thoát.

Khi còn mê, chúng ta cầu Phật Bồ-tát độ. Nhưng khi đã ngộ nơi tâm mình rồi thì không còn mong cầu gì cả, dù Bồ-tát hiện cũng không quan tâm.

Qua những lời đối đáp của Thượng sĩ, chúng ta thấy thiền Trung Hoa quá táo bạo, nào hét nào đánh, còn thiền Việt Nam thì thi vị hiền hòa. Năm rồi ra Bắc, tôi có giảng về sự sai biệt của thiền Trung Quốc, thiền Nhật Bản và thiền Việt Nam. Vì Trung Quốc là nước lớn người đông, nên xử sự mạnh bạo, người ngộ được lý thiền cũng mạnh bạo. Việt Nam là nước nhược tiểu, nên xử sự theo cách nhàn nhã của người Việt, văn chương chứ không phải đánh đập. Nhật Bản thì trọng nghệ thuật nên thiền Nhật Bản có nhiều hình thức: nghệ thuật đánh côn, nghệ thuật đánh kiếm, nghệ thuật uống trà... Đây là nét kỳ đặc riêng của từng vùng. Thiền vốn không hai nhưng cách xử sự mỗi nơi mỗi khác. Hiểu vậy mới thấy giá trị đặc biệt của thiền Việt Nam. Vậy mà lâu nay chúng ta quên, thế nên tôi muốn khơi dậy để chúng ta bớt mặc cảm là đạo Phật Việt Nam không có gì. Đạo Phật Việt Nam rất phong phú, chỉ tại chúng ta không biết mà thôi.

Khi Thái hậu qua đời, nhà vua cúng chay ở cung cấm. Nhân lễ khai đường, vua thỉnh các vị tôn túc bốn phương mỗi vị làm một bài kệ ngắn trình bày chỗ kiến giải của mình. Kết quả bài nào cũng quến sình ủng nước, chưa tỏ ngộ.

Nhà vua bèn trao giấy mực cho Thượng sĩ. Thượng sĩ viết một hơi bài tụng tự thuật:

Âm:

Kiến giải trình kiến giải,

Tợ niết mục tác quái.

Niết mục tác quái liễu,

Minh minh thường tự tại.

Dịch:

Kiến giải trình kiến giải,

Tợ dụi mắt thấy quái.

Dụi mắt thấy quái rồi,

Rỡ ràng luôn tự tại.

Kiến giải chỉ là trò ảo thôi, không thật, giống như dụi mắt thấy hoa đốm chớp chớp lăng xăng. Lúc sau hết hoa đốm thì mắt trở lại bình thường, thấy mọi vật rõ ràng như trước.

Nhà vua vừa đọc xong bèn phê tiếp theo sau:

Âm:

Minh minh thường tự tại,

Diệc niết mục tác quái.

Kiến quái bất kiến quái,

Kỳ quái tất tự hoại.

Dịch:

Rõ ràng thường tự tại,

Cũng ấn mắt làm quái.

Thấy quái chẳng thấy quái,

Quái ấy ắt tự hoại.

Thượng sĩ đọc, thầm nhận đó.

Nhà vua tức là Trần Thánh Tông, đệ tử của thiền sư Đại Đăng. Vua Trần Thánh Tông viết rõ ràng thường tự tại, hợp với câu chót của Thượng sĩ viết. Khi mắt chưa dụi thì thấy rỡ ràng thường tự tại, khi dụi mắt làm quái thấy hoa đốm lăng xăng. Song, nếu không chấp thì quái ấy ắt tự hoại, không mắc kẹt trong hư giả thì hư giả tự hết. Cách nhìn của nhà vua tương tự với cách nhìn của Thượng sĩ, nên Thượng sĩ thầm nhận.

Sau vua kém vui, Thượng sĩ viết thư hỏi thăm bệnh tình. Vua đọc thư, trả lời bằng bài kệ như sau:

Hừng hực hơi nóng mồ hôi toát,

Chưa hề thấm ướt khố mẹ sanh.

(Viêm viêm thử khí hãn thông thân,

Vị tằng uyển ngã nương sanh khố.)

Thượng sĩ đọc kệ than thở giây lâu. Đến khi nhà vua nhuốm bệnh nặng. Thượng sĩ khấp khểnh về kinh trước để chịu tang, nhưng vua đã quy tiên mất rồi.

Vua Thánh Tông nhuốm bệnh, Thượng sĩ viết thư thăm, được vua trả lời: Người nóng bức, mồ hôi toát ra đầy mình mà chưa từng thấm ướt cái khố mẹ sanh. Thân tứ đại bị đau nhức, sắp rã tan nhưng cái chân thật sẵn có nơi mình không bệnh, không nhức, không rã tan.

Thượng sĩ nhận được bài kệ của vua Thánh Tông, đọc xong thấy thương tiếc. Sau đó đi về kinh đô để thăm vua, nhưng đến nơi vua đã băng hà.

Thượng sĩ với tư cách một cư sĩ thọ Bồ-tát giới, sống đúng theo tinh thần thiền nên tâm tư rất phiêu dật phóng khoáng. Những điều luận bàn huyền diệu của ngài, cũng như câu chuyện gió mát trăng thanh, hàng thạc đức đương thời đều kính trọng.

Sau, bệnh sơ sài, ngài không nằm ở phòng riêng mà nằm ở Dưỡng Chân trang. Tại đây, giữa nhà trống, ngài kê một giường gỗ, nằm theo phép kiết tường, mắt nhắm xuôi. Các người hầu hạ và thê thiếp khóc rống lên. Thượng sĩ mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng:

- Sống chết là lẽ thường, sao buồn thảm luyến tiếc chi mà làm não chân tánh ta.

Dứt lời, ngài êm thắm mà tịch. Bấy giờ nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ bảy (1291), đời Trần Nhân Tông, năm Tân Mão, ngày mùng một tháng tư, ngài thọ 62 tuổi.

Vua Nhân Tông nhớ ơn ngài dạy dỗ, sai thợ vẽ chân dung để thờ và lấy đạo của ngài truyền cho mà tuyên dương, lập nên phái Trúc Lâm.

Những tác phẩm của ngài còn lưu lại khá nhiều, ở đây lược chép một ít tác phẩm quan trọng.

Khi bệnh, Thượng sĩ kê một giường gỗ, nằm nghiêng bên phải, nhắm mắt chuẩn bị tịch. Các người hầu và thê thiếp khóc rống lên, ngài mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, rồi quở rằng: “Sống chết là lẽ thường, sao buồn thảm luyến tiếc chi mà làm não chân tánh ta.” Sao lại não hại chân tánh? Tại vì chân tánh đang thanh tịnh trong sáng mà họ khóc quá nên cũng hơi dấy niệm.

Ngài quở rồi nhắm mắt đi. Thượng sĩ là một cư sĩ mà ra đi một cách tự tại an nhiên, thật hiếm có. Chúng ta là người xuất gia nên cắt đứt mọi ràng buộc thế gian, chỉ một bề tu hành. Nếu không khéo tu, ngày nhắm mắt ra đi quờ quạng, không biết lối đi, thật đáng tiếc lắm vậy.

✵✵✵

PHỤ BẢN

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

Âm:

PHẬT TÂM CA

Phật! Phật! Phật! Bất khả kiến!

Tâm! Tâm! Tâm! Bất khả thuyết!

Nhược tâm sanh thời thị Phật sanh

Nhược Phật diệt thời thị tâm diệt

Diệt tâm tồn Phật thị xứ vô

Diệt Phật tồn tâm hà thời yết

Dục tri Phật tâm sanh diệt tâm

Trực đãi đương lai Di-lặc quyết.

Tích vô tâm

Kim vô Phật

Phàm thánh nhân thiên như điện phất

Tâm thể vô thị diệc vô phi

Phật tánh phi hư hựu phi thật.

Hốt thời khởi

Hốt thời chỉ

Vãng cổ lai kim đồ nghĩ nghị

Khởi duy mai một tổ tông thừa

Cánh khởi yêu ma tự gia túy.

Dục cầu tâm

Hưu ngoại mịch

Bản thể như nhiên tự không tịch

Niết-bàn sanh tử mạn la lung

Phiền não Bồ-đề nhàn đối địch.

Tâm tức Phật

Phật tức tâm

Diệu chỉ linh minh đạt cổ câm.

Xuân lai tự thị xuân hoa tiếu

Thu đáo vô phi thu thủy thâm.

Xả vọng tâm

Thủ chân tính;

Tự nhân tầm ảnh nhi vong kính

Khởi tri ảnh hiện kính trung lai

Bất giác vọng tùng chân lý bính

Vọng lai phi thật diệc phi hư

Kính thọ vô tà diệc vô chính.

Dã vô tội

Dã vô phúc;

Thác tỷ ma-ni kiêm bạch ngọc

Ngọc hữu hà hề châu hữu lỗi

Tánh để vô hồng diệc vô lục.

Diệc vô đắc

Diệc vô thất;

Tứ thập cửu lai thị thất thất

Lục độ vạn hạnh hải thượng ba

Tam độc cửu tình không lý nhật.

Mặc! Mặc! Mặc! Trầm! Trầm! Trầm!

Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm

Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp,

Pháp nhĩ như nhiên cắng cổ câm.

Hành diệc thiền

Tọa diệc thiền

Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên

Một ý khí thời thiêm ý khí

Đắc an tiện xứ thả an tiện.

Di! Di! Di! Đốt! Đốt! Đốt!

Đại hải trung âu nhàn xuất một

Chư hạnh vô thường nhất thiết không

Hà xứ tiên sư mịch linh cốt.

Tỉnh tỉnh trước! Trước tỉnh tỉnh!

Tứ lăng đạp địa vật khi khuynh

A thùy ư thử tín đắc cập

Cao bộ Tỳ-lô đỉnh thượng hành.

Hát!

Dịch:

KHÚC CA PHẬT TÂM

Phật! Phật! Phật! Không thể thấy!

Tâm! Tâm! Tâm! Không thể thuyết!

Khi tâm sanh, ấy tức Phật sanh

Bằng Phật diệt, ấy lúc tâm diệt

Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu

Diệt Phật còn tâm bao giờ hết

Muốn biết tâm Phật, tâm diệt sanh

Hãy chờ Di-lặc sau sẽ quyết.

Xưa không tâm

Nay không Phật

Phàm thánh trời người như điện phất

Tâm thể không thị cũng không phi

Phật tánh chẳng hư cũng chẳng thật.

Bỗng dưng mống

Bỗng dưng chặn,

Xưa nay qua lại luống lẩn quẩn

Há chỉ chôn vùi nếp tổ tông

Lại khiến yêu ma vào nhà lộng.

Muốn cầu tâm

Ngoài chớ tầm

Bản thể như nhiên vốn không tịch

Niết-bàn sanh tử buộc ràng suông

Phiền não Bồ-đề hư giả nghịch.

Tâm tức Phật

Phật tức tâm

Linh diệu chiếu cùng kim cổ thông

Xuân đến, tự hoa xuân mỉm miệng

Thu về, đâu chẳng nước thu trong.

Bỏ vọng tâm

Giữ chân tính,

Khác nào tìm ảnh mà quên kính

Nào hay ảnh vốn tự gương ra

Chẳng biết vọng do từ chân hiện

Vọng lên chẳng thật cũng chẳng hư

Gương nhận không tà cũng không chính.

Vẫn không tội

Vẫn không phúc

Lầm sánh ma-ni cùng bạch ngọc

Ngọc có vết chừ châu có tỳ

Tánh vốn không hồng cũng không lục.

Cũng không được

Cũng không mất

Bốn mươi chín ấy là thất thất

Sáu độ muôn hạnh: Trên biển sóng đào

Ba độc chín tình: giữa không vầng nhật.

Lặng! Lặng! Lặng!

Chìm! Chìm! Chìm!

Tâm của muôn loài tức Phật tâm

Phật tâm bèn với tâm ta hợp

Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim.

Đi cũng thiền

Ngồi cũng thiền

Giữa lò lửa rực một cành sen

Ý khí mất đi thêm ý khí

Được an tiện đấy cứ tiện an.

Chao! Chao! Chao!

Ối! Ối! Ối!

Bọt trong biển cả uổng chìm nổi

Các hạnh vô thường thảy thảy không

Nơi đâu linh cốt tiên sư tầm!

Thức! Thức! Tỉnh!

Tỉnh! Thức! Thức!

Giẫm đất bốn bề chớ lệch nghiêng

Ai có như lời tin được vậy

Đạp đảnh Tỳ-lô bước bước lên.

Hét!

***

Âm:

PHÓNG CUỒNG NGÂM

Thiên địa thiếu vọng hề hà mang mang,

Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương,

Hoặc cao cao hề vân chi sơn,

Hoặc thâm thâm hề thủy chi dương.

Cơ tắc xan hề hòa-la phạn,

Khốn tắc miên hề hà hữu hương,

Hứng thời xuy hề vô khổng địch,

Tịnh xứ phần hề giải thoát hương.

Quyện tiểu khế hề hoan hỷ địa,

Khát bão xuyết hề tiêu dao thang,

Quy Sơn tác lân hề mục thủy cổ,

Tạ Tam đồng chu hề ca thương lang.

Phỏng Tào Khê hề ấp Lư thị,

Yết Thạch Đầu hề sài lão Bàng,

Lạc ngô lạc hề Bố Đại lạc,

Cuồng ngô cuồng hề Phổ Hóa cuồng.

Đốt đốt phù vân hề phú quý,

Hu hu quá khích hề niên quang,

Hồ vi hề quan đồ hiểm trở,

Phả nại hề thế thái viêm lương.

Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,

Dụng tắc hành hề xả tắc tàng,

Phóng tứ đại hề mạc bả tróc,

Liễu nhất sanh hề hưu bôn mang.

Thích ngã nguyện hề đắc ngã sở,

Sanh tử tương bức hề ư ngã hà phương.

Dịch:

KHÚC HÁT ĐIÊN QUÀNG

Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang

Chống gậy chơi rong chừ phương ngoài phương

Hoặc cao cao chừ mây đảnh núi

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

Đói thì ăn chừ cơm mười phương góp

Mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương

Hứng lên chừ thổi sáo không lỗ

Lắng xuống chừ đốt giải thoát hương.

Mỏi nghỉ chút chừ đất hoan hỷ

Khát uống no chừ tiêu dao thang

Quy Sơn láng giềng chừ chăn con trâu nước

Tạ Tam chung thuyền chừ

trổi khúc thương lang.

Thăm Tào Khê chừ ra mắt Lư thị

Viếng Thạch Đầu chừ sánh vế lão Bàng

Vui ta vui chừ Bố Đại vui sướng

Điên ta điên chừ Phổ Hóa điên gàn.

Chà chà, bóng ngày chừ qua khe cửa

Ối ối, mây nổi chừ mộng giàu sang

Chịu sao chừ thói đời ấm lạnh

Đi chi chừ gai góc đường quan.

Sâu thì xắn áo chừ cạn thì nhón gót

Dùng thì phô ra chừ bỏ thì ẩn tàng

Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt

Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng.

Thỏa nguyện ta chừ được ngã sở

Sống chết bức nhau chừ ta vẫn như thường.

***

Âm:

SANH TỬ NHÀN NHI DĨ

Tâm chi sanh hề sanh tử sanh,

Tâm chi diệt hề sanh tử diệt,

Sanh tử nguyên lai tự tánh không,

Thử huyễn hóa thân diệc đương diệt.

Phiền não Bồ-đề ám tiêu ma,

Địa ngục thiên đường tự khô kiệt,

Hoạch thang lô thán đốn thanh lương,

Kiếm thọ đao sơn lập tồi chiết.

Thanh văn tọa thiền ngã vô tọa,

Bồ-tát thuyết pháp ngã thật thuyết.

Sanh tự vọng sanh, tử vọng tử,

Tứ đại bản không tùng hà khỉ (khởi),

Mạc vi khát lộc sấn dương diệm,

Đông tẩu tây trì vô tạm dĩ.

Pháp thân vô khứ diệc vô lai,

Chân tánh vô phi diệc vô thị,

Đáo gia tu tri bãi vấn trình,

Kiến nguyệt an năng khổ tầm chỉ.

Ngu nhân điên đảo bố sanh tử,

Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.

Dịch:

SỐNG CHẾT NHÀN MÀ THÔI

Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh,

Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt,

Sanh tử xưa nay vốn tánh không,

Thân hư dối này rồi cũng diệt.

Phiền não Bồ-đề bỗng mất tiêu,

Địa ngục thiên đường tự khô kiệt,

Lửa phỏng nước sôi chợt mát liền,

Núi kiếm rừng đao chốc gãy hết.

Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi,

Bồ-tát nói pháp ta nói thiệt.

Chết là dối chết, sanh dối sanh,

Bốn đại vốn không nương đâu dậy,

Chớ như hươu khát đuổi bóng nắng,

Nắm đông bắt tây không ngớt chạy.

Pháp thân không lại cũng không qua,

Chân tánh chẳng phải cũng chẳng quấy,

Đến nhà thôi chớ hỏi đường chi,

Thấy nguyệt tìm gì ngón tay ấy

Kẻ ngu sống chết mãi lo âu,

Người trí rõ thông nhàn thôi vậy.

***

Âm:

PHÀM THÁNH BẤT DỊ

Thân tùng vô tướng bản lai không

Huyễn hóa phân sai thành nhị kiến,

Ngã nhân tự lộ diệc tự sương

Phàm thánh như lôi diệc như điện.

Công danh phú quý đẳng phù vân

Thân thế quang âm nhược phi tiễn,

Miết khởi tinh nhi tắng ái tình

Tự mịch man đầu nhi khí miến.

Mi mao tiêm hoành tỹ khổng thùy

Phật dữ chúng sanh đô nhất diện.

Thục thị phàm hề thục thị thánh

Quảng kiếp sưu tầm một căn tánh,

Phi tâm vô thị diệc vô phi

Vô kiến phi tà diệc phi chánh.

Quảng Ngạch đồ nhi quả nguyện vương

Khánh Hỷ Tỳ-kheo công đức thánh.

Giác tha giác tự bạt mê đồ

Biến giới thanh lương tô nhiệt bệnh.

Quân bất kiến,

Tiền thất giả thị a thùy?

Hậu đắc giả hựu thị thùy?

Lưỡng giá ban tâm nhất ban mệnh

Đáo đầu bát vạn tứ thiên đà-la-ni

chi pháp môn

Đồng nhiếp nhập Như Lai quảng đại

viên trí chi kính.

Đốt!

Dịch:

PHÀM THÁNH CHẲNG HAI

Thân từ vô tướng vốn là không

Mê hoặc dối chia thành “nhị kiến”,

Ta người như móc cũng như sương

Phàm thánh như sấm cũng như điện.

Giàu sang sự nghiệp đám mây trôi

Ngày tháng tên bay thân thế huyễn,

Chút tình thương ghét thoáng xẹt qua

Khác nào bỏ bột tìm bánh chín.

Mày ngang mũi dọc cũng như nhau

Phật với chúng sanh mặt đâu khác.

Ai là phàm chừ ai là thánh

Muôn kiếp kiếm tìm mất căn tánh,

Chẳng tâm nào không thị với không phi

Không kiến nào chẳng tà cùng chẳng chánh.

Đồ tể Quảng Ngạch: quả nguyện vương

Tỳ-kheo Khánh Hỷ: công đức thánh,

Giác ta giác người bạt nẻo mê

Mát rượi mười phương dứt tật bệnh.

Anh thấy chăng!

Người mất trước đó là ai?

Người được sau đó là ai?

Hai tâm sai khác chung dòng mạng

Rốt cùng tám vạn bốn ngàn

pháp môn đà-la-ni

Cùng nhiếp vào gương tròn đầy

rộng lớn trí Như Lai.

Chao!

***

Âm:

THƯỢNG PHƯỚC ĐƯỜNG

TIÊU DAO THIỀN SƯ

Cửu vi phong thể

Kiều ký hoang thôn

Thân tuy thiên ngoại chi sâm thương

Ý hữu kính trung chi loan phượng

Nhàn xướng vô sanh chi khúc

Dụng thù pháp nhũ chi ân

Lạm trát già-đà

Thượng trình tọa hạ.

Thân tuy phì độn ngụ hương quan

Tứ trọng ân thâm vị cảm hàn

Ý chuyết thiểu phùng thiêm ý khí

Tâm khôi cô thủ thốn tâm đan

Xuân hồi hư đối khai đào nhụy

Phong khởi không văn kích trúc can

Đương nhật đáo gia tham vấn bãi

Một huyền cầm tử thỉnh kim đàn.

Tạm lai tỉnh vấn cổ chùy thiền

Tướng mạo kỳ di tráng thả kiên

Huệ Khả thân tàm bì tủy ký

Triệu Châu thiên dữ hạc quy niên

Tu tri thế hữu nhân trung Phật

Hưu quái lô khai hỏa lý liên

Trân trọng già-đà tùy hứng lễ

Kỷ đa mạn khước tử nhung thiền.

Dịch:

LỄ THIỀN SƯ TIÊU DAO

Ở TINH XÁ PHƯỚC ĐƯỜNG

Hèn lâu xa ánh sáng

Ở gửi chốn hoang thôn

Thân tuy ngoài cõi sâm với thương

Ý vẫn trong gương loan và phượng

Nhàn nhã ngâm khúc vô sanh

Hầu đáp ân thầy mớm sữa

Trộm có lời thơ tụng

Cúi dâng lên pháp tòa.

Thân tuy cục mịch ngụ quê này

Bốn trọng ân nào dám lãng khuây

Ý vụng sớm nhờ thêm ý khí

Lòng tàn riêng giữ chút lòng ngay

Xuân về ngắm lững hoa đào nở

Gió động nghe hờ khóm trúc lay

Ngày trước đến nhà thăm hỏi hết

Nay đàn xin thỉnh khúc không dây.

Thoắt qua thăm hỏi cổ chùy thiền

Tướng mạo mười mươi được khỏe bền

Tùng Thẩm tuổi theo rùa hạc thọ

Thần Quang đạo rút tủy da truyền

Vẫn hay Phật sẵn trong đời có

Đừng lạ sen bừng giữa lửa lên

Trân trọng dâng theo lời tụng viếng

Còn gì lễ mọn chút quà riêng.

Năm bài dịch về tác phẩm của Tuệ Trung thượng sĩ trên đây là theo bản của Trúc Thiên trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục.

***

Âm:

THỊ CHÚNG

Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê,

Thể tính minh minh vị hữu mê.

Cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận,

Thiên phong xuy bất giản cao đê.

Thu quang hắc bạch tùy duyên sắc,

Liên nhụy hồng hương bất trước nê.

Diệu khúc bản lai tu cử xướng,

Mạc tầm nam bắc dữ đông tê (tây).

Dịch:

BẢO CHÚNG

Thôi tìm Thiếu Thất với Tào Khê,

Thể tính sáng tròn chẳng từng mê.

Nào ngại xa gần trăng vẫn chiếu,

Thấp cao gió thổi chẳng ưa chê.

Ánh thu đen trắng tùy duyên hiện,

Sen nở hương nồng chẳng dính nhơ.

Khúc nhạc xưa nay nên gảy hát,

Chớ tìm nam bắc với đông tây.

***

Âm:

KHUYẾN THẾ TIẾN ĐẠO

Tứ tự tuần hoàn xuân phục thu,

Xâm xâm dĩ lão thiếu niên đầu.

Vinh hoa khẳng cố nhất trường mộng,

Tuế nguyệt không hoài vạn hộc sầu.

Khổ thú luân hồi như chuyển cốc,

Ái hà xuất một đẳng phù âu.

Phùng trường diệc bất mô lai tỹ,

Vô hạn lương duyên chỉ ma hưu.

Dịch:

KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TIẾN TU

Ngày tháng xoay vần xuân lại thu,

Xăm xăm tóc bạc đáp lên đầu.

Giàu sang, nhìn lại một trường mộng,

Năm tháng mang theo vạn hộc sầu.

Nẻo khổ luân hồi như chuyển bánh,

Sông yêu, chìm nổi tợ phù âu.

Gặp trường chẳng chịu sờ lên mũi,

Vô hạn duyên lành chỉ thế thôi.

← Trở lại Đọc tiếp →
Mục Lục
Danh sách chương:
  • Lời Dẫn

  • Thiền Sư Việt Nam Giảng Giải - Phần II

  • Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung

  • Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông

  • Thiền Sư Pháp Loa

  • Thiền Sư Huyền Quang

  • Quốc Sư Quán Viên

  • Thiền Sư Đức Minh

  • Ní Sư Tuệ Thông

  • Thiền Sư Hương Hải

  • Thiền Sư Đạo Chân Và Thiền Sư Đạo Tâm

  • Tông Tào Động Truyền Sang Miền Bắc Việt Nam (Đàng Ngoài)

  • Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo

  • Thiền Sư Thuỷ Nguyệt Hiệu Thông Giác

  • Thiền Sư Tông Diễn Hiệu Chân Dung

  • Thiền Sư Thanh Nguyên

  • Thiền Sư Thanh Đàm Hiệu Minh Chánh