Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 30 - Hành Trạng Thiền Sư 1
Tổ Thứ 1 - 10
Đọc tiếp →

TỔ MA-HA CA-DIẾP

Mahākāśyapa

(Đồng thời với đức Phật) 

Ngài dòng Bà-la-môn (Brāhmaṇa) ở nước Ma-kiệt-đà (Magadha), cha tên Ẩm Trạch, mẹ tên Hương Chí. Thuở bé, ngài dung nghi trang nhã, toàn thân màu vàng, ánh sáng chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài nói: “Đứa bé này đời trước có phước đức thù thắng, lẽ ưng xuất gia.” Cha mẹ ngài nghe nói lo sợ, cùng nhau thầm bàn “sẽ cưới vợ đẹp để làm nhụt chí của nó”.

Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất cho ngài. Nhưng ngài một bề từ chối. Sau cùng, bất đắc dĩ ngài phải nói: “Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng cưới.” Cha mẹ ngài bèn đúc một tượng vàng, đẩy đi khắp trong nước, tìm người nữ nào giống màu sắc ấy, cưới cho ngài. Quả nhiên, gặp được một cô gái có màu da giống hệt như ngài. Thế là ngài phải lập gia đình. 

Bởi vào thời đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipaśyin), sau khi Phật Niết-bàn, chúng xây tháp thờ xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày pho tượng trên mặt bị lở khuyết. Khi ấy ngài Ca-diếp là thợ đúc vàng. Có cô gái nhà nghèo, vì thấy mặt Phật hư khuyết, cô còn một đồng tiền vàng đem đến nhờ ngài Ca-diếp nấu ra để phết lại tượng Phật. Thấy cô phát tâm tu bổ tượng Phật, ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này. Nhân đó, hai người cùng nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, mà coi như đôi tri kỷ, chứ không vì tình dục.

Do phước báo đó nên chín mươi mốt kiếp thân thể hai vị đều toàn một màu vàng. Sau, sanh cõi Phạm thiên, hết phước cõi Phạm thiên, chết sanh về cõi này trong nhà Bà-la-môn giàu có hiện tại.

Tuy hiện nay hai vị làm vợ chồng, mà sống như tình tri kỷ, không có ý dâm dục. Đến sau, cả hai đều xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ bằng lòng, ngài liền xuất gia làm Sa-môn vào núi tu hạnh đầu-đà (Dhūta).

Trước hết là nói về gia cảnh của ngài. Ngài là con nhà giàu, dung nghi đẹp đẽ, thân tướng màu vàng. Khi lớn lên không muốn ở thế gian thụ hưởng dục lạc, chỉ muốn đi tu thôi. Cha mẹ mong có người nối dõi tông đường, nên cố tình giữ ngài ở nhà không cho đi tu, bằng cách ép lập gia đình. Ngài từ chối không được bèn ra điều kiện với cha mẹ, nếu có người con gái nào thân màu sắc vàng như con thì con mới ưng. Quả nhiên gặp được một cô gái thân tướng vàng chói giống hệt như ngài. Tại sao lại có thân tướng lạ đó? Vì thuở đức Phật Tỳ-bà-thi, ngài làm thợ đúc vàng, có cô gái nhà nghèo, nhân thấy tượng Phật mặt bị hư khuyết, bèn đem một đồng tiền vàng duy nhất nhờ ngài Ca-diếp tu bổ. Ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này. Do nhân duyên đó, hai người nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, nhưng xem nhau như đôi bạn. Sau hai vị đều xin cha mẹ xuất gia, cha mẹ bằng lòng, ngài vào núi tu hạnh đầu-đà.

Một hôm, nhân nghe trong hư không có tiếng bảo: “Phật đã ra đời, nên đến đó thọ giáo.” Ngài liền tìm đến tinh xá Trúc Lâm, chí thành đảnh lễ Phật. Phật bảo: “Lành thay Tỳ-kheo đến đây, hãy cạo bỏ râu tóc đi!” Ngài liền cạo bỏ râu tóc, thọ giới Tỳ-kheo, mặc y ca-sa. Từ đây, ngài theo Phật hiểu sâu giáo pháp, tinh tấn tu hành không lúc nào lơi lỏng, cho đến chứng quả A-la-hán.

Trước khi gặp Phật ngài đã tu hạnh đầu-đà. Một hôm ngài nghe trên không trung nói đức Phật ra đời, nên đến đó thọ giáo. Ngài liền tới tinh xá Trúc Lâm để xin xuất gia tu học. Đức Phật thâu nhận ngài làm Tỳ-kheo. Khi làm Tỳ-kheo ngài y theo pháp Phật để tu nhưng vẫn tu hạnh đầu-đà như thuở xưa. Sự tinh tấn đó làm cho ngài mau chứng quả A-la-hán. 

Có lần, ngài từ xa đến ra mắt Phật. Các chúng Tỳ-kheo ngồi vây quanh Phật, trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy, có ý thầm khinh. Phật biết, bèn bảo: “Ca-diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngồi.” Ngài vẫn không dám ngồi. Phật bảo các Tỳ-kheo: “Ta có đại từ đại bi, các thiền định tam-muội và vô lượng công đức để tự trang nghiêm. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng như thế. Do đó, ta nhường nửa tòa cho Ca-diếp ngồi.” Chúng Tỳ-kheo đều dứt tâm ngạo mạn, lại thầm cung kính ngài.

Một hôm Phật đang thuyết pháp, ngài từ xa đến ra mắt đức Phật. Chúng Tỳ-kheo ngồi vây quanh trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy có ý xem thường. Phật biết ý chúng nên ngài bảo: Ca-diếp đến đây ta nhường nửa tòa cho ngồi. Đức Phật thật là tâm lý, gọi “Ca-diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngồi”. Ngài Ca-diếp bổn phận làm học trò, tuy Phật ban cho đặc ân như vậy, nhưng vẫn không dám ngồi. 

Phật bèn chỉ ngài Ca-diếp nói với đại chúng: Ta có đại từ đại bi, các thiền định tam-muội, vô lượng công đức để tự trang nghiêm. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng như thế, do đó ta nhường nửa tòa cho Ca-diếp ngồi. Tuy đức Phật không nói rõ truyền tâm ấn, nhưng đọc đoạn kinh này, chúng ta cũng đủ niềm tin rằng đức Phật truyền tâm ấn cho ngài Ca-diếp.

Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh Sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu). Phật bảo: “Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan.” Thế Tôn đến trước tháp Đa Tử gọi Ma-ha Ca-diếp đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca-diếp, rồi nói kệ phó pháp:

Pháp bản pháp vô pháp

Vô pháp pháp diệc pháp

Kim phó vô pháp thời

Pháp pháp hà tằng pháp.

Dịch:

Pháp gốc pháp không pháp

Pháp không pháp cũng pháp

Nay khi trao không pháp

Mỗi pháp đâu từng pháp.

Một hôm, Phật ở trong hội Linh Sơn tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ ngác. Chỉ có ngài Ca-diếp đắc ý chúm chím mỉm cười. Phật bảo: Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng. Nay giao phó cho ngươi, ngươi khéo gìn giữ Chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan. Đó là truyền tâm pháp, câu chuyện có vẻ lý thú mà lạ thường. Đây là một ảnh hưởng lớn về phương pháp truyền tâm của Thiền tông sau này.

Ngài Tỉnh Niệm dòng Lâm Tế đệ tử Phong Huyệt, chuyên tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm Sư đứng hầu, ngài Phong Huyệt rơi nước mắt nói: Tông Lâm Tế truyền đến ta chắc là dứt. Khi ấy Sư thưa: Bạch Hòa thượng trong chúng này đâu không có người kế thừa? Ngài Phong Huyệt bảo: Người thông thì nhiều nhưng kẻ thấy tánh quá ít. Sư thưa: Như con, Hòa thượng xem thế nào? Ngài Phong Huyệt nói: Lâu nay ta trông cậy vào ngươi, nhưng ngươi còn mê kinh Pháp Hoa quá! Sư thưa: Bạch Hòa thượng việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy. Phong Huyệt nói: Được! Mai ta sẽ lên tòa dạy cho ngươi.

Hôm sau ngài Phong Huyệt thượng đường nhắc lại việc Thế Tôn dùng con mắt như hoa sen xanh nhìn xem đại chúng, bèn hỏi “chính khi ấy hãy bảo nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói lại chôn vùi thánh trước. Hãy bảo nói cái gì?” Cả chúng yên lặng. Sư bèn phủi áo đi ra, ngài Phong Huyệt cũng đứng dậy ném gậy trở về phương trượng. Đó là chỗ bí mật trong nhà Thiền, gọi là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.

Lúc Thế Tôn đến tháp Đa Tử, gọi Ma-ha Ca-diếp tới chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca-diếp rồi nói kệ phó pháp. Sau này các vị tổ truyền y bát cho đệ tử cũng tương tự như thế. Bài kệ truyền pháp này mới nghe qua rất là khó hiểu cũng như đọc thần chú: 

Pháp bản pháp vô pháp

Vô pháp pháp diệc pháp

Kim phó vô pháp thời

Pháp pháp hà tằng pháp.

Dịch:

Pháp gốc pháp không pháp

Pháp không pháp cũng pháp

Nay khi trao không pháp

Mỗi pháp đâu từng pháp.

Pháp gốc pháp không pháp, chữ Pháp ở đây cũng gọi là tâm. Pháp gốc là tâm bất sanh bất diệt hay tâm chân như. Tâm chân như là pháp mà không phải pháp, vì sao? Pháp tức là có, mà không phải pháp tức là không. Tâm chân như là tâm nên có cái biết. Cái biết không hình tướng nên nói là không pháp

Pháp không pháp cũng pháp, chữ pháp này là chỉ cho tâm không có hình tướng, vì không hình tướng nên nói là vô pháp, nhưng tâm có cái biết nên tâm ấy vẫn là pháp. Như vậy để biết rằng bản thể chân tâm là cái biết nên nó là pháp, nhưng không có hình tướng nên nói là không pháp, tuy không có pháp mà nó vẫn biết cho nên cũng gọi là pháp. 

Nay khi trao không pháp tức là trao cái pháp không hình tướng, nó là một pháp. 

Mỗi pháp đâu từng pháp, nó là pháp mà chưa từng pháp. Vì sao? Vì tâm là nguồn gốc muôn pháp, nên gọi là pháp bản, các pháp đều từ tâm lưu xuất. Nhưng tâm chẳng phải là một pháp, vì nó không phải là sự vật như những thứ mà chúng ta thấy được, sờ mó được. 

Như vậy bài kệ đức Phật truyền cho tổ Ca-diếp để chỉ tâm mà ngài trao cho tổ Ca-diếp, không có hình tướng nhưng có cái biết, nên nó cũng là một pháp. Vì vậy gọi là truyền tâm pháp

Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên: “Ca-diếp tuổi đã già, nên ở một chỗ nhận những thức cúng dường của thí chủ, chớ đi khất thực nhọc nhằn.” Ngài bạch Phật: “Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thọ sự cúng dường của thí chủ. Vì sợ e sau này, các Tỳ-kheo đời sau sẽ nói: “Đệ tử lớn của Phật trước kia vẫn ở một chỗ thọ sự cúng dường”, rồi họ sanh phóng túng.”

Chúng ta thấy tư cách của ngài Ca-diếp là muốn làm mẫu mực cho người sau. Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên: Ca-diếp tuổi đã già nên ở một chỗ nhận sự cúng dường của thí chủ chớ đi khất thực nhọc nhằn. Ngài bạch Phật: Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thọ sự cúng dường của thí chủ, vì sợ các Tỳ-kheo đời sau sẽ nói “Đệ tử lớn của Phật trước kia cũng ở một chỗ thọ sự cúng dường”, rồi họ sanh tâm phóng túng. Chúng ta thấy người xưa, vì muốn làm mẫu mực cho người sau mà quên sự cực khổ nhọc nhằn của mình, đó là tâm lợi tha rất lớn. 

Lúc Phật Niết-bàn tại thành Câu-thi-na (Kuśinagara) trong rừng Sa-la, thì ngài đang ở trong động Tất-bát-la (Sthāvirā) trên núi Kỳ-xà-quật (Gṛdhrakūța). Nghe tin Phật Niết-bàn, ngài và năm trăm đệ tử vội vã hướng về thành Câu-thi-na. Đến nơi, đã để Phật vào kim quan, ngài buồn bã. Thầy trò đi nhiễu kim quan ba vòng, rồi đảnh lễ Phật. Khi ấy, hai bàn chân Phật duỗi ra ngoài kim quan để an ủi ngài. Ngài vuốt ve hai bàn chân Phật, lòng rất bi thảm.

Ngài Ca-diếp ở động Tất-bát-la núi Kỳ-xà-quật nghe tin Phật Niết-bàn, vội vàng cùng năm trăm đệ tử đi về thành Câu-thi-na. Đến nơi, nhục thân Phật đã được để vào kim quan. Ngài cùng đệ tử đi nhiễu kim quan ba lần rồi đảnh lễ Phật. Khi ấy Phật duỗi hai bàn chân ra ngoài kim quan để an ủi, ngài vuốt hai bàn chân đức Phật, lòng rất bi thảm. Người sau cũng nói đây là lần thứ ba đức Phật truyền pháp cho Ca-diếp. 

Sau khi thiêu thân Phật xong, ngài tuyên bố với chúng Tỳ-kheo: “Xá-lợi của Phật giao cho trời người xây tháp thờ làm ruộng phước, còn trách nhiệm của Tỳ-kheo chúng ta phải lo kiết tập kinh điển để lưu lại đời sau.” Ngài bèn nói kệ:

Như Lai đệ tử

Thả mạc Niết-bàn

Đắc thần thông giả

Đương phó kiết tập.

Dịch:

Đệ tử Như Lai

Chớ vội Niết-bàn

Người được thần thông

Nên đến kiết tập.

Sau khi thiêu Phật xong, ngài Ca-diếp tuyên bố với chúng Tỳ-kheo: Xá-lợi của Phật giao cho trời người xây tháp thờ làm ruộng phước, còn trách nhiệm của Tỳ-kheo chúng ta phải lo kiết tập kinh điển để lưu lại đời sau. Chúng ta thấy sự kiện này rất là bất hủ. Ngài phân ra rõ ràng như thế. Bây giờ kinh điển đã kiết tập sẵn, bổn phận chúng ta là phải học, phải phiên dịch, phải giảng giải để lưu truyền cho mọi người ứng dụng tu hành. Đó là chúng ta noi theo gương các bậc tiền bối.

Ngài nói kệ khuyên các đệ tử chứng thánh quả có thần thông của đức Như Lai chớ vội Niết-bàn, nếu nhập Niết-bàn hết thì không có những vị A-la-hán kiết tập kinh điển. 

Trong kinh A-hàm có một đoạn ghi, đức Phật tuyên bố sau ba tháng sẽ nhập Niết-bàn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề nghe tin như vậy rất buồn. Bà tới thăm Phật rồi thưa: Con không kham thấy Thế Tôn vào Niết-bàn cho nên con và đại chúng Tỳ-kheo-ni xin nhập Niết-bàn trước. Bà trở về tinh xá ngồi kiết già nhập Niết-bàn. Toàn chúng Tỳ-kheo-ni thấy bà Niết-bàn nên cũng nhập Niết-bàn luôn. Chúng ta thấy chư vị Tỳ-kheo-ni tự tại trong sanh tử chứ không phải là người tầm thường.

Thế là, sau Phật Niết-bàn ba tháng, ngài triệu tập năm trăm vị đại A-la-hán tụ họp tại núi Kỳ-xà-quật, trong động Tất-bát-la kiết tập. Chỉ có tôn giả A-nan không được dự hội, vì chưa sạch các lậu. Tôn giả A-nan buồn bã, suốt đêm chuyên tâm thiền định, đến gần sáng liền chứng ngộ, các lậu dứt sạch, được quả A-la-hán. Sau đó, Tôn giả được mời dự hội.

Ngài thưa toàn chúng: “Tỳ-kheo A-nan nhớ giỏi bậc nhất, thường theo hầu hạ Như Lai, nghe pháp Phật nói ghi nhớ không sót, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt, nên mời kiết tập tạng Kinh. Mời Tỳ-kheo Ưu-ba-ly kiết tập tạng Luật.” Toàn chúng đều hoan hỷ chấp thuận. Hội kiết tập này, ngài là chủ tịch. 

Sau ba tháng Phật nhập Niết-bàn, ngài Ca-diếp triệu tập năm trăm vị A-la-hán tụ họp ở núi Kỳ-xà-quật, trong động Tất-bát-la để kiết tập kinh điển. Khi đó chỉ có tôn giả A-nan chưa chứng quả A-la-hán, chưa có thần thông nên không được dự hội. Ngài buồn quá nên suốt đêm thiền định mãi cho đến gần sáng thì chứng quả, bấy giờ mới được mời dự đại hội kiết tập. Khi ấy ngài Ca-diếp tuyên bố giữa chúng: “Tôn giả A-nan thường theo hầu đức Như Lai, nghe Phật nói pháp nhớ không sót một chữ, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt. Nay mời tôn giả kiết tập tạng Kinh. Nhờ Tỳ-kheo Ưu-ba-ly kiết tập tạng Luật.” Toàn chúng đều hoan hỷ chấp thuận. Đó là lần kiết tập thứ nhất, ngài Ca-diếp làm chủ tịch trong đại hội này. Ngài A-nan đọc lại tạng Kinh, ngài Ưu-ba-ly đọc lại tạng Luật. Nhưng đây chỉ là đọc thôi chứ chưa ghi chép thành văn tự.

Sau cuộc kiết tập đã viên mãn, nhân duyên độ sanh xong xuôi, ngài thấy tuổi đã già yếu lắm, bèn gọi tôn giả A-nan đến bảo: “Khi Như Lai sắp vào Niết-bàn, có dặn ta đem Chánh pháp Nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ẩn, đúng lúc giao phó cho ông, ông phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt.”

Ngài nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật Di-lặc ra đời sẽ trao lại, nên dự bị vào núi Kê Túc nhập định. Liền đó, ngài đi từ giã vua A-xà-thế và những người thân thuộc, rồi vào núi Kê Túc trải tòa cỏ ngồi an nhiên nhập định.

Sau khi hội kiết tập viên mãn, ngài Ca-diếp thấy mình đã già yếu, bèn gọi tôn giả A-nan đến bảo: Khi Như Lai sắp vào Niết-bàn có dặn ta đem Chánh pháp Nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ở ẩn, đúng lúc ta đem chánh pháp giao phó cho ông, phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt. 

Ca-diếp nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật Di-lặc ra đời để trao lại, nên dự định vào núi Kê Túc nhập định. Ngài từ giã vua A-xà-thế và những người thân thuộc, rồi vào núi Kê Túc trải tòa cỏ an nhiên nhập định. Chúng ta không biết rõ ngài tịch hay ở ẩn. 

Những đặc điểm của tổ Ma-ha Ca-diếp:

- Thứ nhất, ngài là con nhà trưởng giả, nhưng khi đi tu ngài chuyên tu về khổ hạnh. Khi già Phật khuyên ngài ở một chỗ nhận cúng dường của Phật tử, ngài không chịu, vẫn đi khất thực và sống khổ hạnh như trước. Đó là một điều khó làm. 

- Thứ hai, ở trong hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa sen lên, toàn chúng ngơ ngác, chỉ có ngài mỉm cười và được truyền y bát, đây là chỗ cảm thông giữa Phật và ngài rất sâu sắc. 

- Thứ ba, khi Phật nhập Niết-bàn, ngài bảo Phật tử lo phần xây tháp cúng dường để thờ xá-lợi Phật gieo trồng ruộng phước, còn trách nhiệm Tỳ-kheo lo kiết tập kinh điển để lưu truyền đời sau. Vì vậy ngài triệu tập toàn những vị thánh tăng chứng A-la-hán kiết tập kinh điển. Ngài giao trọng trách rất là cụ thể cho Phật tử cũng như chư tăng. 

Đó là ba đặc điểm của ngài chúng ta phải nhớ học theo.

✵✵✵

II- TỔ A-NAN

Ānanda

(Sanh sau Phật 30 năm)

Ngài con vua Hộc Phạn, dòng Sát-đế-lợi, ở thành Ca-tỳ-la-vệ, em ruột Đề-bà-đạt-đa, em con nhà chú của Phật Thích-ca. Thuở nhỏ, ngài có nhiều tướng tốt và thông minh tuyệt vời. Đến hai mươi lăm tuổi xin theo Phật xuất gia.

Ngài A-nan sanh trong dòng họ vua chúa, em con nhà chú của đức Phật, em ruột của Đề-bà-đạt-đa. Đến hai mươi lăm tuổi bỏ sự giàu sang của thế gian xuất gia làm Tỳ-kheo. Mỗi ngày đi khất thực để tu hành, đó là một điều đáng quý. Đề-bà-đạt-đa thì chống Phật nhưng A-nan theo hầu Phật. Thật là trái ngược nhau.

Một hôm, Phật cần chọn người làm thị giả, tất cả hội chúng lần lượt đứng ra xin làm thị giả, mà Phật không bằng lòng. Sau cùng, tôn giả Đại Mục-kiền-liên nhập định biết tôn ý Phật muốn A-nan làm thị giả. Đại chúng cử tôn giả Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất... đến yêu cầu ngài làm thị giả. Ngài nhiều lần từ chối, song các tôn giả một bề nài nỉ, buộc lòng ngài phải xin Phật ba điều, nếu Phật ưng cho, ngài mới dám làm thị giả:

1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài.

2- Không mặc y thừa của Phật.

3- Không đến Phật phi thời.

Thế Tôn chẳng những chấp thuận lời xin của ngài, mà còn khen ngợi ngài thông minh biết dự đoán trước những điều sẽ xảy ra. Thế là, ngài theo làm thị giả Phật ngót hai mươi lăm năm. 

Đức Phật già yếu cần có một thị giả. Trong hội chúng ngài Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... xin làm thị giả nhưng toàn những vị lớn tuổi nên Phật không đồng ý. Vì các vị lớn tuổi cũng cần có thị giả, làm sao làm thị giả cho đức Phật. Cuối cùng không ai xin được hết. Lúc đó ngài Mục-kiền-liên nhập định biết ý đức Phật muốn ngài A-nan làm thị giả, nhưng ngài A-nan không có mặt ở đó, ngài đang ở một tịnh thất rất xa. Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đại diện đến thỉnh: - Thế Tôn cần ông làm thị giả. 

Ngài thưa: 

- Tôi không làm thị giả được cho đức Thế Tôn. 

- Ông đừng phụ lòng đức Phật. 

Thỉnh hoài nhưng ngài một bề từ chối. Cuối cùng ngài mới nói: 

- Nếu Thế Tôn muốn tôi làm thị giả thì xin chấp nhận ba điều kiện tôi đưa ra. 

Các ngài nhận ba điều kiện trở về bạch với đức Phật. Nghe xong Phật không quở mà còn khen, nên chấp nhận ngài làm thị giả. Ba điều đó là:

1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài. Nếu thí chủ mời tất cả chúng đi thọ trai thì ngài cùng đi, khi nào chỉ mời Phật mà không mời thị giả thì ngài không đi. Tại sao? Tại vì A-nan sợ chúng sẽ nói ông A-nan vì ham ăn uống ngon mà theo làm thị giả Phật. 

2- Không mặc y thừa của Phật. Thí chủ cúng dường đức Phật rất nhiều y tốt. Phật dùng không hết nên phải cho bớt. Nếu cho ngài thì nhất định không nhận, để tránh tiếng vì ham mặc y tốt mà làm thị giả cho đức Thế Tôn. Tại sao? Vì thí chủ cúng dường y cho Phật thì cúng y tốt. Cúng dường thực phẩm cho Phật thì cúng thực phẩm ngon, trước đó đã không chịu theo Phật thọ trai riêng thì bây giờ không chịu mặc y tốt. 

3- Không đến Phật phi thời. Ngài đến đúng giờ chứ không phải lúc nào cũng đến. Thị giả cũng có thì giờ chừng mực, tức là điều độ, chứ không phải bất thường. 

Ngài làm thị giả đức Phật hai mươi lăm năm, mà chưa bao giờ bị Phật rầy. Khi nào Phật cần ngài mới đến, ngài tránh khi Phật không cần. Ngài đoán biết Phật muốn gì để làm như ý Phật. Bây giờ thị giả hầu Thầy mỗi ngày bị rầy tối thiểu hai ba lần, còn ngài hầu Phật hai mươi lăm năm, nhưng chỉ có một lần bị Phật quở không phải vì ngài sai, mà do ngài bênh vực một vị khác. Đây là một thị giả đặc biệt. Ngài rất thông minh nghe Phật thuyết pháp nhớ không sót một chữ, như rót nước từ bình này qua bình kia không rơi một giọt ra ngoài.

Hôm nọ, ngài đi khất thực về đến tinh xá Phật, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề đang đứng tựa cửa khóc. Di mẫu quần áo bụi bặm, chân dính bùn nhơ, vẻ người bi thảm. Ngài đến gần hỏi duyên cớ. Biết Bà từ xa đến tìm xin Phật xuất gia, đôi ba phen năn nỉ mà Phật quyết định không cho. Ngài cảm động, vào đảnh lễ Phật xin cho Bà được xuất gia. Phật nhiều lần từ chối, ngài vẫn kiên chí xin kỳ được mới thôi. Thế là mở đầu cho phái nữ xuất gia, chính ngài là người tích cực khai đường vậy.

Chính đức Phật đã từng khen ngài: “Thị giả các đức Phật đời quá khứ, không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan.” Và Phật khen A-nan được tám điều chưa từng có.

Một hôm ngài đi khất thực về đến tinh xá, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm công nương đang đứng tựa cửa khóc. Quý bà đi bộ từ Ca-tỳ-la-vệ đến Tỳ-xá-ly, quần áo dính bụi bặm, đi chân không nên bị trầy sướt rướm máu. Thấy vậy, ngài rất thương xót hỏi duyên cớ. Bà mới thuật lại là bà xin Phật xuất gia mà Phật không cho. Nghe nói như vậy ngài cảm động quá, nên đến đảnh lễ Phật cầu xin hai ba lần, Phật vẫn từ chối. 

Ngài kể rằng khi hoàng hậu Ma-da băng hà, Thái tử còn nhỏ, Di mẫu là người nuôi nấng Thái tử cho đến khôn lớn, công ơn biết bao nhiêu, bây giờ xin Phật xuất gia, ngài không nghĩ công ơn lại từ chối. Phật trả lời: Ta đã hướng dẫn Phụ hoàng và Di mẫu quy y, gìn giữ năm giới, đó là ta đã đền ơn rồi. 

Bao nhiêu năm nuôi dưỡng, chỉ hướng dẫn quy y thọ năm giới là đã đền ơn, sao dễ quá vậy? Chúng ta mới nghe qua thấy rất thường, nhưng trong đạo đó là một lẽ thật. Bởi vì săn sóc nuôi dưỡng cha mẹ được cơm no áo ấm, nhẹ nhàng khỏe khoắn đó là chỉ lo xác thân. Nếu cha mẹ không biết tu, không biết làm điều thiện thì khi nhắm mắt vướng vào cảnh khổ không biết ngày nào ra khỏi. Bây giờ khuyên cha mẹ bỏ điều ác, làm việc lành, quy y Tam bảo, giữ năm giới, nhất định không còn đọa trong những đường khổ. Như vậy mới cứu được cha mẹ ở hiện tại và mai sau. Chúng ta thương cha mẹ phần thể xác chưa đủ, mà phải tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành, mới đúng tinh thần người con Phật biết thương cha mẹ. 

Ngài tha thiết cầu xin đến ba lần mà đức Phật nhất định không cho quý bà xuất gia. Cuối cùng Phật cầm lòng không được, phải ra tám điều kiện tức Bát kỉnh pháp. Di mẫu chấp nhận và thưa, Phật đưa ra một ngàn điều bà cũng giữ được chứ đừng nói chỉ có tám điều. Bà rất hoan hỷ khi được xuất gia, là Ni trưởng của giáo đoàn Ni đầu tiên trong thời đức Phật. Ngài A-nan có công rất lớn đối với phái nữ, cho nên bây giờ đúng ra bên Ni phải thờ ngài A-nan như một vị Tổ.

Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ nói Phật bất công. Tại sao bên nam xin cho liền, còn bên nữ năn nỉ nhiều lần Phật không cho. Tại sao? Khi Phật mới thành đạo không có tinh xá, đi lang thang nay chỗ này mai chỗ khác không dừng trụ. Chư tăng thì được nhưng người nữ đi lang thang nguy hiểm vô cùng. Do đó Phật không cho phái nữ xuất gia. Ngài A-nan ép lắm Phật mới cho. Bây giờ có chùa Tăng chùa Ni đầy đủ thì giải quyết bình đẳng. Hiểu điều này chúng ta mới thấy Phật không bất công.

Phật từng khen ngài A-nan: Thị giả các đức Phật đời quá khứ không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan. Như vậy ngài A-nan là người thị giả không ai hơn được. Trong kinh A-hàm, đức Phật cũng nói A-nan có tám điều chưa từng có:

1- Tín căn bền vững.

2- Tâm tính chất trực.

3- Thân không bệnh khổ.

4- Thường xuyên tinh tấn.

5- Niệm căn đầy đủ.

6- Tâm không kiêu mạn.

7- Thành tựu định ý.

8- Từ nghe sanh trí.

Sau khi Phật Niết-bàn, tổ Ca-diếp triệu tập các đại Tỳ-kheo kiết tập kinh điển, ngài là người được toàn đại hội đề cử kiết tập tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài nhìn qua đại chúng nói kệ:

Tỳ-kheo chư quyến thuộc,

Ly Phật bất trang nghiêm!

Du như hư không trung

Chúng tinh chỉ vô nguyệt.

Dịch:

Tỳ-kheo các quyến thuộc,

Vắng Phật chẳng trang nghiêm!

Ví như trong hư không

Nhiều sao mà không trăng.

Nói kệ xong, ngài đảnh lễ đại chúng, lên pháp tòa mở đầu: “Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ... nói Kinh... ” cho đến “trời người v.v... đều kính lễ vâng làm.”

Ngài kiết tập Kinh xong, tổ Ca-diếp hỏi đại chúng: “Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng?” Đại chúng đồng thanh đáp: “Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói.”

Tổ Ca-diếp triệu tập đại hội kiết tập, cử ngài lên tòa đọc lại tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài đưa mắt nhìn khắp hội chúng rồi buồn bã nói kệ: 

Tỳ-kheo chư quyến thuộc,

Ly Phật bất trang nghiêm!

Du như hư không trung

Chúng tinh chỉ vô nguyệt.

Dịch:

Tỳ-kheo các quyến thuộc, 

Vắng Phật chẳng trang nghiêm!

Ví như trong hư không

Nhiều sao mà không trăng.

Trong đại hội kiết tập chư Tỳ-kheo ngồi đầy đủ mà không có Phật, thì thấy như thiếu cái gì đẹp đẽ, cao quý, chẳng khác như bầu trời có sao mà không trăng. Do đó ngài cảm động nói kệ, đảnh lễ đại chúng rồi lên pháp tòa trùng tuyên lời Phật. Mở đầu bằng câu: “Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ... nói Kinh...” cho đến “trời người v.v... đều kính lễ vâng làm.”

Kiết tập xong, ngài Ca-diếp hỏi: Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng? Đại chúng đồng thanh đáp: Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói khi xưa. Do đó phần kiết tập đầu tiên tuy chưa ghi chép bằng văn tự nhưng rất có giá trị, vì trong hội kiết tập toàn là những vị Thánh tăng.

Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp:

- Khi Thế Tôn phú chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng?

Tổ Ca-diếp liền gọi: - A-nan!

Ngài ứng thanh: - Dạ!

Tổ Ca-diếp bảo:

- Cây cột phướn trước chùa ngã.

Ngài nhân đây tỏ ngộ.

Tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và đem Chánh pháp Nhãn tạng truyền lại cho ngài. Tổ nói kệ:

Pháp pháp bản lai pháp,

Vô pháp vô phi pháp.

Hà ư nhất pháp trung,

Hữu pháp hữu phi pháp.

Dịch:

Các pháp, pháp xưa nay,

Không pháp, không phi pháp.

Tại sao trong một pháp

Có pháp có phi pháp?

Ngài đảnh lễ thọ nhận.

Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp: Khi Thế Tôn phú chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng? Tổ Ca-diếp liền gọi A-nan. A-nan dạ. Tổ Ca-diếp bảo cây cột phướn trước chùa ngã. Ngài nhân đây tỏ ngộ. Đó là điều đặc biệt, có liên hệ đến các thiền sư sau này. 

Tổ Ca-diếp kêu ngài A-nan, A-nan dạ. Một hôm, Quốc sư Huệ Trung gọi thị giả, thị giả dạ! Sư gọi như thế ba lần thị giả cũng dạ ba lần. Ngài bảo: Tưởng ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta. Như vậy khi kêu mà dạ là có ý gì trong đó.

Khi ngài A-nan tỏ ngộ, tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và truyền trao Chánh pháp Nhãn tạng cho ngài. Tổ nói kệ: 

Các pháp, pháp xưa nay,

Không pháp, không phi pháp.

Tại sao trong một pháp

Có pháp có phi pháp?

Chữ pháp này có hai nghĩa, nghĩa hẹp và rộng. Nghĩa hẹp chữ pháp là chỉ vật này vật nọ, mà người Việt Nam nói cái này cái kia, như cái bàn cái tủ v.v... mỗi cái đều là một pháp. 

Có một pháp từ xưa nhẫn đến nay không bị đổi dời, không bị vô thường, pháp đó là một trong các pháp, nhưng nói một pháp cũng không đúng. Bởi vì các pháp có hình tướng đều bị vô thường sanh diệt, nhưng pháp ấy không hình tướng nên không bị sanh diệt. Cái sẵn có không phải pháp, tức là không phải thật có hình tướng như những sự vật, nó cũng không phải là không phải pháp, bởi vì nó thường hằng. 

Nói dễ hiểu hơn, từ xưa đến giờ có một cái không sanh không diệt, không thuộc có không thuộc không, cho nên nói Tại sao trong một pháp lại có pháp và phi pháp? Tại sao trong một cái mà nói là có là không? Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ thấy trong nhà Thiền không chấp nhận hai bên, vì hai bên có không đều không đúng. 

Tóm lại ý bài kệ này nói tất cả hiện tượng mắt chúng ta thấy, gốc từ chân tâm mà ra. Đã từ chân tâm mà nói có nói không, nói phải nói quấy thì không đúng. Đã từ một nguồn gốc chân tâm thì không thấy hai, nếu thấy hai thì đã quên gốc rồi. 

Khi ấy ngài A-nan liền đảnh lễ thọ nhận. 

Môn đệ của ngài có hai vị xuất sắc: Thương-na-hòa-tu và Mạc-điền-để-ca (Mạc-điền-địa). Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa Tổ vị và truyền trao y bát lại.

Cảm thấy thân bèo bọt đã đến thời kỳ hoại diệt, đã tìm được người kế thừa, ngài dự định vào Niết-bàn. Trước khi vào Niết-bàn, ngài đến từ giã vua A-xà-thế, song không gặp vua. Ngài liền đi thẳng đến bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền ngồi kiết già thả trôi lơ lửng giữa dòng sông.

Vua A-xà-thế hay tin ngài sắp vào Niết-bàn ở sông Hằng, liền cùng quan quân tùy tùng tìm đến bờ sông. Vua thấy ngài ngồi trên thuyền ở giữa dòng sông bèn đảnh lễ nói kệ:

Khể thủ tam giới Tôn,

Khí ngã như chí thử.

Tạm bằng bi nguyện lực

Thả mạc Bát-niết-bàn.

Dịch:

Lạy đấng Tôn tam giới,

Bỏ con đến nơi này.

Tạm nương sức bi nguyện,

Xin chớ vội Niết-bàn.

Vua nước Tỳ-xá-ly nghe tin cũng đến bên bờ sông Hằng, đảnh lễ và nói kệ:

Tôn giả nhất hà tốc,

Nhi quy tịch diệt trường!

Nguyện trụ tu du gian,

Nhi thọ ư cúng dường.

Dịch:

Tôn giả sao quá nhanh,

Sớm vào nơi tịch diệt!

Xin tạm dừng chốc lát, 

Để nhận con cúng dường.

Ngài thấy hai vua đồng đến khuyến thỉnh, bèn nói kệ:

Nhị Vương thiện nghiêm trụ,

Vật vi khổ bi luyến.

Niết-bàn đương ngã tịnh,

Nhi vô chư hữu cố.

Dịch:

Hai Vua ở an vui,

Chớ vì thương buồn khổ.

Niết-bàn, tôi an tịnh

Vì không còn các nghiệp.

Ngài giữ tâm bình đẳng ở giữa dòng sông vào Niết-bàn. Hai vua họp nhau làm lễ thiêu thân ngài và phân chia xá-lợi xây tháp cúng dường.

Trong các môn đệ của ngài, có hai vị đồ đệ xuất sắc là Thương-na-hòa-tu và Mạc-điền-địa. Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa sau này. Khi sắp Niết-bàn, ngài đi thăm vua A-xà-thế rồi lên chiếc thuyền ra giữa sông Hằng. Ranh giới bên này là vua A-xà-thế, bên kia là vua nước Tỳ-xá-ly. Hai nước đang tranh chấp, lấy sông Hằng làm ranh giới. Nếu ngài nhập Niết-bàn ở bên đất của vua A-xà-thế thì vua được trọn quyền xây tháp thờ xá-lợi. Nếu Niết-bàn bên kia thì vua Tỳ-xá-ly được trọn quyền xây tháp cúng dường. Cho nên ngài thả trôi chiếc thuyền giữa dòng sông, giữ tâm bình đẳng vào Niết-bàn. Hai vua nhìn thấy đảnh lễ, nói kệ tán thán, rồi hợp tác với nhau trà-tỳ nhục thân của ngài. Hai bên phân chia xá-lợi bình đẳng xây tháp cúng dường. Đó là chỗ đặc biệt, ngài lựa chỗ chết mà không phiền hà ai hết.

✵✵✵

III- TỔ THƯƠNG-NA-HÒA-TU

Śāṇa-vāsin

(Thế kỷ đầu sau Phật Niết-bàn)

Ngài dòng Tỳ-xá-đa nước Ma-đột-la, cha tên Lâm Thắng, mẹ là Kiều-xa-da. Ngài ở trong thai mẹ sáu năm mới sanh. Tục truyền ở Ấn Độ khi nào cỏ Thương-nặc-ca sanh là có một vị Thánh nhân ra đời. Chính khi ngài lọt lòng mẹ thì thứ cỏ ấy cũng mọc lên, vì thế cha mẹ ngài đặt tên là Thương-na-hòa-tu.

Lúc đầu, ngài xuất gia làm đồ đệ vị tiên ở núi Tuyết. Ngài tu theo pháp tiên đã được thần thông, sau gặp tổ A-nan, ngài hồi đầu trở về chánh pháp.

Tổ A-nan thấy ngài đã thâm ngộ diệu tâm nên truyền pháp kệ rằng:

Bản lai truyền hữu pháp,

Truyền liễu ngôn vô pháp.

Các các tu tự ngộ,

Ngộ liễu vô vô pháp.

Dịch:

Xưa nay truyền có pháp,

Truyền rồi nói không pháp.

Mỗi mỗi cần tự ngộ,

Ngộ rồi không không pháp.

Tổ lại dặn: “Xưa đức Như Lai đem đại pháp nhãn này trao cho ngài Ca-diếp, ngài Ca-diếp trao lại cho ta, nay ta sắp vào Niết-bàn đem trao lại cho ngươi. Ngươi phải khéo gìn giữ truyền trao không để dứt mất.”

Đọc lịch sử Tôn giả chúng ta thấy có mấy điểm đặc biệt cần chú ý. Ngài ở trong thai mẹ đến sáu năm. Trước ngài tu theo ngoại đạo đã được thần thông, nhưng khi gặp ngài A-nan liền quy hướng về Phật pháp, vì thấy rõ thần thông không đưa đến giải thoát. Nếu thần thông đưa đến giải thoát thì ngài được thần thông rồi cần gì theo tổ A-nan học đạo. 

Như vậy thần thông chỉ là phương tiện bên ngoài chứ không phải là trọng tâm người tu giải thoát. Do đó chúng ta tu theo Phật mà còn say mê thần thông là không đúng tinh thần tu Phật. Người tu Phật chủ yếu là giải thoát sanh tử. Như người có thần thông biết bay lên trời, chui xuống đất, nhưng chưa hết tham sân si thì vẫn còn trầm luân sanh tử. Tại sao? Bởi vì tham sân si là nhân của luân hồi sanh tử. Nếu có thần thông mà không hết tham sân si thì không hết luân hồi. Vả lại thần thông do luyện tập mà được cho nên không phải thật. 

Đọc truyện Tàu thấy ngày xưa mấy ông tiên tu trên núi có thần thông phép lạ, nhưng khi ai làm gì bực tức liền xách gói xuống núi và bị mắc họa luôn. Ngược lại người phàm phu không có thần thông mà giảm thiểu tham sân si thì khi gặp nghịch cảnh tâm vẫn bình thường. Do vậy trọng tâm của người tu theo đạo Phật là hết tham sân si, nếu không hết thì cũng giảm. 

Đạo Phật là chỉ dạy cho người tìm lẽ thật, chứ không tìm huyền bí, cho nên người học Phật phải chín chắn suy nghĩ kỹ càng, mới thấy cái hay của đạo Phật. Nếu không thì bị những cái mầu nhiệm huyền bí đánh lừa. Ở đây điểm quan trọng của tổ Thương-na-hòa-tu là ngài đã được thần thông mà vẫn khép mình theo ngài A-nan học đạo, để thấy người xưa không ỷ mình có thần thông rồi xem thường tất cả, mà luôn coi trọng chân lý giải thoát. 

Tổ A-nan thấy ngài thâm ngộ diệu pháp nên nói kệ rằng:

Xưa nay truyền có pháp,

Truyền rồi nói không pháp.

Mỗi mỗi cần tự ngộ,

Ngộ rồi không không pháp.

Chữ pháp là chỉ cho tâm, truyền pháp là truyền tâm, nếu không tâm lấy gì truyền! Nói truyền thì dường như là có pháp, nhưng truyền rồi không có pháp gì hết. 

Như thầy hiểu đạo, đệ tử cũng hiểu đạo tức là có pháp. Bây giờ thầy ấn chứng cho đệ tử chỗ hiểu đúng như chỗ hiểu của thầy, cái đó dường như có pháp mà không pháp. Vì sao? Tự mình ngộ vị thầy ấn chứng vậy thôi, không có gì để trao truyền. Cái đó là mỗi người tự nhận ra, chứ không ai nhận thế cho mình. Khi ngộ rồi thì thấy không pháp nào ngoài mình hết. Theo tinh thần Thiền tông, thì dường như có pháp trao truyền mà sự thật thì mỗi người tự ngộ bản tâm, chứ không ai đem đến cho mình. 

Sau khi đắc pháp nơi tổ A-nan, ngài đi đến khu rừng Ưu-lưu-trà cất tinh xá hoằng hóa Phật pháp rất hưng thịnh. Chính nơi đây, khi Phật còn tại thế có lần đi giáo hóa ngang qua khu rừng này, Phật nói với A-nan: “Sau khi ta Niết-bàn khoảng một trăm năm, có một vị Tỳ-kheo tên Thương-na-hòa-tu ở tại khu rừng này hoằng truyền chánh pháp.”

Thấy cơ duyên hóa đạo đã viên mãn, ngài đem Chánh pháp Nhãn tạng truyền lại cho đệ tử là Ưu-ba-cúc-đa. Ngài vào núi Bạch Tượng phía nam nước Kế-tân sắp vào Niết-bàn. Nhân trong chánh định ngài thấy nhóm năm trăm người đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa thường hay lười biếng và khinh mạn, ngài liền đến cảnh tỉnh họ. 

Khi ngài đến, Ưu-ba-cúc-đa đi vắng. Ngài lại tòa của Ưu-ba-cúc-đa ngồi, đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa không biết ngài là ai, tất cả đều bực tức không phục. Họ chạy báo cho Ưu-ba-cúc-đa hay. Ưu-ba-cúc-đa về đến thấy Thầy mình liền đảnh lễ. Song đệ tử vẫn còn tâm khinh mạn chẳng kính. Ngài lấy tay mặt chỉ lên hư không liền có sữa thơm chảy xuống, ngài bảo Ưu-ba-cúc-đa:

- Ngươi biết gì chăng?

Ưu-ba-cúc-đa thưa:

- Chẳng biết.

Ưu-ba-cúc-đa bèn nhập chánh định để xem xét, cũng không thể hiểu. Ưu-ba-cúc-đa thưa:

- Điềm lành này do chánh định gì xuất hiện?

- Đây là chánh định Long phấn tấn. Còn cả năm trăm thứ chánh định như thế mà ngươi chưa biết. Chánh định của Như Lai, hàng Bích-chi không thể biết. Chánh định của Bích-chi, hàng La-hán không thể biết. Chánh định của Thầy ta là A-nan, ta cũng không biết. Nay chánh định của ta, ngươi đâu thể biết. Chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được thế đó mới có thể biết.

Đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa trông thấy những điều kỳ diệu ấy liền kính phục, chí thành sám hối. Ngài lại nói kệ:

Thông đạt phi bỉ thử,

Chí thánh vô trường đoản.

Nhữ trừ khinh mạn ý,

Tật đắc A-la-hán.

Dịch:

Thông suốt không kia đây,

Chí Thánh không hay dở,

Ngươi trừ tâm khinh mạn,

Chóng được A-la-hán.

Sau đó, ngài thị tịch bằng cách dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân. Thầy trò Ưu-ba-cúc-đa thu nhặt xá-lợi xây tháp cùng dường.

Ngài truyền pháp cho đệ tử là Ưu-ba-cúc-đa. Ngài Ưu-ba-cúc-đa có một số đệ tử tâm rất kiêu mạn lại thêm lười biếng, tự cho mình cao quý, nên ngài tới đó để cảnh tỉnh. 

Tổ đến nơi, ngài Ưu-ba-cúc-đa đi vắng. Ngài bèn lên tòa Ưu-ba-cúc-đa ngồi, các vị đệ tử chưa từng biết ngài là Sư ông, chỉ thấy ông thầy lạ lên ngồi chỗ của Thầy mình, liền bất bình không phục, chạy báo tin cho Thầy biết. Ngài Ưu-ba-cúc-đa về, thấy Thầy liền đảnh lễ. 

Nhóm đệ tử của ngài Ưu-ba-cúc-đa lộ vẻ không cung kính. Tổ Thương-na-hòa-tu dùng tay chỉ lên hư không, liền có sữa thơm chảy xuống, hỏi Ưu-ba-cúc-đa ngươi biết gì chăng? Ưu-ba-cúc-đa thưa chẳng biết, rồi nhập chánh định để xem xét nhưng cũng không hiểu, nên hỏi: Điềm lành này do chánh định gì xuất hiện. Thương-na-hòa-tu nói: Đây là chánh định Long phấn tấn. Còn cả năm trăm thứ chánh định như thế mà ngươi chưa biết. Chánh định của Như Lai hàng Bích-chi không thể biết. Chánh định của Bích-chi, hàng La-hán không thể biết. Chánh định của thầy ta là A-nan ta cũng không biết, nay chánh định của ta ngươi đâu thể biết. Chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được thế đó mới có thể biết.

Ngài kể các chánh định, chánh định của thầy thì trò không biết, chánh định của bậc thánh trên thì bậc thánh dưới không biết. Nhưng chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được như thế mới có thể biết, đó là điểm quan trọng. Thầy trò truyền nhau là do thầy biết về trò, ngộ được chỗ giống thầy rồi mới truyền tâm ấn, nhưng chánh định của thầy trò không biết. Có câu học trò bằng thầy thì thua thầy nửa đức, học trò hơn thầy mới kham gìn giữ sự nghiệp của thầy. 

Tại sao bằng thầy mà còn thua thầy nửa đức? Đã bằng rồi còn thua, là bởi thế này. Ví dụ tôi là thầy, Nhật Quang là trò, kiến giải bằng tôi nhưng thua tôi nửa đức vì tu sau. Hiểu thì bằng nhưng người tu sau năm mười năm thì công đức chưa bằng. Vì vậy người sau tuy có cái thấy bằng người trước, vẫn còn thua cái đức của người trước. Đó là nói theo phàm tăng. Còn những vị thánh tăng thì thầy ngộ chứng được chỗ ngộ chứng cao, trò được thầy chỉ dạy nhưng chưa tới chỗ của thầy, làm sao biết được chỗ chứng của thầy. 

Chúng ta thường hay đem tâm niệm phàm phu để lường tâm niệm của bậc thánh nhiều khi không đúng. Ví dụ xem truyện thái tử Tu-đại-noa, thấy ngài bố thí tài sản vợ con, vợ con vây quanh kêu khóc mà ngài cũng cho người ta. Theo tâm niệm phàm phu chúng ta thấy ngài tàn nhẫn quá. Nhưng đối với ngài, những cái khó cho mà bố thí được mới là ít có. Người mình rất thương mến mà dám hy sinh cho người khác, đó mới là thánh. Như vậy tâm lượng phàm thánh khác nhau. Cho nên chúng ta lấy tâm phàm phu mà suy lường tâm lượng của bậc thánh thì nhiều khi không đúng. 

Thấy cái sai lầm của nhóm đệ tử Ưu-ba-cúc-đa, ngài đã phương tiện dùng sự huyền bí để chỉ dạy họ sửa đổi tâm tánh không còn kiêu mạn. Họ thấy những điều kỳ diệu nên kính phục chí thành sám hối. Lúc đó Tổ nói kệ dạy thêm:

Thông suốt không kia đây,

Chí thánh không hay dở.

Người trừ tâm khinh mạn,

Chóng được A-la-hán.

Người thông suốt thì không còn chấp kia đây, mình người; bậc chí thánh không phê bình cái hay dở của kẻ khác. Người chê khen hay dở thường có tâm khinh mạn, nếu trừ tâm khinh mạn thì mau chứng quả A-la-hán. 

Sau đó ngài dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân thị tịch. 

Học sử tổ Thương-na-hòa-tu, chúng ta thấy có những điểm cần lưu ý như sau: Ngài không cho thần thông là cao tột. Khi truyền pháp thì không có một pháp thật để truyền mà chính mỗi người tự ngộ. Biết rõ tâm khinh mạn là gốc của sanh tử, nên khuyên dạy người tu lấy chánh định cao cả hơn hết là không sanh diệt và trụ trong đại từ, tâm cung kính nhau. Đó là trọng tâm của người tu phải đạt được.

✵✵✵

IV- TỔ ƯU-BA-CÚC-ĐA

Upagupta

(Cuối thế kỷ thứ I sau Phật Niết-bàn)

Ngài dòng Thủ-đà-la ở nước Tra-lợi, cha tên Thiện Ý. Trước khi sanh ngài, thân phụ nằm mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà. Thuở bé, ngài mặt mũi khôi ngô, tánh tình thuần hậu, trí tuệ minh mẫn. 

Khoảng mười hai tuổi, ngài được gặp tổ Thương-na-hòa-tu đến tận nhà và dạy cho ngài phương pháp buộc niệm. Nghĩa là mỗi khi khởi nghĩ ác liền bỏ một hòn sỏi đen vào hũ, khi nào khởi nghĩ lành liền bỏ một hòn sỏi trắng vào hũ. Mỗi tháng đem ra xem xét coi đen nhiều hay trắng nhiều; nếu đen nhiều phải cố gắng sửa đổi. Ngài vâng làm như vậy, ban đầu sỏi đen nhiều, dần dần bằng nhau và sau này trắng nhiều.

Ngài Ưu-ba-cúc-đa lúc còn nhỏ mới mười hai tuổi mà ham tu, gặp tổ Thương-na-hòa-tu dạy điều phục tâm bằng cách bỏ sỏi trong hũ. Tổ dạy khi khởi ý nghĩ xấu lượm hòn sỏi đen bỏ vô hũ, khởi ý nghĩ tốt lượm hòn sỏi trắng bỏ vô hũ. Thỉnh thoảng đổ hai cái hũ ra xem hòn đen nhiều hay hòn trắng nhiều. Ban đầu sỏi đen nhiều, trắng ít, về sau trắng nhiều đen ít. Chừng nào đổ hai hũ ra không có sỏi đen mà hoàn toàn sỏi trắng là tốt. Đây là lối tu kiểm soát nghiệp ác để tăng trưởng nghiệp lành. 

Năm mười bảy tuổi, ngài xin tổ Thương-na-hòa-tu xuất gia. Tổ hỏi:

- Ngươi được bao nhiêu tuổi?

Ngài thưa:

- Bạch Thầy, con được mười bảy tuổi.

- Thân ngươi mười bảy tuổi hay tánh ngươi mười bảy tuổi?

Ngài hỏi lại:

- Đầu Thầy tóc bạc, vậy tóc Thầy bạc hay tâm Thầy bạc?

Tổ bảo:

- Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc.

- Con cũng thế, thân con được mười bảy tuổi, không phải tánh con mười bảy tuổi.

Tổ bèn hoan hỷ nhận cho xuất gia làm thị giả.

Đây là đoạn đối thoại giữa hai thầy trò. Ngài xin tổ Thương-na-hòa-tu xuất gia, Tổ hỏi: Ngươi được bao nhiêu tuổi? Ngài thưa: Bạch Thầy, con được mười bảy tuổi. Trả lời rất thật thà!

Tổ hỏi: Thân ngươi mười bảy tuổi hay tánh ngươi mười bảy tuổi? Nếu học trò bây giờ thì ấp úng không trả lời được. Nhưng ngài liền hỏi trở lại: Đầu Thầy tóc bạc, vậy tóc Thầy bạc hay tâm Thầy bạc?

Tổ bảo: Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc.

Ngài vin vào câu đáp của Tổ để trả lời:

- Con cũng thế, thân con được mười bảy tuổi, không phải tánh con mười bảy tuổi.

Ngài trả lời như thế là ngay nơi thân sanh diệt nhận ra được cái bất sanh bất diệt. Thân có sanh diệt mà tánh ngài không sanh diệt. Từ khi còn nhỏ một hai tuổi đến mười bảy mười tám tuổi, rồi tới sáu bảy mươi tuổi là thân theo thời gian mà thay đổi sanh diệt. Nhưng thể tánh thì không sanh diệt. Nghe ngài nói như vậy Tổ hoan hỷ chấp nhận cho xuất gia làm đệ tử. 

Đến hai mươi tuổi, ngài thọ giới Cụ túc và ngộ đạo. Tổ bảo:

- Xưa đức Thế Tôn đem Chánh pháp Vô thượng truyền cho tổ Ca-diếp. Tổ Ca-diếp truyền lại cho Thầy của Thầy ta là đức A-nan, Thầy ta truyền cho ta và nay ta truyền lại cho ngươi Chánh pháp này. Ngươi cố gắng hộ trì đừng để đoạn dứt. Hãy nghe bài kệ đây:

Phi pháp diệc phi tâm,

Vô tâm diệc vô pháp.

Thuyết thị tâm pháp thời,

Thị pháp phi tâm pháp.

Dịch:

Phi pháp cũng phi tâm,

Không tâm cũng không pháp.

Khi nói tâm pháp ấy,

Pháp ấy phi tâm pháp.

Sau khi ngài thọ giới Cụ túc, Tổ truyền tâm pháp qua bài kệ:

Phi pháp cũng phi tâm,

Không tâm cũng không pháp.

Khi nói tâm pháp ấy,

Pháp ấy phi tâm pháp.

Chữ pháp là chỉ cho tâm. Tâm không phải vật cũng không phải vọng tưởng. Khi nói tâm pháp là chỉ cho tâm thể. Tâm thể này bất sanh bất diệt, nó không phải là tâm, cũng không phải là pháp. Tại sao nói tâm rồi phi tâm, pháp rồi phi pháp? Bởi vì chúng ta dùng ngôn từ nói tâm nói pháp cũng là khái niệm đặt ra. Thể chân tâm hằng tri hằng giác bất sanh bất diệt không có tên. Nếu có tên cũng là tạm đặt thôi, do đó nói phi tâm phi pháp, cũng là tâm là pháp, nói tới nói lui vậy thôi.

Khi ngài đến nước Ma-đột-la, cảm hóa rất đông dân chúng quy hướng Phật pháp, có nhiều người đã chứng đạo quả. Có những khi ngài thuyết pháp, chư thiên rải hoa, quả đất rúng động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua ma Ba-tuần sợ e Phật giáo thạnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu diệt, nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật pháp. Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thính chúng. Ngài bèn nhập định để quán sát nguyên do. Được cơ hội thuận tiện, Ma đem vòng chuỗi anh lạc quàng vào cổ ngài. Xuất định, ngài dùng thần lực biến ba thây chết (người, chó, rắn) thành một tràng hoa đẹp. Ngài dùng lời dịu ngọt bảo Ma:

- Ngươi sẵn lòng tốt đem chuỗi anh lạc rất quý tặng ta, giờ ta biếu lại ngươi tràng hoa đẹp này, gọi là thù tạc nhau.

Vua ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa. Tràng hoa tròng vào cổ giây lát hóa thành thây thúi, giòi tửa ghê tởm. Vua ma kinh sợ gớm chán. Muốn cởi ra mà cởi không được, dùng hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma lên cõi trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến các trời cõi Phạm. Vua các trời đều bảo: 

- Pháp ấy là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được!

Vua ma nghe phán như vậy lại hỏi:

- Thế thì làm thế nào gỡ ra?

Vua trời nói kệ:

Nhược nhân địa đảo,

Hoàn nhân địa khởi.

Ly địa cầu khởi,

Chung vô kỳ lý.

Dịch:

Nếu nhân đất ngã,

Phải nhờ đất dậy.

Lìa đất muốn dậy,

Trọn không lý ấy.

Vua ma nhận lời dạy, rời khỏi cung Trời, trở về chỗ ngài Ưu-ba-cúc-đa chí thành lễ tạ sám hối. Ngài bảo:

- Thánh trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường dữ.

Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa:

- Tôn giả vì con làm lợi ích lớn. Cúi xin Tôn giả cởi vòng thây thúi giùm con.

- Vậy ngươi phải quỳ gối chắp tay tự xướng ba lần quy y Tam bảo đi.

Vua ma quỳ gối chắp tay xướng ba lần quy y Tam bảo xong, thì vòng thây thúi biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót đảnh lễ ngài nói kệ:

Khể thủ tam-muội tôn,

Thập lực đại từ túc.

Ngã kim nguyện hồi hướng, 

Vật linh hữu liệt nhược.

Dịch:

Cúi lạy bậc chánh định,

Đủ mười lực đại từ.

Nay con xin hồi hướng,

Chớ còn tánh yếu hèn.

Sau khi quy y Tam bảo xong, ngài bảo vua ma:

- Xưa ngươi thường thấy Như Lai, giờ đây hiện thử cho ta xem.

Vua ma thưa:

- Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn giả trông thấy đừng đảnh lễ.

Vua ma liền vào rừng ẩn mất. Chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, đi sau là đoàn Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Ngài vừa trông thấy, bất giác cúi mình đảnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất.

Khi ngài hóa đạo thịnh hành nên nhiều người phát tâm tu theo, ma vương sợ cung điện bị hủy hoại nó tìm cách phá ngài. Ngài đang giảng pháp cho đại chúng, nó bèn hiện ngọc nữ tới nhiễu loạn làm tâm đại chúng xao lãng. Ngài nhập định tìm lý do. Thấy ngài nhập định, Ma đem vòng chuỗi anh lạc tròng vô cổ. Ngài xuất định dùng thần lực biến thây chết thành tràng hoa đẹp tròng vào cổ vua ma, tặng lại nó. Biết xâu chuỗi là thây ma, nó hoảng hốt chạy lên các cõi trời cầu cứu. Vua trời bảo pháp đó là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu không trừ được. Vua ma hỏi thế thì làm sao gỡ ra? Vua trời mới nói kệ: 

Nếu nhân đất ngã,

Phải nhờ đất dậy.

Lìa đất muốn dậy,

Trọn không lý ấy.

Hôm nào trời mưa trơn trượt, đi sảy chân té. Khi té rồi thì chỏi đất đứng dậy; yêu cầu người khác cứu thì không thể được. Cũng thế, cái gì làm cho mình khổ thì phải từ cái đó gỡ ra. Chúng ta biết rõ do tham sân si làm cho mình khổ, bỏ tham sân si đi thì hết khổ. Nếu cầu thần thánh bỏ giùm để hết khổ thì không đúng. Khi té xuống đất thì từ đất gượng đứng dậy chứ kêu trời đất cứu thì không thể được, đó là lẽ thật.

Nghe vua trời nói kệ, vua ma cho là chí lý liền trở về chỗ ngài Ưu-ba-cúc-đa chí thành lễ tạ sám hối, xin quy y với Tổ. Ngài biết ma Ba-tuần tuổi thọ cả mấy triệu năm, nó sống thời đức Phật nên biết rành rõ sinh hoạt của đức Phật và tăng đoàn. Ngài liền nói: Xưa ngươi thấy Như Lai, giờ đây hiện thử hình ảnh Như Lai và đồ đệ thuở xưa cho ta xem. Vua ma trả lời: Con hiện việc xưa thì được, nhưng xin Tôn giả thấy đừng đảnh lễ, nếu đảnh lễ thì con tổn đức. Là một vị đắc đạo đã được vua ma dặn trước như vậy, nhưng khi ma hiện đức Phật đi trước nghiêm chỉnh, đoàn Tỳ-kheo đi sau vàng rực, ngài liền chắp tay đảnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất. 

Qua câu chuyện này để cho chúng ta biết rõ, trong khi tu nếu mong cầu thấy Phật, thấy tướng lạ thì dễ bị ma gạt. Một vị Tổ đã đắc đạo, mà khi ma hiện Phật thấy còn quên thay, huống nữa chúng ta còn phàm phu lòng khát khao muốn thấy Phật. Nhiều khi ma giả Phật, chúng ta không đủ lý trí nhận định thì dễ bị lừa, đó cũng là lý do làm cho người tu phát điên. Vì vậy trong nhà Thiền không chấp nhận một hình ảnh nào trong lúc đang tu, dù là hình ảnh Phật Bồ-tát hay hình ảnh ma. 

Chúng ta cần phải xét kỹ, không bao giờ để tâm vọng tưởng mong cầu thấy Phật hay những tướng lạ bên ngoài, mà chỉ dẹp vọng tưởng là điều chính yếu. Hiểu như vậy thì trên đường tu hành không bị lầm lẫn. 

Lúc hóa đạo, mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp, ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài mười tám thước tay, bề ngang mười hai thước tay. Thế mà một thời gian thẻ tre đầy ắp cả thất.

Sau cùng, ngài độ ông Hương Chúng con một vị trưởng giả và truyền Chánh pháp lại cho ông này. Nhân thân phụ ông Hương Chúng mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà, nên ngài đổi hiệu là Đề-đa-ca.

Có người kế thừa và nhân duyên hóa đạo đã xong, ngài từ biệt đại chúng, ngồi kiết già thị tịch. Đề-đa-ca và môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu ngài. Thiêu xong, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.

Khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp, ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài mười tám thước tay, bề ngang mười hai thước tay. Nhưng một thời gian thẻ tre đầy cả thất. Người sau cùng ngài độ là ông Hương Chúng và truyền chánh pháp lại cho vị này. Có người kế thừa và nhân duyên giáo hóa đã xong, ngài từ biệt đại chúng, ngồi kiết già thị tịch. Môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu để thiêu ngài. Thiêu xong lượm xá-lợi xây tháp cúng dường. 

Đây là vị Tổ hết sức đặc biệt đã giáo hóa được vua ma.

✵✵✵

V- TỔ ĐỀ-ĐA-CA

Dhṛtaka

(Đầu thế kỷ thứ II sau Phật Niết-bàn)

Ngài tên Hương Chúng ở nước Ma-già-đà. Nhân thân phụ ngài nằm mộng thấy mặt trời vàng ánh xuất hiện trong nhà, chiếu sáng khắp cả. Lại thấy phía trước hiện ra một hòn núi lớn, trang nghiêm bằng bảy báu, trên đỉnh núi có dòng suối nước chảy trong veo, tràn khắp bốn phía. Sau đó mẹ ngài sanh ra ngài.

Ngài gặp tổ Ưu-ba-cúc-đa bèn đem điềm mộng của cha thuật lại và nhờ giải hộ. Tổ giải:

- Núi báu là thân ta. Suối nước tuôn ra là pháp vô tận, mặt trời xuất hiện trong nhà là tướng ngươi vào đạo, ánh sáng chiếu khắp là trí tuệ siêu việt của ngươi. 

Ngài nghe xong vui mừng khấp khởi xướng kệ rằng:

Nguy nguy thất bảo sơn,

Thường xuất trí tuệ tuyền.

Hồi vi chân pháp vị,

Năng độ chư hữu duyên.

Dịch:

Vòi vọi núi bảy báu,

Thường tuôn suối trí tuệ.

Chuyển thành vị chân pháp,

Hay độ người có duyên.

Tổ Ưu-ba-cúc-đa cũng nói kệ đáp:

Ngã pháp truyền ư nhữ,

Đương hiện đại trí tuệ.

Kim nhật tùng ốc xuất,

Chiếu diệu ư thiên địa.

Dịch:

Pháp ta truyền cho ngươi,

Sẽ hiện trí tuệ lớn.

Mặt trời mọc trong nhà,

Chiếu sáng khắp trời đất.

Ngài nghe kệ rồi, xin theo Tổ xuất gia học đạo. Thấy ngài ứng đối lanh lẹ, trí tuệ minh đạt, Tổ hoan hỷ chấp nhận cho xuất gia làm đệ tử.

Trước khi ngài sanh ra, thân phụ thấy trong nhà có mặt trời vàng ánh sáng chiếu khắp cả, đó là điềm sẽ có vị đại trí tuệ ra đời. Kế đến là thấy hòn núi lớn trang nghiêm bằng bảy báu, trên đỉnh núi có dòng suối trong veo chảy tràn khắp bốn phía.

Khi gặp tổ Ưu-ba-cúc-đa, ngài đem điềm mộng của cha thuật lại nhờ giải thích. Tổ nói thấy núi báu là thấy thân của ngài. Thân của các vị đạt đạo cũng là thân tứ đại như chúng ta, nhưng tại sao lại hiện núi bảy báu? Vì khi chúng ta mê thì thân này hiện nhớp nhúa, nếu tu tỉnh ngộ như các ngài thì thân này thành bảy báu. 

Trong kinh Pháp Hoa nêu lên hình ảnh tháp bằng bảy báu từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không. Tháp bảy báu là tượng trưng cho thân thất đại: đất, nước, gió, lửa, không, thức, kiến. Khi nhận ra tri kiến Phật thì nó thanh tịnh trở thành thất bảo, nếu mê tri kiến Phật tâm uế trược thì nó là thất đại. Chúng ta tu không nên đi kiếm của báu ở ngoài, chỉ cần tỉnh giác thì bảy báu sẵn có nơi thân.

Mặt trời xuất hiện trong nhà là tướng vào đạo, tức là trong nhà có người sẽ đi tu, người đó có trí tuệ siêu việt chiếu khắp thế gian. Ánh sáng soi khắp là hiện tượng người này nếu xuất gia thì sẽ làm lợi ích cho nhiều người bằng trí tuệ sáng suốt của mình. 

Nghe Tổ giải thích, ngài vui mừng phát tâm xuất gia và dùng kệ tán thán.

Vòi vọi núi bảy báu,

Thường tuôn suối trí tuệ.

Chuyển thành vị chân pháp,

Hay độ người có duyên.

Ngài tán thán Thầy của mình giống như ngọn núi bảy báu, từ đó lưu xuất dòng suối trí tuệ, như đem dòng suối pháp của Phật mà độ tất cả chúng hữu tình có duyên với Phật pháp. 

Ngài Ưu-ba-cúc-đa đáp lại bằng bài kệ:

Pháp ta truyền cho ngươi,

Sẽ hiện trí tuệ lớn.

Mặt trời mọc trong nhà,

Chiếu sáng khắp trời đất.

Tổ khen lại người học trò. Ta sẽ truyền pháp cho ngươi. Sẽ hiện trí tuệ lớn. Ngày nay mặt trời trong nhà hiện ra, soi khắp trời đất là sau này ngươi sẽ giáo hóa khắp mọi người. Như vậy vị thầy nói về tương lai tốt đẹp của trò. 

Một hôm, Tổ gọi ngài bảo:

Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Đại Ca-diếp, lần lượt trao truyền cho đến ta, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe kệ đây:

Tâm tự bản lai tâm, 

Bản tâm phi hữu pháp.

Hữu pháp hữu bản tâm,

Phi tâm phi bản pháp.

Dịch:

Tâm tự xưa nay tâm,

Bản tâm chẳng có pháp.

Có pháp có bản tâm,

Chẳng tâm chẳng bản pháp.

Ngài thành kính nhận lãnh Chánh pháp.

Khi tổ Ưu-ba-cúc-đa sắp tịch bèn nói kệ truyền pháp cho ngài. 

Tâm tự xưa nay tâm,

Bản tâm chẳng có pháp.

Có pháp có bản tâm,

Chẳng tâm chẳng bản pháp.

Ở đây nói tâm thể, chứ không phải tâm nghĩ suy. Tâm thể của chúng ta sẵn có từ thuở nào đến giờ, chứ không phải mới có từ cha mẹ sanh, nên gọi là bản lai, tức từ xưa cho đến nay. Tâm thể không phải là một pháp, tại sao? Bởi vì chữ pháp chỉ cho thứ này thứ kia, như đồng hồ, tách trà, khăn bàn... các pháp đó từ suy nghĩ đặt ra. Nhưng bản tâm không phải nghĩ suy đến được, nên nói không phải pháp. 

Tuy nhiên nếu nói có pháp thì có bản tâm, tại sao? Tâm thể không có tên mà mình đặt ra tên này tên nọ thì thành có nhưng không thật, nên gọi là chẳng tâm chẳng bản pháp. Khi tu vọng tưởng lặng, chỉ còn một thể giác tri khinh an, lúc đó mới biết tất cả từ ngữ đều hư dối không thật. Vừa dấy niệm liền có từ ngữ, không dấy niệm thì không từ ngữ gì hết. 

Sau ngài sang Trung Ấn giáo hóa. Nơi đây có tám ngàn vị đại tiên, dưới sự lãnh đạo của đại tiên Di-dá-ca. Nghe ngài đến đây, Di-dá-ca vân tập tiên chúng đến yết kiến ngài.

Gặp ngài, Di-dá-ca thưa:

- Xưa tôi cùng Thầy đồng sanh cõi trời Phạm thiên. Tôi gặp tiên A-tư-đà truyền cho pháp tiên. Thầy gặp đệ tử Phật hướng dẫn tu tập thiền định. Từ đó, cách nhau đã đến sáu kiếp.

Ngài bảo:

- Lời tiên nhân đã nói đúng như vậy. Song, ông chuyên về pháp tiên tột cùng sẽ đến đâu?

Di-dá-ca thưa:

- Tôi tuy chưa gặp bậc chí thánh, song tiên A-tư-đà thường thọ ký rằng: “Sáu kiếp về sau, tôi sẽ nhờ bạn đồng học mà được chứng quả giải thoát.” Nay gặp nhau đây đâu không đúng như vậy ư?

Ngài bảo:

- Ông đã biết như vậy thì cần phải xuất gia, pháp tiên là đường nhỏ, không thể đưa người đến giải thoát. Ta hóa đạo đã lâu, cũng muốn dừng nghỉ. Nếu ông thật thú hướng về đại pháp thì không nên chậm trễ.

Di-dá-ca nghe nói vui mừng liền xin xuất gia. Ngài độ cho ông xuất gia thọ giới.

Có người thắc mắc tu tiên với tu Phật hơn kém chỗ nào? Đa số người thế gian thích thành tiên mà không thích thành Phật. Bởi vì Phật ngồi trên bàn từ bi không nói gì hết, còn nhìn mấy ông tiên thì đánh cờ, uống rượu vui quá cho nên nói sướng như tiên, chứ không ai nói sướng như Phật. Từ bi như Phật nhưng mà sướng như tiên. Hiểu thật rõ chỗ này chúng ta không thắc mắc.

Tại sao tu tiên sướng mà không tu, tu Phật chi cho cực khổ? Bởi vì Phật từ bi thấy chúng sanh khổ, độ chúng sanh không biết mỏi mệt. Khi công hạnh viên mãn mới thành Phật. Như vậy pháp của Phật là pháp giải thoát sanh tử cho mình và mọi người. 

Đoạn này nói ngài Di-dá-ca lãnh đạo tám ngàn vị đại tiên, làm Thầy tám ngàn vị tiên có thần thông là giá trị rồi, nếu người thế gian ở địa vị đó, gặp người khác chắc không chịu đầu phục làm đệ tử. Nhưng khi gặp Tổ biết là người tu theo Phật được pháp giải thoát, liền xin quy y với Tổ, tu hạnh giải thoát. Như vậy giá trị người tu Phật khác người tu tiên. Ngài Di-dá-ca từ địa vị một vị Thầy mà hạ thấp mình làm đệ tử một tu sĩ Phật giáo, đó là ngài đã phá bản ngã lớn lao của chính mình, nên bước vào đạo không khó khăn gì. 

Lúc đó, tiên chúng theo Di-dá-ca thấy vị tiên trưởng của mình làm như vậy, rất bất mãn. Họ nói thầm với nhau rằng: “Đề-đa-ca đâu có đủ sức làm Thầy mình mà theo xuất gia.”

Ngài biết tâm họ, muốn gây cho họ có niềm tin, liền phóng quang sáng chiếu, chân đi trên hư không như người đi trên đất bằng, lại hóa cây dù báu che khắp chúng tiên, nơi ngón tay sữa thơm tuôn ra, trong sữa hiện lên một hoa sen, trong hoa sen hóa ra đức Phật.

Chúng tiên thấy thần biến phi thường, bèn cúi đầu cầu xin xuất gia. Tôn giả hoan hỷ chấp nhận.

Thấy cơ duyên hóa độ đã viên mãn, ngài truyền pháp lại cho Di-dá-ca, rồi thâu thần tịch diệt.

Di-dá-ca và đồ chúng thiêu hài cốt ngài, thâu lượm xá-lợi xây tháp tại núi Ban-trà thờ phụng cúng dường.

Khi ngài xin làm đệ tử tổ Đề-đa-ca thì bị đồ đệ phản đối liền. Mất mặt quá! Thầy mình đang là một vị đại tiên mà trở thành đệ tử ông thầy tu theo Phật. Hiểu tâm lý họ, ngài Đề-đa-ca mới dùng thần thông chiết phục, để các vị tiên hết tâm ngạo mạn trở về theo Phật. Khi chúng tiên thấy ngài thị hiện thần biến phi thường bèn cúi đầu cầu xin xuất gia. Tôn giả hoan hỷ chấp nhận.

Tóm lại, thần thông biến hóa khi có khi không nên không thật. Cái chân thật thì không bao giờ mất. Cho nên đạo Phật chủ trương muốn giác ngộ phải nhận ra cái chân thật nơi mình và hằng sống với nó thì mới thoát ly sanh tử luân hồi. Hiểu như thế mới thấy được giá trị chân thật lời dạy của Phật tổ.

Chúng ta thấy các thiền sư Trung Hoa phần nhiều giảng dạy đem chánh pháp hoặc dùng ngôn ngữ đối đáp, hoặc dùng những phương tiện đánh hét, giở phất tử, gọi dạ... để cho đương cơ lãnh hội. Nhưng ở đây thì dùng thần thông mà hóa đạo, tại sao? Vì người tu tiên thường quan trọng những điều thần bí. Nếu đệ tử Phật không có thần thông thì làm sao chinh phục để giáo hóa họ. Vì vậy nhà Phật thỉnh thoảng cũng dùng thần thông để chinh phục những người ngoại đạo. Nhưng đó là phương tiện để làm cho họ kính nể, rồi giáo hóa họ đi theo con đường giải thoát chứ không phải cứu cánh. 

Thấy cơ duyên hóa độ đã viên mãn, ngài truyền pháp lại cho Di-dá-ca rồi thâu thần tịch diệt. Di-dá-ca và đồ chúng thiêu hài cốt, lượm xá-lợi xây tháp tại núi Ban-trà thờ phụng cúng dường.

✵✵✵

VI- TỔ DI-DÁ-CA

Miccaka

(Đầu thế kỷ thứ III sau Phật Niết-bàn)

Ngài người Trung Ấn, không rõ họ gì. Ngài cùng chúng tiên thọ giáo xuất gia với tổ Đề-đa-ca. Sau đó, ngài tu chứng được quả thánh.

Khi sắp tịch, tổ Đề-đa-ca gọi ngài lại bảo: 

- Xưa Như Lai thầm trao đại pháp nhãn cho Đại Ca-diếp lần lượt truyền trao đến ta, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải giữ gìn truyền trao chớ dứt. Nghe ta nói kệ: 

Thông đạt bản tâm pháp, 

Vô pháp vô phi pháp.

Ngộ liễu đồng vị ngộ,

Vô tâm diệc vô pháp.

Dịch:

Thông đạt pháp bản tâm,

Không pháp không phi pháp.

Ngộ rồi đồng chưa ngộ,

Không tâm cũng không pháp.

Tổ thứ sáu là Di-dá-ca, người Trung Ấn không rõ tên họ xứ sở, chỉ biết ngài đã chứng quả tiên nhưng khi tổ Đề-đa-ca giáo hóa, ngài theo tổ tu hạnh giải thoát chứng quả thánh và được tổ truyền trao một bài kệ:

Thông đạt pháp bản tâm,

Không pháp không phi pháp.

Ngộ rồi đồng chưa ngộ,

Không tâm cũng không pháp.

Người nào thấu suốt được tâm gốc, tâm ấy không phải pháp mà cũng không phải phi pháp. Tại sao? Vì tâm gốc không phải có cũng không phải không. Nếu ngộ được rồi thì cũng như lúc chưa ngộ. Sao vậy? Bởi vì tâm ấy không tăng không giảm, không sanh không diệt. Lâu rồi chúng ta quên, bây giờ Phật tổ thiện tri thức chỉ cho nhận ra tâm sẵn có nơi mình. Như vậy ngộ là ngộ cái sẵn có, nên khi ngộ rồi giống như chưa ngộ. Vì sao? Vì ngộ cái sẵn có, không có gì mới cả. 

Ví dụ mình có một món đồ quý cất ở trong tủ, quên lửng không lấy ra xài, rồi đi tới đi lui tìm kiếm. Có người anh em trong nhà, biết mình cất chỗ đó chỉ cho liền lấy ra xài thì gọi là mới được. Nói mới được mà sự thật không phải được cái gì lạ, mà lấy lại món đồ cũ của mình đã để quên. Cũng vậy, ngộ là ngộ bản tâm sẵn có lâu nay mình bỏ quên, chứ sự thật thì không có gì khác lạ. Cho nên nói ngộ rồi đồng chưa ngộ. 

Không tâm cũng không pháp là tâm và pháp cả hai đều không. 

Ý bài kệ này nói người thấu suốt được bản tâm, biết bản tâm không phải có cũng không phải không, nên ngộ rồi cũng như chưa ngộ vì tâm và pháp cả hai đều không.

Sau khi được pháp, ngài du hóa các nơi tùy căn cơ giáo hóa chúng sanh. Một hôm, ngài đến Bắc Ấn chợt thấy trên thành có vầng mây màu vàng. Ngài ngó sang những người bên cạnh bảo:

- Đây là vượng khí Đại thừa. Trong thành này có bậc chí nhân nối pháp cho ta. 

Khi đi vào trong thành đến chợ, quả gặp người tay ôm bầu rượu, đón ngài hỏi:

- Tôn giả từ phương nào đến, muốn đi về đâu?

Ngài đáp:

- Ta từ tâm mình đến, muốn đi không chỗ.

- Tôn giả biết vật trong tay tôi chăng?

- Đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh.

- Tôn giả biết tôi chăng?

- Tôi thì chẳng biết, biết thì chẳng tôi.

Ngài lại bảo:

- Ngươi hãy nói tên họ ra, ta sẽ chỉ nhân đời trước cho ngươi.

Người ấy bèn nói kệ: 

Ngã kim sanh thử quốc,

Phục ức tích thời nhật.

Bản tánh Phả-la-đọa,

Danh tự Bà-tu-mật.

Dịch:

Nay tôi sanh nước này,

Lại nhớ ngày xa xưa.

Dòng họ Phả-la-đọa,

Tên là Bà-tu-mật.

Ngài nghe rồi nhớ lại duyên trước, bèn bảo Bà-tu-mật:

Thầy ta là Đề-đa-ca thường nói: “Xưa kia Như Lai du hóa Bắc Ấn có bảo A-nan: “Sau khi ta diệt độ khoảng ba trăm năm, ở nước này sẽ có vị thánh nhân ra đời, họ Phả-la-đọa tên Bà-tu-mật, làm vị Tổ thứ bảy của Thiền tông.” Đây là Như Lai thọ ký cho ngươi, ngươi nên xuất gia.

Bà-tu-mật liền để bầu rượu xuống đảnh lễ ngài. Đảnh lễ xong, đứng qua một bên thưa:

- Con nhớ lại kiếp xưa thường làm thí chủ cúng dường Phật một bảo tòa. Như Lai thọ ký cho con rằng: “Ngươi ở hiền kiếp sẽ được Phật pháp làm Tổ thứ bảy.” Nay gặp gỡ đây là cái duyên trước vậy, cuối xin Tôn giả đại từ thương xót độ thoát cho con.

Ngài liền vì ông cạo tóc xuất gia và cho thọ đầy đủ giới pháp.

Thấy tuổi đã già và cơ duyên hóa độ cũng xong, ngài truyền Chánh pháp lại cho Bà-tu-mật. Truyền xong, ngài thâu thần tịch diệt, Bà-tu-mật và môn đồ lượm xá-lợi để vào bình báu, xây tháp cao tôn thờ trên tầng chót để mọi người cúng dường.

Trong nhà Phật thỉnh thoảng có những việc hy hữu. Chúng ta tưởng rằng người nào muốn tu là trước phải ăn chay, tinh tấn niệm Phật rồi sau mới ngộ đạo và được truyền pháp, ngược lại vị này đang say rượu mà gặp cơ duyên liền ngộ đạo được làm Tổ sư. 

Một hôm ngài Di-dá-ca đi đến Bắc Ấn gặp một người ôm bầu rượu ở trong chợ đi ra mà không biết tên, đón ngài hỏi: 

- Tôn giả từ phương nào đến, muốn đi về đâu? Ngài đáp: - Ta từ tâm mình đến, muốn đi không chỗ.

Tổ nói rằng ta từ tâm đến, đi cũng không có chỗ chỉ trở về tâm thôi, đến không chỗ đến mà đi cũng không chỗ đi, đến đi đều không ngoài tâm. 

Nghe Tổ đáp không hiểu mà còn hỏi lại:

- Tôn giả biết vật trong tay tôi chăng?

Ngài đáp:

- Đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh.

Rượu uống vô thì làm tâm rối loạn mất thanh tịnh, cho nên ngài nói đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh. Ông hỏi:

- Tôn giả biết tôi chăng?

Tổ đáp:

- Tôi thì chẳng biết, biết thì chẳng tôi.

Câu trả lời này nghe rất thú vị. Tôi tức là ngã, nếu còn có ngã thì không biết, không biết tức là không giác, nên nói tôi thì chẳng biết. Nếu có giác thì không còn chấp ngã là phá được ngã chấp nên nói biết thì chẳng tôi. 

Nghe Tổ đáp như thế, người này cũng là hàng đại căn cho nên có phần tỉnh. Tổ bảo: Ngươi hãy nói tên họ ra để ta chỉ nhân đời trước của ngươi. Ông liền nói bài kệ:

Nay tôi sanh nước này,

Lại nhớ ngày xa xưa.

Dòng họ Phả-la-đọa,

Tên là Bà-tu-mật.

Nghe ông trả lời Tổ liền nói nhân duyên đời trước, Bà-tu-mật để bầu rượu xuống, đảnh lễ Tổ cầu xin xuất gia. Tổ vì ông cạo tóc xuất gia và cho thọ đầy đủ giới pháp, thọ ký làm Tổ thứ bảy.

Khi cơ duyên hóa độ đã mãn, Tổ truyền chánh pháp cho Bà-tu-mật. Truyền xong ngài thâu thần tịch diệt, Bà-tu-mật và môn đồ xây tháp tôn thờ xá-lợi trên tầng chót để mọi người cúng dường.

✵✵✵

VII- TỔ BÀ-TU-MẬT

Vasumitra

(Cuối thế kỷ thứ III sau Phật Niết-bàn)

Ngài họ Phả-la-đọa sanh trưởng tại miền Bắc Ấn. Khi còn tại gia, ngài thường mặc đồ sạch sẽ, tay cầm bầu rượu, đi dạo chơi trong xóm làng, có khi ngài ngâm thơ thổi sáo, người thường không sao hiểu nổi, họ bảo ngài là người điên.

Sau khi gặp tổ Di-dá-ca nói lại lời huyền ký của Như Lai, ngài liền tỉnh ngộ tiền duyên, ném bầu rượu phát nguyện xuất gia. Theo Tổ tu hành, ngài ngộ được tâm tông.

Một hôm, tổ Di-dá-ca gọi ngài căn dặn:

- Công hạnh của ta gần viên mãn, Chánh pháp nhãn tạng này trao lại cho ngươi, ngươi phải ân cần gìn giữ chớ để đoạn diệt. Hãy nghe kệ đây:

Vô tâm vô khả đắc,

Thuyết đắc bất danh pháp.

Nhược liễu tâm phi tâm,

Thủy giải tâm tâm pháp.

Dịch:

Không tâm không thể được,

Nói được chẳng gọi pháp.

Nếu rõ tâm phi tâm, 

Mới hiểu tâm tâm pháp.

Người ưa uống rượu ngâm thơ thổi sáo là người thích ăn chơi, chứ không phải ưa đạo đức. Thế mà khi gặp tổ Di-dá-ca, chỉ cần nhắc lại câu chuyện thuở quá khứ ngài liền tỉnh ngộ. Để thấy rằng dù cho người đang say mê theo thế tình dục lạc, mà có trí tuệ thì khi nhắc tới liền thức tỉnh, chứ không phải chỉ có người nghiêm chỉnh tu hành mới dễ thức tỉnh. 

Đây là trường hợp của ngài Bà-tu-mật, ngài là người thích uống rượu đi dạo chơi trong xóm làng, ưa ngâm thơ thổi sáo. Có người hiểu lầm bảo ngài là người điên, nhưng khi gặp tổ Di-dá-ca thuật lời huyền ký, nghe rồi liền tỉnh ngộ duyên xưa, bỏ hết sở thích của mình, ném bầu rượu phát nguyện xuất gia theo Tổ tu hạnh giải thoát, ngộ được tâm tông và được Tổ truyền trao chánh pháp làm Tổ thứ bảy. Sau đây là bài kệ truyền pháp:

Không tâm không thể được,

Nói được chẳng gọi pháp.

Nếu rõ tâm phi tâm, 

Mới hiểu tâm tâm pháp.

Không tâm không thể được, nói được chẳng gọi pháp. Tại sao truyền tâm mà lại nói vô tâm, rồi lại nói không thể được? Cái gì nói được thì không phải pháp, hay nói cách khác là không phải tâm. Tại sao? Ngôn ngữ chúng ta nói ra chỉ là những biểu tượng để diễn đạt, chứ không phải là thật thể. Ví dụ tôi nói cái đồng hồ là lời nói, còn cái đồng hồ là đồng hồ, chứ không phải tôi nói cái đồng hồ rồi lời nói biến thành đồng hồ. Vì vậy mà nói: pháp nói ra được không phải là pháp. 

Nếu rõ tâm phi tâm, mới hiểu tâm tâm pháp. Chúng ta thường nói tâm, nhưng sự thật hỏi tâm là gì thì mình sẽ lúng túng. Tâm nói theo nghĩa dễ hiểu nhất là cái biết, cái biết có hai loại, biết sanh diệt và biết không sanh diệt. Như suy nghĩ mà biết là biết theo sanh diệt, không suy nghĩ mà biết là biết không sanh diệt. Chúng ta thường lầm lẫn hai cái biết này cho nên ở đây nói: Nếu rõ cái biết chân thật, không phải cái biết sanh diệt thì mới hiểu tâm tâm pháp, người thấu suốt điều đó mới nhận ra được bản tâm.

Sau khi tổ Di-dá-ca nhập Niết-bàn, ngài đi hoằng hóa khắp nơi tuyên dương Chánh pháp. Khi đến nước Ca-ma-la, ngài lên pháp tòa giảng đạo, có một trí sĩ đến dưới tòa lớn tiếng tự xưng:

- Tôi là Phật-đà-nan-đề, hôm nay quyết luận nghĩa với Thầy!

Ngài bảo:

- Này nhân giả! Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận.

Nan-đề biết đây là người nói nghĩa thù thắng, khởi tâm kính phục thưa rằng:

- Con nguyện cầu đạo, được thưởng thức vị cam lồ. 

Ngài thương xót liền cho xuất gia thọ giới, không bao lâu truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề. 

Tổ đi hoằng hóa khắp nơi, khi đến nước Ca-ma-la, lên pháp tòa giảng đạo. Có một trí sĩ đứng dưới tòa lớn tiếng tự xưng: 

- Tôi là Phật-đà-nan-đề, hôm nay quyết luận nghĩa với Thầy.

Nghe như thế ngài đáp: 

- Này nhân giả! Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa trọn chẳng phải nghĩa luận.

Tại sao? Vì chữ nghĩa ở đây là chỉ cho chân lý bất sanh bất diệt, nếu luận để tìm ra chân lý bất sanh bất diệt thì không bao giờ đến được chân lý, nên nói nếu luận thì chẳng phải nghĩa. Đứng về mặt chân lý không thể nói bàn, vì dùng ngôn ngữ nói bàn không tới, cho nên ông vừa nghĩ luận nghĩa thì không có nghĩa để cho ông luận rồi, nên nói nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Phật-đà-nan-đề nghe Tổ đáp biết đây là bậc phi thường, lòng hết sức kính phục, liền lãnh hội ý chỉ cầu xin xuất gia tu hành. 

Chúng ta thấy người xưa khi đến với đạo không phải là tin đạo, mà có ý muốn tìm hiểu cho tường tận, nếu người có khả năng chinh phục được họ thì họ mới theo, chứ không như mình bây giờ nghe nói là tin liền. Người xưa khó tin nhưng tin rồi thì tin rất sâu, hiểu tới nơi tới chốn. Do đó đầu tiên mới gặp Tổ, Phật-đà-nan-đề nói chuyện ngang ngang coi như đối thủ, nhưng khi biết được người đó hơn mình liền phủ phục xin làm đệ tử. 

Tổ thương xót chấp nhận cho xuất gia thọ giới, không bao lâu truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề. 

Đã có người thừa kế, ngài dự định vào Niết-bàn, liền nhập Từ tam-muội để vào tịch định. Lúc đó Đế-thích, Phạm vương cùng chư thiên đồng đến đảnh lễ, nói kệ:

Hiền kiếp thánh chúng Tổ,

Nhi đương đệ thất vị.

Tôn giả ai niệm ngã,

Thỉnh vị tuyên Phật địa.

Dịch:

Hiền kiếp các thánh Tổ,

Ngài là vị thứ bảy.

Tôn giả thương xót con,

Thỉnh vì nói Phật địa.

Ngài xuất định và nói với họ rằng:

- Pháp ta đã được là không phải có. Nếu muốn biết Phật địa phải lìa có và không.

Nói xong, ngài vào tịch định thị hiện tướng Niết-bàn. Chư thiên nghe rồi hoan hỷ tán hoa trời, đảnh lễ. Nan-đề cùng đồ chúng trà-tỳ thân ngài, rồi lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.

Khi có người thừa kế, Tổ sắp Niết-bàn có Đế-thích, Phạm vương cùng chư thiên đồng đến đảnh lễ, nói kệ tán thán cầu xin nói về nghĩa Phật địa. Ngài liền nói pháp ta đã được là không phải có, nếu muốn biết Phật địa phải lìa có và không. Khi nói tới Phật địa tức là Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, chỗ đó không còn mắc kẹt ở hai bên là có và không, nếu còn mắc kẹt bên có bên không thì chưa đến đệ nhất nghĩa đế. 

Dạy xong, chư thiên nghe rồi hoan hỷ tán hoa trời đảnh lễ cúng dường. Ngài vào tịch định thị hiện tướng Niết-bàn, Nan-đề cùng đồ chúng trà-tỳ lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.

✵✵✵

VIII- TỔ PHẬT-ĐÀ-NAN-ĐỀ

Buddhanandi

(Đầu thế kỷ thứ IV sau Phật Niết-bàn)

Ngài họ Cù-đàm người nước Ca-ma-la. Thuở nhỏ trên đảnh ngài có cục thịt nổi cao, thường phát ra hào quang năm sắc xen lẫn. Ngài thông minh tuyệt vời, chữ nghĩa một phen xem qua là ghi nhớ. Năm mười bốn tuổi, ngài phát tâm xuất gia chuyên dùng hạnh thanh tịnh để tự tu.

Khi tổ Bà-tu-mật đến nước Ca-ma-la, ngài đến vấn nạn, nhân đó kính phục xin theo làm đệ tử. Tổ sắp Niết-bàn, gọi ngài đến phó chúc rằng:

- Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền bá chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ đây:

Tâm đồng hư không giới, 

Thị đẳng hư không pháp.

Chứng đắc hư không thời,

Vô thị vô phi pháp.

Dịch:

Tâm đồng hạn hư không, 

Chỉ pháp bằng thái hư.

Khi chứng được hư không,

Không pháp không phi pháp.

Ngài vâng giữ phụng trì.

Ngài Phật-đà-nan-đề là người mà ở trước đứng ra nghị luận hỏi pháp, và được tổ Bà-tu-mật chấp nhận, từ đó ngài xin theo Tổ xuất gia. Được Tổ truyền tâm pháp qua bài kệ:

Tâm đồng hạn hư không, 

Chỉ pháp bằng thái hư.

Khi chứng được hư không,

Không pháp không phi pháp.

Tâm thể này rỗng rang trùm khắp cả hư không, đã trùm khắp hư không thì trùm hết muôn pháp, cho nên nói tâm đồng hạn hư không, chỉ pháp bằng thái hư, tức là muôn pháp ở trong hư không, không pháp nào ngoài nó. Người tu chứng được tâm thể rộng lớn như hư không thì không thấy có pháp đối đãi, phải quấy tốt xấu hơn thua... Nên nói khi chứng được hư không, không pháp không phi pháp.

Sau khi đắc pháp, ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi. Đến nước Đề-già, ngài đi qua cổng nhà họ Tỳ-xá-la, chợt thấy trên nóc nhà có hào quang trắng xông lên hư không. Ngài chỉ cho chúng xem và bảo:

- Trong nhà này hiện có một vị thánh nhân, tuy miệng không nói một lời, chân không đi một bước, mà thật là bậc căn khí Đại thừa. Dù không ra ngoài đường mà biết việc xúc uế. Quả là người nối pháp cho ta, khiến Phật pháp hưng thịnh. Vị này sau sẽ độ năm trăm người chứng quả thánh. 

Ngài nói xong, có người trưởng giả trong nhà bước ra làm lễ thưa:

- Tôn giả cần điều gì dừng chân lại đây?

Ngài bảo:

- Ta đến tìm thị giả, chứ không cần gì.

Trưởng giả thưa:

- Nhà tôi đâu có người kỳ đặc mà Ngài tìm, chỉ có đứa con trai, tên Phục-đà-mật-đa không biết nói, không biết đi, tuổi đã năm mươi, nếu Ngài cần tôi cho, không tiếc.

Ngài bảo:

- Đứa con ông nói đó, chính là người tôi tìm.

Trưởng giả thỉnh ngài vào nhà. Phục-đà-mật-đa vừa trông thấy ngài liền trỗi dậy, chắp tay nói kệ:

Phụ mẫu phi ngã thân,

Thùy vi tối thân giả?

Chư Phật phi ngã đạo,

Thùy vi tối đạo giả?

Dịch:

Cha mẹ chẳng phải thân,

Ai là người chí thân?

Chư Phật phi đạo tôi,

Cái gì là tột đạo?

Ngài nói kệ đáp:

Nhữ ngôn dữ tâm thân,

Phụ mẫu phi khả tỷ.

Nhữ hạnh dữ đạo hợp,

Chư Phật tâm tức thị.

Ngoại cầu hữu tướng Phật,

Dữ nhữ bất tương tự.

Nhược thức nhữ bản tâm,

Phi hợp diệc phi ly.

Dịch:

Lời ngươi cùng tâm thân,

Cha mẹ không thể sánh.

Hạnh ngươi cùng đạo hợp,

Chư Phật chính là tâm.

Ngoài cầu Phật có tướng,

Cùng ngươi không chút giống.

Nếu biết bản tâm ngươi, 

Chẳng hợp cũng chẳng lìa.

Mật-đa nghe bài kệ xong rất hoan hỷ, bước xuống đảnh lễ ngài và đi bảy bước, một lòng thành khẩn xin xuất gia. Ngài chấp nhận cho xuất gia, liền triệu tập chúng hiền thánh làm lễ truyền giới Cụ túc. Sau đó, ngài lại dặn dò Mật-đa:

- Pháp nhãn của Như Lai thầm truyền đến đời ta, nay ta trao lại cho ngươi, ngươi nên truyền trao chớ đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:

Hư không vô nội ngoại,

Tâm pháp diệc như thử.

Nhược liễu hư không cố,

Thị đạt chân như lý.

Dịch:

Hư không chẳng trong ngoài,

Tâm pháp cũng như thế,

Nếu hiểu rõ hư không.

Là đạt lý chân như.

Mật-đa hân hạnh được truyền pháp vui mừng vô hạn, liền nói kệ khen ngợi:

Ngã sư thiền tổ trung,

Thích đương vi đệ bát.

Pháp hóa chúng vô lượng,

Tất hoạch A-la-hán.

Dịch:

Thầy tôi trong thiền tổ,

Hiện là vị thứ tám.

Giáo hóa chúng không cùng,

Thảy được quả La-hán.

Ngài truyền pháp xong, sắp vào Niết-bàn. Hôm ấy, đang ngồi trên bản tòa, ngài an nhiên thị tịch. Số chúng ngài độ có đến năm trăm vị chứng Nhị quả. Toàn chúng trà-tỳ hài cốt ngài, lượm xá-lợi xây bảo tháp tôn thờ.

Khi ngài đi hoằng hóa đến nước Đề-già gặp một người hết sức kỳ đặc tên là Phục-đà-mật-đa, tuổi đã năm mươi mà không biết nói, không biết đi. Chính vị này sau là thị giả của ngài.

Khi gặp Tổ, người này liền nói chuyện, mà nói bằng bài kệ:

Cha mẹ chẳng phải thân,

Ai là người chí thân?

Chư Phật phi đạo tôi,

Cái gì là tột đạo?

Câu hỏi thứ nhất: cha mẹ không phải người thân của tôi, vậy ai là người thân của tôi? Câu thứ hai: chư Phật không phải là đạo của tôi, cái gì là đạo rốt cùng của tôi? Qua hai câu hỏi chúng ta cũng biết ngài là người thế nào rồi. 

Tổ liền đáp: 

Lời ngươi cùng tâm thân,

Cha mẹ không thể sánh.

Hạnh ngươi cùng đạo hợp,

Chư Phật chính là tâm.

Ngoài cầu Phật có tướng,

Cùng ngươi không chút giống.

Nếu biết bản tâm ngươi, 

Chẳng hợp cũng chẳng lìa.

Lời ngươi cùng tâm thân, cha mẹ không thể sánh. Tổ dạy lời nói của ngươi cùng với tâm là thân, thân của ngươi đó là tâm chứ không phải là cha mẹ, tại sao vậy? Cha mẹ là người thân bằng xác thịt cũng ở ngoài mình, chỉ cái tâm mới gần gũi mình nhất. Cho nên cha mẹ không thân bằng Tâm, cái thân nhất là Tâm.

Hạnh ngươi cùng đạo hợp, chư Phật chính là tâm. Hạnh của ngươi cùng đạo hợp nhau, Phật tức là tâm của ông vậy. Ngoài cầu Phật có tướng, cùng ngươi không chút giống. Nếu tìm Phật ở bên ngoài, thì Phật đó cùng với ông không giống nhau. Nếu biết bản tâm ngươi, chẳng hợp cũng chẳng lìa. Nếu người đạt được bản tâm mới là cái tột cùng không hợp không lìa. 

Tóm lại ý bài kệ Tổ dạy Tâm là chí thân của ông, còn đức Phật là hình tướng bên ngoài, chỉ có đạt được bản tâm thì mới thật là đạo tột cùng. Như vậy những câu hỏi và đáp đều quy về bản tâm. Ngài liền đạt được sở nguyện và xin xuất gia tu hành. 

Sau đây là bài kệ truyền pháp:

Hư không chẳng trong ngoài,

Tâm pháp cũng như thế.

Nếu hiểu rõ hư không,

Là đạt lý chân như.

Bài kệ truyền pháp này, dùng hạn lượng của hư không để ví dụ cho chân tâm. Như cái nhà này, phần trống ở trong gọi là hư không ở trong, phần trống ở ngoài gọi là hư không ở ngoài. Nhưng hư không chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài, tại tấm vách nhà ngăn vậy thôi, do tưởng tượng đặt nó là trong là ngoài. Hư không chẳng có hình tướng, làm sao có vị trí mà nói là trong là ngoài! 

Thấy được bản tâm trùm khắp pháp giới thì tâm sanh diệt không có gì quan trọng. Nếu nhận rõ được lý tâm đồng với hư không thì mới thật sự đạt được lý chân như. Tuy bốn câu kệ ngắn nhưng chỉ dạy chúng ta biết được tâm thể trùm khắp pháp giới không hạn lượng, mà lâu nay chúng ta lầm lẫn cho rằng tâm ở trong thân. 

Mật-đa được truyền pháp vui mừng vô hạn, liền nói kệ tán thán:

Thầy tôi trong thiền tổ,

Hiện là vị thứ tám.

Giáo hóa chúng không cùng,

Thảy được quả La-hán.

Tổ truyền pháp xong an nhiên thị tịch. Số chúng ngài độ có đến năm trăm vị chứng Nhị quả. Toàn chúng trà-tỳ hài cốt, lượm xá-lợi xây bảo tháp cúng dường.

✵✵✵

IX- TỔ PHỤC-ĐÀ-MẬT-ĐA

Buddhamitra

(Cuối thế kỷ thứ IV sau Phật Niết-bàn)

Ngài họ Tỳ-xá-la ở nước Đề-già. Từ lọt lòng mẹ đến năm mươi tuổi chưa từng nói một lời, chưa từng đi một bước. Cha mẹ nghi nhân duyên gì mà ngài thế ấy. Đến khi gặp tổ Phật-đà-nan-đề nói duyên đời trước rằng: 

- Đứa bé này đời trước thông minh lắm, ở trong Phật pháp do lòng đại bi muốn làm lợi ích lớn cho chúng sanh, cho nên thường nguyện: “Nếu tôi sanh chỗ nào không bị tình phụ tử ràng buộc, tùy duyên lành kia liền được giải thoát.” Miệng nó không nói là tiêu biểu đạo không tịch, chân nó không đi là tiêu biểu pháp không đến đi.

Cha mẹ ngài nghe lời giải thích của Tổ sạch hết nghi ngờ, vui vẻ cho theo Tổ xuất gia.

Khi ra đời ngài không nói không đi tới năm mươi năm, cho nên cha mẹ nghi có tật bệnh. Đến khi gặp tổ Phật-đà-nan-đề nói nguyên do đời trước: Đứa bé này đời trước thông minh lắm, ở trong Phật pháp do lòng đại bi muốn làm lợi ích cho chúng sanh nên thường nguyện: Nếu tôi sanh chỗ nào, không bị tình phụ tử ràng buộc tùy duyên lành kia liền được giải thoát. Nguyện như vậy là nguyện lành, nên khi ra đời ngài được như nguyện, gặp Tổ độ cho xuất gia tùy duyên tu liền được giải thoát. 

Chúng ta không nên cho rằng nguyện gì được nấy, mà còn tùy theo có phước hay vô phước. Nếu vô phước dù có nguyện cũng không được như ý, đừng nghe Tổ nguyện rồi bắt chước. Khi nào mình có trí tuệ, có lòng đại bi thương chúng sanh thì nguyện mới được như ý, vì do tâm mà cảm ứng. 

Trong đạo Nho có câu: Nhân hữu thiện nguyện, thiên địa tùng chi, nghĩa là người có nguyện lành thì trời đất cũng theo. Hiểu như vậy để chúng ta cố gắng tu. Phật dạy người tu phát đại nguyện là do lòng từ bi muốn độ khắp chúng sanh, nên phát đại nguyện một đời làm chưa xong, những công hạnh tốt chưa được đầy đủ cho nên nguyện đời sau làm tiếp. 

Tại sao khi ngài ra đời không nói không đi đến năm mươi năm? Miệng không nói một tiếng là tiêu biểu đạo không tịch rỗng lặng, chỉ tâm thể chân thật của mỗi chúng ta. Tâm thể rỗng lặng vừa khởi niệm phát ra ngôn ngữ thì mất rỗng lặng rồi, mà ngôn ngữ là tướng sanh diệt, nói không hợp với đạo cho nên không nói. Chân không đi là tiêu biểu pháp không đến đi. Tâm thể chân thật không hình tướng mà trùm khắp, đã trùm khắp rồi thì đi đâu, không tướng thì chẳng nói đi đến. Hiểu vậy mới thấy lời của Tổ đơn giản mà chỉ được ý nghĩa sâu kín của đạo. 

Nghe lời giải thích của Tổ, cha mẹ vui vẻ cho ngài theo Tổ xuất gia. Sau khi xuất gia ngài được truyền giới pháp đầy đủ và được Tổ truyền tâm kệ phó pháp làm Tổ thứ chín.

Sau khi đắc pháp, ngài du hóa khắp nơi, sang Trung Ấn giáo hóa. Nơi đây có trưởng giả tên là Hương Cái. Ông này có người con trai tên là Nan Sanh, trưởng giả Hương Cái dẫn con đến yết kiến ngài. Đảnh lễ xong, Trưởng giả thưa:

- Thằng bé này ở trong thai mẹ ngót sáu mươi năm, do đó tôi đặt tên là Nan Sanh. Có một vị tiên đến coi tướng nó, rồi nói: “Thằng nhỏ này hẳn là tướng phi phàm, sẽ làm pháp khí Đại thừa, sau gặp Bồ-tát hóa độ.” Bởi có duyên lành nên nay gặp được Ngài, tôi nguyện cho nó theo Ngài xuất gia học đạo.

Ngài hoan hỷ nhận Nan Sanh cho xuất gia thọ giới. Trong buổi lễ xuất gia thọ giới bỗng có ánh sáng mát chiếu khắp chỗ Nan Sanh ngồi.

Cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, ngài kêu Nan Sanh lại dặn dò:

- Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải gìn giữ truyền trao, đừng cho đoạn dứt. Ngươi nhận lời ta dạy, hãy nghe kệ đây:

Chân lý bản vô danh,

Nhân danh hiển chân lý.

Thọ đắc chân thật pháp,

Phi chân diệc phi ngụy.

Dịch:

Chân lý vốn không tên,

Nhân tên bày chân lý. 

Nhận được pháp chân thật, 

Chẳng chân cũng chẳng ngụy.

Nói kệ xong, ngài bèn vào chánh định hiện tướng Niết-bàn. Chư thiên trỗi nhạc cúng dường. Nan Sanh cùng đồ chúng dùng dầu thơm gỗ chiên-đàn làm lễ hỏa táng chân thể của ngài. Hỏa táng xong lượm xá-lợi về tôn thờ nơi chùa Na-lan-đà.

Sau khi đắc pháp, Tổ đi giáo hóa khắp nơi, đến Trung Ấn gặp trưởng giả Hương Cái, có người con trai tên Nan Sanh, ông dẫn con đến yết kiến Tổ. Trưởng giả thưa: Thằng bé này ở trong thai mẹ sáu mươi năm mới sanh ra, tôi đặt tên là Nan Sanh. Bởi có duyên lành nên nay gặp Ngài tôi nguyện cho nó theo Ngài xuất gia học đạo. 

Tổ hoan hỷ nhận Nan Sanh cho xuất gia thọ giới. Cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, Tổ kêu Nan Sanh lại dặn dò truyền trao chánh pháp. Sau đây là bài kệ truyền pháp:

Chân lý vốn không tên,

Nhân tên bày chân lý. 

Nhận được pháp chân thật, 

Chẳng chân cũng chẳng ngụy.

Chân lý vốn không tên, nhân tên bày chân lý. Chân lý thì không có tên, nhưng không tên làm sao biết, nên tạm mượn giả danh để nương đó mà hiểu chân lý.

Nhận được pháp chân thật, chẳng chân cũng chẳng ngụy. Bản thể thì không đối đãi, nói chân là đối với ngụy, nói giả là đối với thật. Bản thể không sanh không diệt, vượt ra ngoài tất cả pháp đối đãi, làm sao nói chân nói ngụy. Vì vậy, khi nhận được pháp chân thật thì không còn nói chân nói ngụy.

Nhà thiền có câu “truyền đăng tục diệm”, nghĩa là trao đèn nối lửa, chỉ cho sự truyền thừa giữa Thầy và trò. Tại sao Thầy trò truyền pháp mà gọi là trao đèn nối lửa? Bởi vì đạo Phật lấy giác ngộ làm chỗ cứu cánh, mà giác ngộ là trí tuệ sáng suốt chân thật tuyệt đối. Trí tuệ sáng suốt chân thật là chỉ cho ánh sáng, nên thường mượn ngọn đèn ngọn đuốc tượng trưng. Như vậy, đạo Phật chủ trương người tu phải giác ngộ, nên truyền trí tuệ cho mọi người chứ không phải truyền lòng tin. 

Trọng trách của người xuất gia học Phật là làm sao cho ngọn đuốc của mình sáng tỏ, chúng ta là người đi trước phải học hiểu thực hành những lời Phật chỉ dạy, để truyền đạt cho người sau, nếu dừng là có tội làm cho Phật pháp đoạn dứt. Do đó khi truyền tâm ấn cho đệ tử, chư Tổ trao một bài kệ rồi nhắc phải ráng gìn giữ truyền trao đừng cho đoạn dứt, nếu đoạn dứt là người đó không tròn bổn phận. 

Khi cơ duyên đã mãn, Tổ vào chánh định hiện tướng Niết-bàn, Nan Sanh cùng đồ chúng dùng gỗ chiên-đàn ướp dầu thơm làm lễ hỏa táng, lượm xá-lợi tôn thờ nơi chùa Na-lan-đà. 

✵✵✵

X- TỔ HIẾP TÔN GIẢ

Pārśva

(Đầu thế kỷ thứ V sau Phật Niết-bàn)

Ngài tục danh là Nan Sanh, người Trung Ấn. Thân mẫu mang thai đến sáu mươi năm mới sanh ra ngài. Lúc ngài sắp sanh, thân phụ nằm mộng thấy một con voi trắng to trên lưng có chở một bảo tòa, trong bảo tòa có hạt minh châu, từ ngoài cửa đi vào chiếu sáng khắp nhà. Ông giật mình tỉnh giấc thì ngài ra đời. 

Sau gặp tổ Phục-đà-mật-đa độ cho xuất gia. Được xuất gia rồi ngài cần mẫn tu học cho đến quên ăn bỏ ngủ, suốt ngày đêm chưa từng đặt lưng xuống chiếu, như thế mãi cả đời. Vì thế, thời nhân gọi ngài là Hiếp Tôn Giả (Tôn giả hông không dính chiếu).

Học sử ngài Hiếp Tôn Giả là học hạnh tinh tấn. Ngài ở trong thai mẹ đến sáu mươi năm, nên khi sanh ra cha mẹ đặt tên Nan Sanh, là rất khó sanh. Ngài gặp tổ Phục-đà-mật-đa độ cho xuất gia. Từ đó ngài cần mẫn tu, quên ăn bỏ ngủ, suốt ngày đêm chưa từng đặt lưng xuống chiếu, như thế mãn cả đời. Vì vậy người đời gọi ngài là Hiếp Tôn Giả. 

Đây là tấm gương tốt để chúng ta noi theo, dù người trẻ hay già, xuất gia hay tại gia, hễ nói tu là phải quyết tâm. Không phải trẻ tu lơ mơ đợi già tu miệt mài như ngài Hiếp Tôn Giả. Trẻ tu lơ mơ đợi già tu rút, nhiều khi tu nửa chừng ngã ra chết, thì không tới đâu. Tuy tuổi già mà hiểu đạo rồi tinh tấn tu không trễ nải một phút giây nào, già tu vẫn kết quả. Cho nên trọng tâm của người tu là học đạo, hiểu đạo rồi phải cố gắng thực hành. Dù trẻ hay già nếu cố gắng tu đều có kết quả tốt như nhau. Vì ai cũng có khả năng giải thoát sanh tử. Cho nên chư tổ trong nhà Thiền có vị đi tu lúc mười mấy tuổi, có vị đi tu khi sáu bảy mươi tuổi, có vị thông minh học rộng có người dốt nát v.v... nhưng nếu ai quyết tâm tu thì cũng đạt đạo. 

Lãnh thọ chánh pháp xong, ngài đi vân du các nơi tùy cơ giáo hóa. Đến nước Hoa Thị, ngài tạm nghỉ dưới cây đại thọ. Khi ấy, ngài lấy tay chỉ xuống đất bảo chúng:

- Khi nào đất này biến thành màu vàng, sẽ có một thánh nhân vào hội. 

Ngài vừa dứt lời, đất liền biến thành màu vàng. Chốc lát có một thiếu niên con nhà giàu tên Phú-na-dạ-xa đến trước ngài đứng chắp tay. Ngài hỏi:

- Ngươi từ đâu đến?

Thanh niên thưa:

- Tâm con chẳng phải đến.

- Ngươi dừng chỗ nào?

- Tâm con chẳng phải dừng.

- Ngươi chẳng định sao?

- Chư Phật cũng thế.

- Ngươi chẳng phải chư Phật.

- Chư Phật cũng chẳng phải.

Ngài nhân đó nói bài kệ:

Thử địa biến kim sắc,

Dự tri ư thánh chí.

Đương tọa bồ-đề thọ,

Giác hoa nhi thành dĩ.

Dịch:

Đất này hóa sắc vàng,

Biết có thánh nhân sang.

Ngồi dưới cây bồ-đề,

Hoa giác nở hoàn toàn.

Phú-na-dạ-xa cũng đọc bài kệ:

Sư tọa kim sắc địa,

Thường thuyết chân thật nghĩa.

Hồi quang nhi chiếu ngã,

Linh nhập tam-ma-đề.

Dịch:

Thầy ngồi đất sắc vàng, 

Thường nói nghĩa chân thật.

Xoay ánh sáng chiếu con,

Khiến vào nơi chánh định.

Ngài biết ý Phú-na-dạ-xa lòng cầu đạo rất thiết tha, nên độ cho xuất gia và truyền giới Cụ túc.

Một hôm, ngài gọi Phú-na bảo:

- Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay trao cho ngươi, ngươi phải khéo lưu truyền chớ để dứt mất. Hãy nghe ta nói kệ:

Chân thể tự nhiên chân,

Nhân chân thuyết hữu lý.

Lãnh đắc chân chân pháp,

Vô hành diệc vô chỉ.

Dịch:

Chân thể đã sẵn chân,

Bởi chân nói có lý.

Hội được pháp chân chân,

Không đi cũng không dừng.

Truyền pháp xong, ngài ngay nơi chỗ ngồi thị hiện các tướng rồi vào Niết-bàn. Hỏa táng thân ngài xong có xá-lợi nhiều vô số, chúng phải lấy y bọc đem về kính thờ cúng dường.

Khi ngài lãnh thọ giáo pháp rồi đi đến đất Hoa Thị. Ở đây gặp một thiếu niên con nhà giàu tên Phú-na-dạ-xa đến trước ngài chắp tay. Ngài hỏi: Ngươi từ đâu đến? 

Nếu là người bình thường thì trả lời, con ở chỗ này chỗ kia đến, nhưng chú thiếu niên lại đáp: Tâm con chẳng phải đến. Trả lời có lạc đề không? Chú thiếu niên này cũng là người phi thường. 

Ngài hỏi: Ngươi dừng ở chỗ nào? Tâm con chẳng phải dừng. Không đến không dừng là không mắc kẹt hai bên. 

Ngài hỏi lại một câu để thiếu niên khẳng định: Ngươi chẳng định sao? 

Nếu ngươi không đến không dừng thì tâm ngươi không định. 

Thiếu niên đáp: Chư Phật cũng thế. Nói định một chỗ là tâm có giới hạn, không đến không dừng là tâm thênh thang, tâm con thênh thang. Tâm chư Phật cũng thế. 

Ngài hỏi lại: Ngươi chẳng phải chư Phật. Ngươi là phàm phu kia mà! 

Thiếu niên đáp: Chư Phật cũng chẳng phải. Nếu còn thấy Phật thấy phàm thì thấy hai, con không phải thì Phật cũng không phải luôn! 

Sự đối đáp giữa Tổ và thiếu niên mới nghe qua dường như lạc đề, nhưng hiểu sâu thì thấy người ấy đã hiểu đạo, vì không dính hai bên, không dính hai bên nên thấy tâm mình thênh thang. 

Nhân đó Tổ nói kệ:

Đất này hóa sắc vàng,

Biết có thánh nhân sang.

Ngồi dưới cây bồ-đề,

Hoa giác nở hoàn toàn.

Ngài đến để gặp người tuy chưa xuất gia mà hoa giác đã nở rồi, giống như Lục tổ Huệ Năng còn tóc mà vẫn được truyền y. 

Tổ nói kệ xong, Phú-na-dạ-xa cũng đọc bài kệ:

Thầy ngồi đất sắc vàng,

Thường nói nghĩa chân thật.

Soi ánh sáng chiếu con,

Khiến vào nơi chánh định.

Như vậy thầy và trò có sự cảm thông. Thầy đem trí tuệ soi cho trò, trò lãnh hội được trí tuệ đó gọi là truyền tâm ấn, chứ không có ấn nào ở ngoài. Ngài biết Phú-na-dạ-xa lòng tha thiết cầu đạo nên cho xuất gia rồi truyền giới Cụ túc. 

Khi sắp tịch, ngài nói kệ truyền pháp cho Phú-na-dạ-xa:

Chân thể đã sẵn chân,

Bởi chân nói có lý.

Hội được pháp chân chân,

Không đi cũng không dừng.

Pháp chân thật sẵn có nơi mỗi người, nó hằng chân chứ không phải do làm hay do duyên hợp, nên nói là chân lý. Hội được pháp chân chân, không đi cũng không dừng, vì tâm thể chân thật thì không còn đối đãi đi dừng. Người tu đạt đạo rồi không còn dính mắc trong đối đãi, tâm không còn một chút phiền não. Hết đối đãi thì không còn niệm thiện niệm ác để tạo nghiệp luân hồi trong đường lành đường dữ, như vậy là giải thoát sanh tử.

Đọc tiếp →
Mục Lục
Danh sách chương: