Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 34 - Hành Trạng Thiền Sư 5
Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải - Phần V
Dẫn Nhập

Giảng về Thiền Sư Trung Hoa tập III, tôi nói ngoài đề trước cho hiểu, vào trong mới dễ thâm nhập. Tất cả chúng ta từ buổi đầu phát tâm tu, có người nào nói “tôi đi tu để thảnh thơi, no cơm ấm áo” không? Đi tu để thoát ly sanh tử, đó là mục đích tối hậu của tất cả chúng ta. Người nào đã đi tu đều nhắm vào mục đích đó. Theo thế gian, con người sống có lý tưởng mới thành người tốt. Nhờ có lý tưởng nên không tham lam, không đắm nhiễm những điều hư dở. Như vậy, tất cả chúng ta tu cũng cần có lý tưởng, để giúp mình đạt kết quả tốt. Nhưng sự thật rất lạ, người tu không có lý tưởng. Tại sao? Vì lý tưởng là một lý lẽ mà mình nhắm đến bằng tưởng tượng chứ chưa cụ thể, chưa thực tế. Chúng ta tưởng tượng cái gì đó sẽ như thế này, sẽ như thế kia... Tưởng tượng đẹp như vậy để thực hành, mong một ngày nào được đúng như mình muốn, mình tưởng.

Người tu có mục đích chứ không có lý tưởng. Bởi lý tưởng là cái mình chưa bao giờ đạt được, và cũng khó mà đạt được, còn mục đích là cái mình nhắm để đạt đến. Mục đích đó người trước đã làm được, bây giờ chúng ta cũng phải làm được. Như đức Phật, ngài đi tu là do thấy cảnh sanh già bệnh chết, đau khổ vô thường, nên ngài nhất quyết tìm ra phương pháp để giải thoát nỗi khổ ấy. Chỗ ngài nhắm là thế và ngài đạt được chưa? Trong bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ-đề, đêm thứ bốn mươi chín ngài giác ngộ, thấy tột manh mối của sanh già bệnh chết, biết rõ cách giải thoát sanh già bệnh chết, và bản thân ngài đã giải quyết xong. Việc làm của ngài đã đạt được, mục đích nhắm đến đã thành công. Đó gọi là giác ngộ, giải thoát. Sau này ngài dạy lại những môn đồ đệ tử như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... cũng đạt được mục đích ấy.

Như vậy, mục đích là việc làm đã có người làm được, đức Phật và các vị Bồ-tát, A-la-hán đã đạt giác ngộ, bây giờ chúng ta cũng nhắm tới chỗ đó. Thế nên tu tập giải thoát không phải là lý tưởng mà là mục đích đưa đến lẽ thật, không phải là chuyện tưởng tượng.

Tất cả người tu đều nhắm thẳng mục đích giải quyết sanh tử, nên lâu lâu chểnh mảng thì các Tổ nhắc nhở “Sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc”. Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng, hiện đời đang sống đây, vô thường đuổi rất nhanh, không thể chần chừ. Chần chừ là không giải quyết kịp, vì thế các ngài nhắc chúng ta phải nhớ mục đích giải quyết sanh tử, để cố gắng nỗ lực không bỏ sót một lúc nào, một thời gian nào, khả dĩ mới kịp.

Lúc mới đi tu thì nhắm giải quyết sanh tử, nhưng vô chùa lâu rồi thì sao? Bận tâm vì những thứ được mất hơn thua, thương ghét buồn giận... mà quên mục đích lớn. Đó là điều đáng tủi hổ. Mục đích đầu tiên đã đặt ra và cố gắng thực hiện cho được, đó là buông bỏ việc thế gian, cạo đầu ăn chay, giữ giới luật... Thực hiện khổ nhọc để nhằm đạt đến mục đích, vậy mà lâu dần lơ là để cho phai lạt, nhiều khi vì những chuyện nhỏ nhặt còn muốn bỏ trôi luôn. Thật đáng thương!

Người xuất gia với ý chí mạnh mẽ phi thường, hành động ban đầu tỏ ra cho mọi người thấy là hành động siêu việt, nhưng lâu rồi trở lại tầm thường, đôi khi còn dở hơn cái tầm thường nữa. Vì vậy chư tổ luôn luôn nhắc, thân này vô thường, mục đích giải quyết sanh tử phải thực hiện được, không nên lơ là. Đó là tôi đã nói về việc chủ yếu của người tu, muốn đạt được mục tiêu ấy thì ngay trong đời này chúng ta phải có hướng đi rõ ràng.

Đây tôi nói riêng về con đường của Thiền tông. Thiền tông chia làm hai lối đi:

Lối thứ nhất là lối đi bình thường, gọi là phản quan tự kỷ, hay hồi quang phản chiếu. Đây là lối đi mà chư tổ, từ tổ Bồ-đề-đạt-ma đến Lục tổ Huệ Năng đều thực hiện.

Như khi tổ Đạt-ma nhận ngài Huệ Khả làm đệ tử. Ngài Huệ Khả thấy tâm mình lăng xăng xao động, nên bạch với Tổ: “Tâm con không an, xin Thầy dạy con pháp an tâm.” Nếu chúng ta bây giờ mà được hỏi như vậy, thì sẽ nói cách này cách nọ... Tổ Bồ-đề-đạt-ma chỉ nói: “Đem tâm ra ta an cho.” Với người thường thì câu nói đó không nghĩa lý, bởi tâm đâu có hình tướng mà đem ra. Nhưng ngài Huệ Khả thì khác, ngài tin rằng một bậc thầy cỡ lớn mỗi lời nói ra đều có ý nghĩa, nên quay lại tìm xem tâm lâu nay lăng xăng đó ở đâu? Tìm hoài không thấy, ngài trả lời thật thà: “Con tìm tâm không được.” Tổ nói: “Ta an tâm cho ngươi rồi.” Một câu nói rất nhẹ nhàng đơn giản, mà ngài Huệ Khả ngay đó biết được lối đi.

Khi tìm tâm không thấy tức là nó không có hình tướng, không thấy tăm dạng tức là nó không thật, tâm lăng xăng lặng mất, chính lúc ấy là an tâm, liền đó ngài thấy lối đi, rõ hướng ứng dụng tu. Tổ biết Huệ Khả đang chấp tâm lăng xăng cho là tâm thật của mình, nên bảo đem ra ta an cho, để ngài Huệ Khả nhìn lại xem nó có thật không? Nhìn lại không thấy, là phá được cái chấp tâm thật. Phá được chỗ lầm chấp, thấy rõ vọng tưởng không quan trọng, đâu cần lệ thuộc vào nó làm gì! Đó là lối tu phản quan, nhìn lại tâm mình.

Nhìn lại tâm lăng xăng thấy không thật, đó là hướng đi, đó là lối tu. Lâu nay chúng ta cứ tưởng nó là thật, nên bị dẫn đi tạo nghiệp thọ khổ, bây giờ biết rõ nó không thật, không chạy theo thì nó tự mất. Như vậy ngài đã chỉ hướng cho chúng ta đi. Khi xoay lại tìm mình thì không lời nói, không câu chữ nào, vì thế Thiền là Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.

Ngay mình quay lại tìm, từ từ cái giả dối tan thì chân thật sẽ hiện. Ý nghĩa này trong kinh Lăng-nghiêm nói về bảy chỗ hỏi tâm, thích hợp với thiền. Qua những lối phá chấp của Phật, để A-nan đừng chấp tâm phan duyên mà lâu nay lầm tưởng nó là thật, giờ nhìn lại tìm không thấy liền biết nó không thật. Phật nói qua bảy chỗ, tổ Bồ-đề-đạt-ma thì chỉ một câu Đem tâm ra ta an cho. Một câu đủ để thấy nó không thật. Đó là sự kỳ đặc của Tổ. Như vậy từ tổ Đạt-ma đến tổ Huệ Khả, phương hướng dạy tu là phản quan tự kỷ, tức là xoay nhìn lại tâm của mình. Biết vọng tưởng không thật thì nó tự tan, tự an, không cần làm gì thêm nữa.

Kế đến là từ Nhị tổ Huệ Khả đến Tam tổ Tăng Xán. Tam tổ Tăng Xán khi đến gặp Nhị tổ Huệ Khả, lúc ấy ngài đang bị bệnh ghẻ lở đầy mình. Nghĩ rằng do nghiệp chướng nhiều kiếp, tội lỗi nhiều đời của mình, nên phải mang thân bệnh tật xấu xa ghê gớm. Thế nên gặp Tổ, ngài đảnh lễ thưa: “Xin Hòa thượng dạy cho con phương pháp sám tội.” Tổ Huệ Khả bảo: “Đem tội ra ta sám cho.” Ngài Tăng Xán xoay lại tìm tội không ra, thưa: “Con tìm tội không có.” Tổ Huệ Khả bảo: “Ta đã sám tội cho ngươi rồi.” Tội lỗi mà lâu nay chúng ta tưởng là có thật, nó chồng chất nơi mình, nên cứ mặc cảm mình nhiều tội lỗi. Thử tìm lại xem tội nó ra sao? Tìm lại không thấy, tức là đã được sám giùm cho hết rồi. Lời dạy của Nhị tổ Huệ Khả rõ ràng không khác Sơ tổ Đạt-ma.

Tiếp đến chặng thứ ba là khi Tam tổ Tăng Xán gặp Tứ tổ Đạo Tín. Ngài Đạo Tín thưa: “Bạch Hòa thượng dạy cho con pháp môn giải thoát.” Tổ hỏi: “Ai trói buộc ngươi?” Ngài sửng sốt thưa: “Không ai trói buộc.” Tổ bảo: “Đã không trói buộc, đâu cần cầu giải thoát.” Ngay đó ngài ngộ, biết rõ lối đi. Lâu nay tưởng mình bị phiền não trói buộc, hóa ra không ai trói buộc mình. Bây giờ mỗi người tự nhìn lại xem, ai trói buộc mình? Không ai trói thì cầu giải thoát làm gì!

Từ lời dạy của chư tổ, chúng ta nhìn lại thấy có ba điều: thứ nhất là tâm, thứ hai là tội, thứ ba là trói buộc. Khởi từ tâm xấu ác, tạo thành tội lỗi, do tội lỗi nên bị tù đày trói buộc. Nếu biết tâm không thật nên tội không thật, tội không thật thì trói buộc cũng không thật. Ba cái này, cái đầu đã không thật thì hai cái sau có thật không? Trọng tâm nằm ở cái số một, biết nó không thật thì mấy cái kia rã rời hết. Như vậy, muốn thấy cái số một thì phải xoay nhìn lại mình, gọi là phản quan tự kỷ, nhìn lại thấy rõ không lầm thì đâu có theo nó mà tạo tội, không tạo tội thì còn gì trói buộc, không trói buộc thì tự nó giải thoát, còn đòi giải thoát chi nữa. Chúng ta tưởng rằng, tu cầu giải thoát là được sanh về cõi nào đó sung sướng an lành, mà không ngờ giải thoát tức là thấy rõ mình không có gì trói buộc.

Thiền tông với hướng đi này được tượng trưng bằng mười mục chăn trâu. Mười mục chăn trâu bắt đầu từ đi tìm trâu, con trâu ở đây diễn tả không phải trâu bên ngoài, mà là quay lại chính mình, nói tìm trâu chính là tìm mình. Từ tìm trâu, thấy dấu, thấy trâu, chinh phục trâu, trâu quy thuận người chăn... đến mất trâu, mất người chăn v.v... Đó là lối tu phản quan tự kỷ, để xem xét lại chính mình. Cách tu này không lệ thuộc vào kinh sách, nên gọi “giáo ngoại biệt truyền”; chỉ dùng trí nhìn lại mình, không theo chữ nghĩa bên ngoài, đó là “bất lập văn tự”; ngay nơi tâm mình thấy những thứ hư dối không thật, ấy là “trực chỉ nhân tâm”; hư dối không thật tan đi, thấy được cái chân thật thì “kiến tánh thành Phật”. Đó là nhân thành Phật, không gì khác.

Tinh thần thiền tông từ bốn câu nêu trên, hiểu được mới thấy rõ ý nghĩa, nếu không hiểu thì nhiều khi tu mà không biết cội gốc. Hướng tu của chúng ta là biết vọng, chính là phản quan tự kỷ. Vua Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung thượng sĩ về chủ yếu của sự tu, Thượng sĩ bảo: Phản quan tự kỷ bổn phận sự. Quay lại xem thấy rõ mình, là gốc chính, là phận sự chính. Đó là chủ yếu của người tu thiền.

Lối đi thứ hai là khán công án hay thoại đầu, chủ yếu cũng phát xuất từ nơi đức Phật. Lúc còn là thái tử đi dạo bốn cửa thành, thấy cảnh sanh già bệnh chết, ngài nghĩ phải làm sao giải quyết sanh già bệnh chết cho mình và cả chúng sanh. Vấn đề này khiến ngài thao thức, trăn trở mãi. Muốn giải quyết nó, ngài xuất gia, tìm được những vị tiên đã tu trước, như Ca-ma-la dạy tu đạt đến Vô tưởng định, Uất-đầu-lam-phất dạy tu đạt được Phi tưởng phi phi tưởng định... Tất cả những vị này đều chưa thấy được manh mối tại sao người ta sanh ra, làm sao dứt sạch mầm sanh để đi tới giải thoát... Bởi không giải quyết được vấn đề sanh già bệnh chết, nên ngài cũng từ giã đi. Mục tiêu đã đề ra, ngài luôn luôn theo dõi quán sát. Nếu pháp tu nào dù rất hay, rất cao mà không đạt được mục tiêu đó, ngài cũng từ chối bỏ đi.

Cuối cùng ngài tu khổ hạnh cho đến kiệt lực cũng không kết quả, từ bỏ khổ hạnh, ngài tới dưới cội Bồ-đề trải tòa ngồi thiền, đến đêm thứ bốn mươi chín khi sao mai vừa mọc ngài ngộ đạo. Ngài thấy rành rõ manh mối sanh tử, sanh già bệnh chết từ đâu có, làm sao chấm dứt. Ngang đây ngài chứng tam minh lục thông. Trong lục thông, Lậu tận thông là dứt hết mầm sanh tử.

Tam minh là ba loại trí sáng giải quyết sanh tử. Đầu tiên là Thiên nhãn minh, thấy suốt được manh mối sanh tử trong lục đạo, nên còn gọi là Sanh tử trí. Thứ hai là Túc mạng minh, nhớ được vô số kiếp về trước, thân này có từ bao giờ, đã trải qua bao nhiêu đời, làm gì, ở đâu... Hai minh này đều là nhìn lại kiếp sanh diệt của con người, biết rõ manh mối sanh diệt có mặt từ vô thủy, tạo nhân gì, sẽ đi đến quả gì... Cuối cùng là Lậu tận minh. Như vậy, thấy tột mầm sanh tử và biết rõ phương pháp dứt mầm sanh tử rồi, tức là mục đích nhắm đến đã xong, ngài giác ngộ thành Phật. Vấn đề đặt ra từ buổi ban đầu, ngài cứ ôm ấp cưu mang trong lòng mãi, cho tới khi thấy rõ ràng, giải quyết được vấn đề thành công rồi, mới mãn nguyện.

Về sau chư tổ cũng sử dụng cách này, bảo “Nói một câu trước khi cha mẹ sanh ra”. Tìm lại manh mối trước khi cha mẹ chưa sanh, tức là tìm lại con người chân thật. Muốn tìm ra con người chân thật đó nên đặt thành mục tiêu lớn, rồi mãi mãi tìm kiếm không ngừng nghỉ. Khi đặt vấn đề đó ra, không y theo kinh sách, không y theo văn tự, cũng không tìm cái gì ở ngoài mình, chỉ trở lại tìm mình. Vì cái nghi này mà đi cầu thiện tri thức để tham vấn. Thiện tri thức là người tô đậm thêm cái nghi của mình chứ không giải nghi. Thiện tri thức làm tăng thêm mối nghi mạnh là tay cao thủ, còn người nào chỉ làm cho hiểu một cách mơ màng thì chưa phải.

Câu nói làm tăng thêm mối nghi, gọi là hoạt ngữ, câu nói để cho hiểu mang máng, gọi là tử ngữ. Khi đi tham vấn mang cái nghi tới người này tô thêm, tới người kia tô thêm càng ngày càng đậm, khiến cho chết sống với cái nghi đó. Đến lúc nó thành khối vỡ tung, thấy được vấn đề đã đặt ra, đó là ngộ đạo. Đường lối thứ hai này, đến các thiền sư đời Tống ứng dụng nhiều. Khi chúng ta đọc sách thiền, nếu muốn hiểu những câu nói giải nghi thì không thể hiểu được, vì các ngài chỉ làm tăng thêm nghi chứ đâu cho hiểu.

Như trường hợp của tổ Lâm Tế, khi được Thủ tọa dạy đặt câu hỏi “Thế nào là đại ý Phật pháp?” với ngài Hoàng Bá, đó là đặt thành nghi vấn. Đến nơi vừa hỏi liền bị Hoàng Bá cho ăn đòn, ba lần đều như vậy. Hoàng Bá làm cho Lâm Tế hết nghi hay tăng trưởng nghi? Ngài làm cho Lâm Tế phải chết sống với mối nghi: Đại ý Phật pháp là gì mà hỏi ra là ăn đòn? Khi tới gặp Đại Ngu, chỉ cần một câu nhẹ: “Hoàng Bá tâm lão bà đã vì ngươi triệt khốn, còn hỏi có lỗi không lỗi”, ngay đó Lâm Tế liền giải quyết được mối nghi. Chúng ta thấy, dường như tổ Lâm Tế nhờ ngài Đại Ngu mà ngộ. Nhưng nếu không có Hoàng Bá thì đến chỗ Đại Ngu có ngộ được không? Chính Hoàng Bá đã làm cho Lâm Tế chết dưới nghi án đặt ra. Đã đặt ra là phải chết với nó, khi đến chỗ kia khơi lại thì sống. Như vậy, ngài sống được là nhờ chết mà sống, không có chết làm gì có sống. Đó là thủ thuật đặc biệt của ngài Hoàng Bá, nhờ vậy tổ Lâm Tế nổi tiếng lâu dài, phái thiền Lâm Tế đến đời Tống phát triển mạnh.

Ý nghĩa của lối tu thiền thứ hai là chỉ nuôi một cái nghi vấn, nuôi nó trong tâm, cưu mang luôn luôn, nhờ vậy quên hết mọi thứ khác. Đến ngày nào đó khối nghi nổ tung ra thì ngộ đạo. Lối tu trước là thấy rõ được cái hư giả, cái chấp trước sai lầm lâu nay, thấy rõ nó sai nên không theo, từ đó dần dần tất cả những thứ giả dối che đậy tan vỡ, thấy được cái chân thật gọi là kiến tánh. Hai lối tu này đều thuộc về “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Hiện giờ chúng ta tu theo lối thứ nhất, các thiền sư đời Tống thì tu theo lối thứ hai là khán thoại đầu, hay còn gọi khán công án. Hiểu rõ điều này, để khi học qua Thiền Sư Trung Hoa tập III chúng ta không thấy lạ. Trong khi đọc sẽ có những chỗ vẫn giải nghĩa được, có những chỗ khỏi giải nghĩa. Nếu bảo tôi phải giải nghĩa hết, tôi không tài nào làm được. Bởi các ngài đã làm cho nghi thêm, chúng ta làm sao giải nghĩa được. Trong nhà thiền, tông Tào Động gần với lối tu trước, tông Lâm Tế gần với lối tu sau.

Mục Lục
Danh sách chương: