Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 22 - Thiền Tông Trung Hoa 7
Phần I: Các Giai Thoại Thiền
Đọc tiếp →

- Bà già!

Bà ứng thanh:

- Dạ!

Đại Đồng bảo:

- Vẫn còn.

Bà già vui vẻ ra về.

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 61)

✵✵✵

Thiền sư Cảnh Thanh đến tham vấn Huyền Sa, Sư thưa:

- Con mới đến tùng lâm, thỉnh Thầy chỉ lối vào.

Huyền Sa hỏi:

- Ông nghe tiếng nước Yển Khê chảy chăng?

- Nghe.

- Từ đây mà vào.

Cảnh Thanh đại ngộ.

✵✵✵

Thiền sư Bổn Như ở Thần Chiếu đến tham vấn tôn giả Pháp Trí. Sư hỏi:

- Thế nào là vua các Kinh?

Tôn giả bảo:

- Ông làm Tri khố ba năm, ta sẽ vì ông nói.

Sư vâng lệnh làm Tri khố. Mãn ba năm, lại thưa:

- Nay xin Hòa thượng nói.

Tôn giả gọi to:

- Bổn Như!

- Dạ!

Bỗng nhiên Sư khế ngộ, làm tụng:

Xứ xứ phùng quy lộ,

Đầu đầu thị cố hương,

Bản lai thành hiện sự,

Hà tất đãi tư lương.

Dịch:

Chốn chốn gặp đường về,

Nơi nơi vốn quê xưa,

Xưa nay việc bày hiện,

Nào phải đợi nghĩ suy.

(Nhân Thiên Bảo Giám)

✵✵✵

Thủ tọa Đạo Tổ ở chùa Chiêu Giác, Thành Đô. Sư tham vấn thiền sư Viên Ngộ đã lâu, nhân vào thất hỏi “Tức tâm thị Phật” liền có tỉnh. Viên Ngộ sai Sư trợ giúp việc giáo hóa.

Một hôm chúng vào thất, Sư hỏi một thiền khách:

- Sanh tử đến làm sao né tránh?

Thiền khách không đáp được. Sư ném cây phất tử xuống an nhiên thị tịch. Chúng thấy ngơ ngác chạy báo cho Viên Ngộ hay. Viên Ngộ đến gọi:

- Thủ tọa Tổ!

Sư mở mắt. Viên Ngộ bảo:

- Phấn phát tinh thần vượt cổng đi. 

Sư gật đầu, rồi tịch luôn.

(Nhân Thiên Bảo Giám)

✵✵✵

Vua Tống Hiếu Tông đến chùa Linh Ẩn, ngự tại phương trượng. Vua thấy bức họa hình của thiền sư Phật Hải Huệ Viễn treo trên vách, liền hỏi:

- Hình của ai?

Phật Hải tâu:

- Hình bần tăng do học giả họa để xin bài tán.

Vua hỏi:

- Đây là bức họa, còn cái chân thật ở đâu?

Phật Hải cung kính tâu:

- Gió xuân mát mẻ, kính chúc Hoàng thượng muôn phước.

Vua vui vẻ nói:

- Thiên tử vì pháp cầu người, Thiền sư quên thân vì nước.

✵✵✵

Thiền sư Duy Tắc hiệu Thiên Như. Nhân ngày kỵ tổ Trung Phong, vì chúng phổ thuyết:

- Tổ ý giáo ý, tông thông thuyết thông, lấy gậy khều trăng, dùng dây trói gió, đâu giống cây gậy hình núi, dữ như cọp, linh hoạt tợ rồng, ba mươi năm trước từng ở trong núi Thiên Mục, hút cạn nước biển cả, đánh ngã ngọn Tu-di. Về sau chạy trốn ẩn trong đất không âm dương, trên trời dưới đất tìm không thấy dấu vết. Hừm! Hừm! Ai nói tìm không thấy dấu vết? Chính nay thấy mặt gặp nhau.

Sư chợt đưa gậy, nói: 

- Chẳng phải cái này sao? Tương tợ na ná chẳng đồng. Nếu trong chúng có người không cam chịu chẳng ngại giật lấy bẻ làm hai khúc, khỏi ở trước người khoác lác. Nếu không có người như thế thì bỏ qua một nước.

Dành cho người đi đêm lạc lối,

Xỏ ngang nhật nguyệt làm lồng đèn. 

Sư giộng gậy gọi chúng nói:

- Hôm nay ngày mười bốn tháng tám là ngày nhập Niết-bàn của hòa thượng Trung Phong Phổ Ứng quốc sư. Trong chúng có nhiều người là đệ tử của ngài, đã từng được ngài khai phát. Ngoài ra chỉ có một nhóm người sau chưa nghe chưa biết lai lịch của ngài. Hãy nghe tôi nhắc sơ lược:

Hòa thượng quê ở Tiền Đường, năm hai mươi bốn tuổi lên núi Thiên Mục xin hòa thượng Cao Phong xuất gia, tham cứu thấu rõ việc lớn sanh tử. Việc lớn sanh tử đã rõ, tuệ đời trước chóng phát, bèn đem pháp đã được giáo hóa mọi người. Ấy là bậc Tông sư truyền pháp đời thứ 18 của phái Lâm Tế. Xét ngài hai ba mươi năm làm sư tử rống, nói ngang nói dọc khắp thiên hạ, vốn không có ý khác, chỉ vì mọi người dưới gót chân có việc lớn sanh tử mà chưa từng thấu rõ, nên không tiếc khẩu nghiệp khuyên các ông rõ đi.

Đến nay ngài Niết-bàn gần ba mươi năm, mà Sư Tử Lâm tôi mỗi năm vào ngày này vì lập tòa cao, trưng di ảnh ngài lên, hội các người đến chiêm lễ, cũng không có ý khác. Bởi muốn những người trước đã từng thấy ngài, nay lại thấy như xưa để phát đạo tâm, những người mới thấy mới nghe cũng phát đạo tâm rõ thấu sanh tử. Các ông nếu không hiểu ý này, chẳng phát đạo tâm, là các ông cô phụ bậc thiện tri thức, là các ông không biết việc lớn sanh tử. Nói các ông không biết đã là xem thường các ông. Việc sanh tử là cái gì mà không biết? Phàm có sanh quyết định có tử, sau khi tử theo nghiệp thọ báo. Huống là trước mắt thường thấy người chết, chết rồi thiêu rồi. Cổ giáo nói: 

Ngã kiến tha nhân tử,

Ngã tâm nhiệt như hỏa,

Bất thị nhiệt tha nhân,

Khán khán hựu đáo ngã.

Dịch:

Ta thấy người khác chết, 

Tâm ta nóng như lửa, 

Chẳng phải nóng vì người, 

Sắp tới lượt ta mất. 

Giống như câu nói này, tại sao không biết được? Biết thì vẫn biết, chỉ là không chịu tu hành. Nói các ông không chịu tu hành cũng là khi dễ các ông. Hiện tiền chư Đại đức phần nhiều đã từng trải giang hồ, tham vấn các bậc thiện tri thức, hạ thủ công phu tu hành chỉ là chưa đến chỗ ngàn thông trăm ổn. Lỗi tại chỗ nào? Lỗi tại chẳng dũng mãnh, chẳng tinh tấn, chẳng kiên cố, chẳng lâu dài, tạm thời phát tâm nhận chịu, chưa bao lâu lại thối lui. Sở dĩ nói: “Phật pháp không nhiều, người bền lâu khó có, học đạo như tâm ban đầu, thành đạo có thừa, trước sau chẳng đổi, thật là đại trượng phu.” Như hiện nay có được mấy người trước sau chẳng đổi? Thường thường năm cặp thì mười người thối đạo tâm. Xét lý do thối tâm của họ, mỗi người có sự ràng buộc riêng. Chỗ ràng buộc có ba thứ:

Thứ nhất, không luận tăng tục nam nữ mỗi mỗi đều bị thân khẩu ràng buộc.

Kế là, người có quyến thuộc bị quyến thuộc ràng buộc.

Thứ ba, người có gia nghiệp bị gia nghiệp ràng buộc.

Ba thứ ràng buộc này ràng buộc tất cả người. Tất cả người đời bị ba thứ ràng buộc này mà bận rộn hết một đời, ồn náo hết một đời, khổ lụy suốt một đời, vô ích một đời qua suông một đời. Huống là nhân ba thứ ràng buộc này khởi lên vô lượng tham sân si, tạo vô lượng nghiệp ác lớn nhỏ. Do nghiệp báo này rơi trong khổ hải tam đồ bát nạn, sanh tử luân hồi chịu vô lượng khổ não không được giải thoát. Tuy chịu vô lượng khổ não chỉ là trước sau không tỉnh, cái khổ chẳng tỉnh ấy bởi họ không ngộ vậy. Chẳng ngộ cái gì? Là chẳng ngộ thân thể, quyến thuộc, gia nghiệp... đều không phải là của mình.

Như hiện nay nói thân thể chẳng phải là ông, ông còn chưa tin. Sơn tăng dứt khoát sẽ vì ông nói rõ từ đầu. Ban đầu ông vào trong thai mẹ, khi vào thai chỉ riêng một cái thần thức, đâu từng có thân thể đến. Thân thể này là do tinh cha huyết mẹ kết hợp mà thành, chỉ là một khối thịt không có tri giác, chẳng biết đau chẳng biết ngứa, chẳng biết lạnh chẳng biết nóng, chẳng biết đói chẳng biết no, chẳng biết khổ chẳng biết vui. Nhân thức thần của ông gá vào khối thịt ấy, từ đây biết đau ngứa, biết lạnh nóng, biết đói no, biết khổ vui. Đến khi ra khỏi thai liền nhận lấy nó gọi là thân ta. Nếu nói thân không phải của ta, quyết định chẳng tin.

Bởi thế, Phật tổ thương xót đắng miệng nói với các ông: “Cái này không phải thân của ông, nó là cái đãy da thối do tinh huyết kết thành, chẳng thuộc ông quản lý, chẳng do ông sắp đặt, cho đến sanh già bệnh chết chẳng do ông xử phân!” Vì sao biết như vậy? Vả như buổi đầu ông đi vào thai mẹ, bảy ngày một phen đổi, dần dần sanh trưởng. Nào là ngũ tạng lục phủ, bách hài cửu khiếu, tứ chi lục căn, gân xương da thịt từ từ thành hình, đến khi ra khỏi thai đều là do gió nghiệp thổi, sức nghiệp điều khiển, ông hoàn toàn không hiểu không biết, đâu từng do ông sắp đặt. Sau khi sanh ra nuôi lớn đến ba bốn mươi tuổi, tóc bạc răng lay, da nhăn mặt vàng, dần dần biến đổi, dần dần già đến. Già suy trước đến, bệnh theo đó đến. Bệnh đã đến, chết liền theo sau. Biến hoại như thế, mỗi mỗi đều chẳng do ông, ông vốn chẳng mong như thế làm sao quản lý được nó?

Huống nữa, ông từ sanh đến chết trên cái đãy da thối này, đã dùng bao nhiêu thứ ân ái tình nghĩa, bao nhiêu thứ bảo dưỡng nó, bao nhiêu thứ gìn giữ nó, bao nhiêu thứ thuốc thang điều trị nó, mà nó lại quên ơn phụ nghĩa. Như thế nó lại bị người ghét. Vì sao bị người ghét? Như tháng mùa hè nóng bức, có người khỏe mạnh, chợt vừa chập tối phát bệnh cấp bách, sau đó liền tắt thở. Tắt thở đến khoảng giữa đêm, mùi hôi xông đến những người bên cạnh, họ vội vàng dùng quan tài đựng rồi đậy lại, chưa đến sáng đã gấp gấp đem đi thiêu. Dù là những người quyến thuộc chí thân chí ái cũng không cho để lại lâu. Lấy đây mà xét, hôm qua mới chiều còn là người mạnh, hôm nay sớm thành một nắm xương tro, không biết thức thần của họ đã đi về đâu? Sự đổi thay nhanh chóng này trọn chẳng do ông. Đã là thân thể của ông lý đáng phải do ông quản lý. Đã chẳng do ông quản lý, tại sao vọng nhận nó là thân của ông, từ đó bị nó ràng buộc làm lui sụt đạo tâm?

Quyến thuộc của ông cũng thế, họ và ông đồng mang một đãy da thối, họ và ông đều chẳng tự do, họ và ông đều quản lý chẳng được, cơn vô thường đến họ và ông đều chẳng thể thay nhau. Ngày thường trước mắt họ và ông bị ân tình ràng buộc gọi là quyến thuộc, sau khi nhắm mắt thì ông và họ không còn biết nhau. Thế mà tại sao vọng nhận họ làm quyến thuộc, bị họ ràng buộc phải thối thất đạo tâm?

Gia nghiệp của ông cũng vậy, khi còn khỏe mạnh tính toán kinh doanh quý tiếc giữ gìn, cho là sẽ thọ dụng trăm ngàn muôn năm. Ai biết một hơi thở chẳng hít vào thì một mảy tơ đem đi chẳng được. Tại sao lại nhận gia nghiệp của ông, bị nó trói buộc phải thối thất đạo tâm? Đã trải qua nhiều đời bị cái gì sai khiến đó ư?

Hôm nay quý vị đã nghe lời này, cần phải hồi quang chiếu phá, tự tỉnh ngộ ba thứ ràng buộc trên đây, chớ nhận chớ luyến chớ tham đắm, giữ phận an định hồn nhiên qua ngày. Lại phải xoay lại niệm đầu, nhằm trên việc sanh tử phấn phát dũng mãnh tinh tấn tìm đến chỗ sáng tỏ. Gần đây trong chúng có nhiều người ngu muội, thường thường do tâm nhỏ hẹp sanh kiến chấp đoạn diệt. Họ cho rằng lìa ngoài ba thứ trên thì không có chỗ nương tựa, do đó trước mắt buông xả chẳng được. Sao không nghĩ thái tử Tất-đạt-đa sanh trong vương cung, thân đủ ba mươi hai tướng tốt, lấy chủng tộc tôn quý làm quyến thuộc, lấy giàu sang trên thiên hạ làm gia nghiệp, so với các ông hơn kém nhiều ít? Thế mà thái tử Tất-đạt-đa trọn không quyến luyến, một hôm bỏ ân cắt ái, cạo tóc hủy hình, trốn vào chốn sâu trong núi Tuyết, thân thể đói khát gân cốt nhọc nhằn, khổ hạnh đến sáu năm để cầu Phật đạo. Sau khi thành đạo quả báo theo đó, ở trong hội Hoa Nghiêm trên tòa trang nghiêm bách bảo, hiện thân tôn đặc công đức vô tận tự tha thọ dụng, ấy là Báo thân. Bốn mươi mốt vị, mỗi vị có vô lượng vi trần số pháp thân Bồ-tát vây quanh thưa hỏi, ấy là Quyến thuộc. Vô biên thế giới Hoa Tạng Hải lớp lớp không cùng lẫn nhau không ngại, đó là Báo độ. Do nơi quả mà xét đến nhân, bởi ngài sớm tỉnh ngộ, phát đại dũng mãnh, dẹp bỏ ba thứ nghiệp ràng buộc, cần khổ tu hành nên hay cảm ba thứ quả báo thù thắng này. Giả sử khi ngài ở vương cung, tham luyến việc trước mắt buông bỏ chẳng được thì đâu có được quả báo trang nghiêm thù thắng như thế. Việc này mỗi người đều có phần, mỗi người đều làm được, bỏ được liền làm được chẳng thiếu một mảy tơ. Kẻ sợ rơi vào Không, phải thấy rõ chỗ này mà thầm tỉnh.

Duy Tắc tôi nhân ngày kỵ Tiên sư, chúng thỉnh phổ thuyết, từ chối không được, bất đắc dĩ mượn tòa Tiên sư vì chúng nêu bày. Tự hổ thẹn bất tài không thể niêm tụng cơ duyên cổ kim, đề trì cương yếu hướng thượng, lại nói ba hoa thao thao, phát ra bao nhiêu lời cạn cợt quê mùa, làm nhục Tiên sư, làm trò cười cho hàng tác gia. Tuy nhiên, nếu là tác gia thì chẳng nên cười, vì:

Một bản nhạc đồng quê,

Vui buồn người tự khác.

(Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển 9)

✵✵✵

Thiền sư Lương Giới ở Động Sơn. 

Thư từ biệt cha mẹ, lược đại ý:

Được nghe chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sanh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ơn dưỡng dục, đều thọ đức che chở.

Song mà, tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường, chưa lìa sanh diệt. Tuy ơn bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền chắc. Trong Hiếu Kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để cung hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi nhau vào vòng trầm luân chịu muôn kiếp luân hồi.” Muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng sông ái sanh tử, vượt qua khỏi biển khổ, đáp ơn cha mẹ ngàn đời, đền công từ thân muôn kiếp, bốn ơn ba cõi thảy đều đền đáp. Kinh nói: “Một đứa con xuất gia, chín họ đều sanh lên cõi trời.” Con thệ bỏ thân mạng đời này, chẳng trở về nhà, đem căn trần muôn kiếp chóng tỏ sáng Bát-nhã.

Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, ý chớ trông mong, học theo gương phụ vương Tịnh Phạn và thánh mẫu Ma-da. Hẹn đến sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật, còn hiện nay cam chịu lìa nhau. Con chẳng phải quên ơn dưỡng dục, chỉ vì “thời giờ chẳng đợi người”. Cho nên nói: “Thân này chẳng hướng đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này?”

Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong. 

Tụng rằng:

Vị liễu tâm nguyên độ sổ xuân,

Phiên ta phù thế mạn thuân tuần,

Kỷ nhân đắc đạo Không môn lý,

Độc ngã yêm lưu tại thế trần.

Cẩn cụ xích thư từ quyến ái,

Nguyện minh đại pháp báo từ thân,

Bất tu sái lệ tần tương ức,

Thí tự đương sơ vô ngã thân.

Dịch:

Chưa rõ nguồn tâm qua mấy năm,

Thương thay mê mải luống trì trầm,

Cửa Không đã lắm người đắc đạo,

Riêng ta trì trệ ở trong trần.

Xin viết thư này từ cha mẹ,

Nguyện thông đại pháp báo từ thân,

Chớ nên rơi lệ thường thương nhớ,

Xem tợ buổi đầu con không thân.

Thư sau

Con từ lìa cha mẹ chống tích trượng dạo phương Nam, tháng ngày trôi qua thoáng chốc mười năm, trên đường con đã trải qua muôn dặm.

Cúi mong mẹ đem hết tâm ý hướng về Phật pháp, đừng ôm ấp tình ly biệt, chớ đứng tựa cửa trông con. Mọi việc trong nhà tùy thời sắp đặt, việc nhiều thì phiền não thêm nhiều. Phần anh thì nên tận tâm hiếu thuận, học đòi gương Vương Tường nằm giá, còn em thì hết sức bắt chước Mạnh Tông khóc măng. Phàm người ở đời phải biết tu thân hiếu đễ mới hợp lòng trời. Kẻ làm tăng trong cửa không thì mộ đạo tham thiền để đáp ơn cha mẹ.

Ngày nay hai đường xa cách muôn sông ngàn núi, mượn giấy mực viết vài hàng để tỏ bày tấc dạ. 

Tụng rằng:

Bất cầu danh lợi bất cầu Nho,

Nguyện nhạo Không môn xả tục đồ.

Phiền não tận thời sầu hỏa diệt,

Ân tình đoạn xứ ái hà khô.

Lục căn giới định hương phong dẫn,

Nhất niệm vô sanh tuệ lực phò.

Vị báo Bắc đường hưu trướng vọng,

Thí như tử liễu thí như vô.

Dịch:

Chẳng cầu danh lợi, chẳng cầu Nho,

Ưa thích cửa Không bỏ thế đồ.

Phiền não hết rồi lửa sầu tắt,

Ân tình dứt bặt, sông ái khô.

Sáu căn giới định gió thơm cuốn,

Một niệm vô sanh sức tuệ phò.

Xin nhắc mẹ già thôi buồn ngóng,

Ví con đã chết, ví như không.

Thư gửi mẹ

Mẹ cùng con đời trước có nhân duyên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu thần khấn Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng mạng sống chỉ mành, sanh con được toại nguyện quý như châu bảo. Không nề phân uế hôi hám, chẳng ngại bú sú nhọc nhằn. Con vừa thành người dắt đến trường học tập. Hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ tựa cửa trông mong.

Con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, mẹ già, anh yếu em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ, chớ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ. Khổ thay! Khổ thay!

Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chí nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh Lan khắc cây, chỉ mong con như tôn giả Mục-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy e phải có tội. Con cần phải giải quyết cho xong.

(Quân Châu Động Sơn Ngộ Bản Thiền Sư Ngữ Lục)

✵✵✵

Hòa thượng Say

Thượng tọa Pháp Minh ở chùa Khai Nguyên - Hình Châu, là đệ tử thiền sư Báo Bổn Hữu Lan dòng Vân Môn, chưa bao lâu thầm được pháp nhẫn. Sau trở về quê, thích lang thang, thường uống rượu đánh bạc, mỗi lần quá say hát mấy bài Liễu từ, ngày nào cũng thế, dân làng xem thường Sư. Được mời thọ trai Sư cự, mời uống rượu Sư vui. Hơn mười năm như vậy, mọi người đều gọi là Hòa thượng Say. Một hôm Sư bảo chúng trong chùa:

- Sáng mai ta sẽ đi, các ông đừng đi đâu.

Chúng cười thầm. Sáng hôm sau, Sư đắp y lên tòa kêu to:

- Ta đi đây! Nghe ta nói kệ.

Chúng chạy ào đến xem. Sư nói:

Bình sinh túy lý điên quyết,

Túy lý khước hữu phân biệt,

Kim tiêu tửu tỉnh hà xứ?

Dương liễu ngạn, hiểu phong tàn nguyệt.

Dịch:

Bình sinh say sưa té ngã,

Trong say lại có phân biệt,

Tối nay rượu tỉnh đi đâu?

Bờ dương liễu trăng tàn gió sớm.

Nói xong Sư ngồi yên thị tịch, tới lay thì đã đi rồi.

(Phật Tổ Cương Mục – quyển 37)

✵✵✵

Lưu đạo giả. Sư hiệu Tu Diễn ở chùa Đông Sơn - Dự Chương. Sư đắc pháp với Thạch Môn Khiêm, có kệ rằng:

Vị ngộ chi nhật yếu tham thiền,

Nhất kiến Thạch Môn tiện thản nhiên.

Mông sư chỉ cá chân tiêu tức,

Phương tri diêm hàm thố thị toan.

Dịch:

Ngày chưa ngộ đạo cần tham thiền,

Gặp Thạch Môn rồi liền thản nhiên.

Nhờ sư chỉ rõ tin tức thật,

Mới hay muối mặn giấm chua lè. 

Từ đó Sư chuyên tu hạnh đầu-đà, mùa hạ ban đêm thường cởi trần để bố thí máu cho muỗi. Có người đem y cúng dường Sư, Sư cúng cho vị khác. Sư làm kệ:

Tứ thập niên lai thường tiển túc,

Bất thế đầu hề bất tháo dục,

Quận quan vị ngã hoán y sam,

Chỉ khủng bình sinh nguyện bất túc.

Dịch:

Bốn chục năm liền thường chân trần,

Chẳng cạo đầu chừ chẳng tắm thân,

Quan quận vì tôi đổi chiếc áo,

Chỉ ngại chẳng đủ nguyện bình sinh.

Sau Sư ngồi kiết già thị tịch và nhập tháp nguyên trạng.

(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển thượng)

✵✵✵

Tăng hỏi Triệu Châu: 

- Được nghe Hòa thượng thân thấy Nam Tuyền phải không?

Triệu Châu đáp:

- Trấn Châu sản xuất củ cải to.

Quốc sư Nhất Sơn bình:

La bặc thân tằng xuất Trấn Châu,

Môn tiền thiên cổ lộ du du,

Triêu triêu mộ mộ nhân lai khứ,

Kỷ cá thân tằng đáo địa đầu.

Dịch:

Củ cải chính từng xuất Trấn Châu,

Đường xưa trước cửa tít xa mù,

Chiều chiều sớm sớm người qua lại,

Mấy ai từng đến chốn này đâu!

(Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục – quyển thượng)

✵✵✵

Quốc sư Phật Quang Viên Mãn Thường Chiếu, năm Ất Hợi rũ áo về chùa Năng Nhân núi Nhạn Đãng, Ôn Châu. Năm sau, quân Nguyên kéo đến, chúng đều chạy hết. Sư không đi, một mình ngồi trong chùa. Quân Nguyên lấy dao kề cổ, thần sắc Sư không thay đổi, liền nói kệ:

Càn khôn vô địa trác cô cung,

Hỷ đắc nhân không pháp diệc không,

Trân trọng Đại Nguyên tam xích kiếm,

Điển quang ảnh lý trảm xuân phong.

Dịch:

Không đất cắm dùi khắp càn khôn, 

Mừng được người không pháp cũng không,

Xin thỉnh Đại Nguyên ba thước kiếm,

Trong ánh chớp lòe chém xuân phong.

Quân Nguyên nghe xong, hối hận rút lui.

(Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục – quyển 9)

✵✵✵

Thiền sư Mân ở Viên Thông, Nội hàn Phạm Công đến viếng Sư, Nội hàn than:

- Tuổi sắp già rồi, rơi vào hàng quan lại, cách việc này hơi xa.

Sư liền gọi: 

- Nội hàn!

Ông ứng thanh:

- Dạ!

Sư bảo:

- Đâu có xa.

Ông vui mừng nói:

- Xin Thầy chỉ dạy thêm.

Sư nói:

- Đây cách Hồng Đô bốn chặng đường.

Nội hàn suy nghĩ, Sư bảo:

- Thấy thì liền thấy, suy nghĩ là sai.

Nội hàn rất vui, từ đây có chỗ vào.

*

Gián nghị Bành Nhữ Lâm chép kinh Quan Âm đến tặng Sư, Sư đưa lên hỏi:

- Cái này là kinh Quan Âm, cái nào là kinh Gián nghị?

Bành thưa:

- Đây là chính tôi chép.

Sư bảo:

- Chép là chữ, cái nào là Kinh?

Bành cười thưa:

- Lại hiểu không nổi.

Sư bảo:

- Liền hiện thân tể quan mà vì nói pháp.

Bành thưa:

- Người người có phần.

- Chớ chê bai Kinh.

Bành thưa:

- Thế nào là phải?

Sư đưa quyển Kinh lên chỉ ông. Bành vỗ tay cười to nói:

- À!

Sư bảo:

- Vậy mà nói chẳng hiểu nổi!

Bành đảnh lễ.

(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)

✵✵✵

Lược truyện Phó đại sĩ

Phó đại sĩ còn gọi là Thiện Huệ đại sĩ. Ngài sanh ngày mùng 8 tháng 5 năm Đinh Sửu, nhằm niên hiệu Kiến Võ năm thứ tư (497 TL) nhà Tề, trong gia đình Phó Tuyên Từ ở làng Song Lâm, làm nghề nông. Ngài tên tục là Hấp, mẹ họ Vương.

Năm mười sáu tuổi, ngài thành hôn với con gái nhà họ Lưu là Diệu Quang. Sau này sanh hai người con trai là Phổ Kiến và Phổ Thành.

Năm hai mươi bốn tuổi, Đại sĩ gặp vị tăng ở Ấn Độ hiệu Tung Đầu-đà bảo ngài rằng:

- Tôi cùng ông đã phát thệ nguyện độ sanh thời Phật Tỳ-bà-thi, nay ở cung Đâu-suất y bát hiện còn, đến bao giờ mới trở về?

Vị tăng liền bảo ngài đến bờ hồ xem bóng sẽ thấy. Ngài xem thấy bảo cái và vòng hào quang của mình, liền ngộ nhân duyên trước. Ngài cười nói với Đầu-đà:

- Trong lò rèn còn nhiều sắt thô, cửa thầy thuốc còn nhiều con bệnh, độ sanh là việc gấp, đâu rảnh mà nghĩ cái vui kia.

Đầu-đà chỉ chỗ hai cây cao vót trên núi Tùng, bảo:

- Nên ở chỗ đó.

Đại sĩ liền dẫn cả gia đình vào núi Tùng, dưới hai cội tùng lớn cất am để hiệu là “Song Lâm thọ hạ đương lai giải thoát Thiện Huệ đại sĩ”. Ở đây Đại sĩ cùng gia đình trồng tỉa lấy mà ăn, ngày làm đêm tu, suốt bảy năm như thế.

Một hôm Đại sĩ đang ngồi yên bỗng thấy ba đức Phật: Phật Thích-ca, Phật Kim Túc, Phật Định Quang từ phương đông đi đến phóng hào quang sáng như ban ngày. Đại sĩ lại thấy hào quang trên trời tụ họp xung quanh ngài. Từ đây về sau có khi Đại sĩ bảo đồ chúng: “Ta được Thủ-lăng-nghiêm Tam-muội” hoặc “ta được Vô lậu trí”. Tăng tục bốn phương nghe tiếng lần lượt kéo đến tụ tập rất đông. Am này trở thành ngôi già-lam sung thịnh. Đại sĩ giáo hóa bà Diệu Quang và hai người con đều xuất gia làm tăng.

Đến giữa niên hiệu Đại Thông thứ sáu (534 TL) nhà Lương, Đại sĩ đến triều kiến vua Lương Võ Đế. Một hôm vua thỉnh Đại sĩ giảng kinh Kim Cang. Đại sĩ vừa đăng tòa liền cầm thủ xích vỗ trên bàn một cái rồi xuống. Nhà vua ngạc nhiên. Chí Công tâu:

- Bệ hạ hội chăng?

Vua nói:

- Chẳng hội.

Chí Công tâu:

- Đại sĩ giảng Kinh xong.

*

Một hôm Đại sĩ đầu đội mũ Đạo sĩ, thân mặc ca-sa, chân mang giày Nho đi vào triều. Vua hỏi:

- Là Tăng ư?

Đại sĩ chỉ cái mũ. Vua hỏi:

- Là Đạo sĩ ư?

Đại sĩ chỉ đôi giày. Vua hỏi:

- Là thế tục ư?

Đại sĩ chỉ ca-sa.

Niên hiệu Thái Kiến năm đầu (569 TL) nhà Trần, ngày 24 tháng 4, Đại sĩ quy tịch, thọ 73 tuổi. Những tác phẩm còn lưu lại là: Tứ Thời Thi, Tâm Vương Minh, Hoàn Nguyên Thi, Phù Âu Ca, Hành Lộ Nan, Hành Lộ Dị...

*

Kệ tụng của Phó đại sĩ

Dạ dạ bão Phật miên,

Triêu triêu hoàn cộng khởi,

Khởi tọa trấn tương tùy,

Ngữ mặc đồng cư chỉ.

Tiêm hào bất tương ly,

Như thân ảnh tương tự,

Dục thức Phật khứ xứ,

Chỉ giá ngữ thanh thị.

Dịch:

Đêm đêm ôm Phật ngủ,

Sáng sáng cùng Phật dậy,

Đứng ngồi thảy theo nhau,

Nói nín đồng tư thái.

Mảy may cũng chẳng rời,

Dường như hình bóng vậy,

Muốn biết chỗ Phật đi,

Chỉ nơi ngôn ngữ ấy.

*

Kệ pháp thân

Không thủ bả sừ đầu,

Bộ hành kỵ thủy ngưu,

Nhân tùng kiều thượng quá,

Kiều lưu thủy bất lưu.

Dịch:

Tay không cầm cán mai,

Đi bộ lưng trâu ngồi,

Người trên cầu qua lại,

Cầu trôi nước chẳng trôi.

(Phật Tổ Cương Mục – quyển 27, 28)

*

Kinh Kim Cang, Phật nói: “Tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.” 

Phó đại sĩ tụng:

Độ hà tu dụng phiệt,

Đáo ngạn bất tu thuyền,

Nhân pháp tri vô ngã, 

Ngộ lý cự lao thuyên.

Trung lưu nhưng bị nịch,

Thùy luận tại nhị biên,

Hữu vô như thủ nhất,

Tức bị ô tâm điền.

Dịch:

Qua sông, bè phải có, 

Đến bờ chẳng dùng thuyền,

Nhân - pháp biết vô ngã,

Ngộ lý nhọc gì bàn.

Giữa dòng vẫn bị đắm,

Ai luận tại hai bên,

Có - không nếu giữ một,

Liền bị nhơ tâm điền.

(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 18)

✵✵✵

Tán dương công đức Lục Tổ và khánh chú phục hưng chùa Nam Hoa

Đại sư Thái Hư

Tôi vừa sang Quảng Châu liền đến Tào Khê, có hai ý:

1. Đến chiêm lễ nhục thân Lục Tổ.

2. Đến khánh chú đạo tràng Lục Tổ trùng hưng.

Nhân vì tùng lâm Thiền tông do một phái Tào Khê truyền khắp thiên hạ, như Thiền tự ở Nhật Bản, Cao Ly đều là Tổ tông nơi Tào Khê. Nhưng từ Lục Tổ về sau, chùa Nam Hoa ở Tào Khê thời gian hưng thịnh thì ngắn, thời gian suy tàn thì dài. Đời Minh đã được đại sư Hám Sơn trùng hưng, hiện nay lại có hòa thượng Hư Vân đến dự định chấn hưng, thật là thịnh hội ngàn năm khó gặp!

Cho nên tôi đến chiêm lễ nhục thân Lục Tổ, đồng thời cũng đến khánh chú đạo tràng Lục Tổ phục hưng. Bởi thế tôi đến đây thật là hướng Hòa thượng và các vị Thủ lãnh chức sự chúc mừng, vốn không có pháp gì để nói. Nhân tại tòa có một số người mới phát tâm thọ giới và tín chúng tại gia các nơi tụ về, đồng nhóm họp tại đạo tràng chân thân Lục Tổ, thật là có nhân duyên thù thắng, cho nên tưởng cũng cần tán thán một điểm quan hệ công đức Lục Tổ, để khởi xướng.

Tại thời Lương Võ Đế, ở Ấn Độ có Trí Dược Tam Tạng đi đường biển sang miền Nam. Trước đây, các học giả Ấn Độ sang Trung Quốc phần lớn đều đi đường Tây Bắc mà đến. Đi từ Nam Hải đến, chỉ có Khương Tăng Hội vào thời Tam quốc, sau này e chỉ có Trí Dược Tam Tạng mà thôi. Trí Dược Tam Tạng lưu nhiều linh tích tại Quảng Đông, trước là trồng một cây bồ-đề tại chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu, dự đoán rằng: “Sau một trăm bảy mươi năm sẽ có nhục thân Bồ-tát thế phát thọ giới tại đây.” Sau ngài đến Tào Khê uống nước có vị thơm, liền tìm đến chỗ này lập ngôi chùa Bảo Lâm, cùng ghi lời tiên tri rằng: “Một trăm bảy mươi năm sau có nhục thân Bồ-tát ở đây khai diễn thượng thừa, độ vô lượng chúng, truyền Phật tâm ấn.”

Ở đây nói nhục thân Bồ-tát là Lục Tổ đại sư, trên Phật giáo sử đã sớm chứng thực rồi. Chúng ta nhằm trên công đức hành sự một đời của Lục Tổ, cũng đủ xác tín ngài là một vị đại Bồ-tát ứng thế. Có nhiều người thường cho Lục Tổ xuất thân là một tiều phu dốt nát, bèn cho là Phật giáo hoàn toàn xa lìa văn tự, vì Lục Tổ chẳng cần văn tự mà thông suốt Phật lý. Đâu chẳng biết Lục Tổ tùy thời cơ thị hiện như thế, quyết không phải là dốt nát, mà đã thành tựu vô lượng ngôn ngữ văn tự tam-muội đà-la-ni, không phải những người bác học đa văn, thế trí biện thông ở thế gian có thể so sánh được. Điều này từ chỗ nào để chứng minh? Như trong kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Nghe ni Vô Tận Tạng tụng kinh Niết-bàn, liền biết diệu nghĩa.” Lại nghe Pháp Đạt tụng kinh Pháp Hoa đến khai thị ngộ nhập tri kiến Phật, liền suốt được áo chỉ. Nếu chẳng phải đã sâu trồng gốc công đức, trí tuệ như biển thì làm sao được như vậy? Lại ngài nghe người tụng kinh Kim Cang, liền hoát nhiên khai ngộ, cũng là một loại phương pháp ứng cơ thị hiện, vì khi ấy kinh Kim Cang được phổ biến hoằng thịnh ở đời, do đó ngài đến tham lễ Ngũ Tổ, vừa nghe kinh Kim Cang liền khai ngộ. Vì thế, chẳng những ngài truyền Phật tâm ấn, và cũng truyền trì pháp tạng, không riêng gì Lục Tổ như thế, mà từ Ca-diếp về sau đều như vậy cả.

Lại kinh luận Đại Tiểu thừa, tinh mật vi diệu nhất không qua các bộ kinh luận Duy thức, như các kinh Lăng-già, Thâm Mật, Hoa Nghiêm cũng đều như thế, mà bốn quyển Lăng-già truyền Phật tâm ấn, là từ Sơ tổ Đạt-ma trải qua các đời trao truyền. Trong kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Có Tỳ-kheo Trí Thông thường xem kinh Lăng-già đến hơn ngàn lần, mà không hiểu tam thân tứ trí, lễ Sư cầu giải nghĩa này.” Khi ấy, Lục Tổ liền vì ông giải đáp: “Ba thân ấy, thanh tịnh pháp thân là tánh của ông, viên mãn báo thân là trí của ông, thiên bá ức hóa thân là hạnh của ông.” Sơ sài vài câu thế ấy, liền bao trùm được nghĩa tam thân trong tất cả các kinh luận đã nói không sót. Bởi ngài ngay Người hiện tại rõ ba thân, nên nói: “Nếu lìa bản tánh riêng nói ba thân, liền gọi là thân không trí.” Vì từ bản nhân mà nói ba thân, mới hiển bày Phật pháp bình đẳng. Học Phật là việc bổn phận của mỗi người. Nếu không từ tự tánh nói ba thân thì, ba thân dường như hoàn toàn thuộc trên Phật quả của người khác mà có, đâu không phải chính ta lại vô phần hay sao? Cho nên khảo sát chư cổ đức đối kinh luận giải nghĩa ba thân, chưa có vị nào nêu bày sáng sủa bằng.

Trí Thông đã rõ Tam thân, liền hỏi nghĩa Tứ trí thế nào? Tổ bảo: “Đã hiểu ba thân liền rõ tứ trí, nếu lìa ba thân riêng nói tứ trí, đây gọi là có trí không thân.” Đó là hiển bày lý thân trí không hai, cùng với Thành Duy Thức luận, Phật Địa Kinh luận nói lý tam thân tứ trí rất giống nhau. Bởi vì pháp thân tức là lý thể pháp thân thành tựu. Thành Duy Thức luận nói: “Trong phần tứ trí công đức chân thật, Cảnh trí khởi lên thường khắp sắc thân, nhiếp tự thọ dụng. Bình đẳng trí hiện ra Phật thân, nhiếp tha thọ dụng. Thành sự trí hiện ra các thứ thân tướng tùy loại, nhiếp biến hóa thân.” Trong đây đã nói rõ sự xen lẫn quan hệ của Tam thân và Tứ trí, đến như diệu dụng của Diệu quan sát trí tức là xem cơ nói pháp. Cho nên biết Tam thân chẳng lìa Tứ trí, Tứ trí chẳng rời Tam thân, nghĩa này rất sâu!

Phật thường tự nói: “Ta đối phàm ngu chẳng khai diễn”, mà bị Lục Tổ mấy câu phá xong. Nên biết Lục Tổ là bậc đại thánh Bồ-tát ứng hiện, nếu thật là người dốt nát thì làm sao đối với học lý cao thâm của Duy thức mà có trình độ thấy được như thế? Vả lại, ngài còn nói kệ tụng giản lược rõ ràng và khái quát thâm nghĩa chuyển thức thành trí. Kệ rằng:

Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,

Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh,

Diệu quan sát trí kiến phi công,

Thành sở tác trí đồng Viên cảnh.

Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển,

Đản chuyển danh ngôn vô thật tánh,

Nhược năng chuyển xứ bất lưu tình,

Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định.

Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh là, khi thức thứ tám a-lại-da đến quả vị Phật chuyển thành Đại viên cảnh trí, liền xả bỏ hết tất cả pháp sanh tử hữu lậu và vô lậu, cùng pháp giới bình đẳng thanh tịnh tương ưng, vô lậu hữu vi vô vi được tròn sáng triệt để. Song pháp giới thanh tịnh vẫn là tự tánh sẵn vậy, chúng sanh Phật bình đẳng, mà chúng sanh mê nên ở trong đó vọng có sanh tử điên đảo lưu chuyển, vì chư Phật ngộ liền tương ưng như như, chuyển thành Đại viên cảnh trí, pháp thân cứu cánh thanh tịnh.

Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh là, chúng sanh chúng ta sở dĩ có các thứ bệnh sanh-già-bệnh-chết, nó kết tụ bởi “vô minh, hữu ái”. Trong kinh Duy-ma-cật nói: “Vô minh, hữu ái này thật là căn nguyên các bệnh của thân tâm.” Nói rộng ra, thức thứ bảy luôn luôn tương ưng với ngã si, ngã ái, ngã kiến, ngã mạn bốn thứ căn bản phiền não. Bởi vì thức mạt-na thứ bảy ở nhân địa nhiễm ô, mê muội không có trí, thường thường chấp kiến phần thức thứ tám làm tự nội ngã, đây là cái ngã si mà người ngu không thể đạt đến, do ngu si không rõ chân thức thứ tám, vọng khởi chấp ngã kiến, y đó liền khởi tham trước nên có ngã ái, bởi ngã ái nên cao mình lấn người, thành có ngã mạn. Do bốn thứ phiền não này theo đuổi nơi tâm, nên vô lượng phiền não đều nhân đó mà khởi, thành có tâm bệnh. Nếu đem tâm bệnh trên thức thứ bảy dẹp bỏ, tâm bệnh tự nhiên thuyên giảm. Bình đẳng tánh trí cũng tự nhiên hiện bày. Thế nên dùng ba chữ tâm vô bệnh, để hiển bày bình đẳng tánh trí thật là ách yếu.

Diệu quan sát trí kiến phi công là, thông thường nhiều người cho Diệu quan sát trí là do trí phân biệt kiến giải khởi lên, song thật Diệu quan sát trí là vô phân biệt trí, thuần túy, nếu có phân biệt năng quán sở quán, kiến phần tướng phần liền rơi vào cái quán tưởng bất diệu của điên đảo phân biệt, trở thành chướng ngại vật của Diệu quan sát trí. Vô phân biệt trí tức là Bát-nhã diệu tuệ, do văn tự Bát-nhã đến quán chiếu Bát-nhã, do quán chiếu Bát-nhã đến thật tướng Bát-nhã tức là đến cảnh giới vô phân biệt trí. Chỉ ban đầu do văn tự giáo lý mà khởi quán chiếu, giáo lý này cũng là giáo lý vô phân biệt, quán chiếu này cũng là quán chiếu vô phân biệt. Song hai vị này thảy ở trên năng sở đối đãi, mục tiêu của nó là cầu chứng vô phân biệt trí, nên khởi gia hạnh vô phân biệt trí, chính quán chiếu Bát-nhã cũng thành vô phân biệt. Từ đây lại tiến lên chứng được thật tướng Bát-nhã tức căn bản vô phân biệt trí, liền cùng vô phân biệt tánh thể, như như tương ưng, lý trí không hai, năng sở cả hai đều mất, mới là căn bản vô phân biệt trí. Do căn bản vô phân biệt trí này, sanh khởi Hậu đắc trí, Gia hạnh trí, đều là vô phân biệt trí, chính đây là Diệu quan sát trí. Vì thế, Diệu quan sát trí nếu ở trong phân biệt kiến thì không phải Diệu quan sát trí, cho nên nói kiến phi công. Phải do vô phân biệt trí rỗng sạch hết tất cả kiến phân biệt, như hư không tan nát, đại địa chìm lặn, trọn không sở đắc thì Diệu quan sát trí mới hiển hiện. Thế nên dùng kiến phi công hiển bày Diệu quan sát trí, chỗ ách yếu này trong các luận thích không thể nói được.

Thành sở tác trí đồng Viên cảnh là, vì năm thức trước ở trong nhân vị, cùng thức thứ tám đồng hiện lượng tánh cảnh, nếu trên cái kiến văn giác tri chẳng rơi vào Độc đầu ý thức, trọn cùng thức thứ tám một loại duyên hiện lượng tánh cảnh. Chỉ bình thường chưa cùng Đại viên cảnh trí tương ưng thì không có diệu dụng, phải đợi thức thứ tám chuyển thành Đại viên cảnh trí, vô cấu thức hiện ngũ căn thanh tịnh, năm thức trước cũng theo đó chuyển thành Thành sở tác trí thanh tịnh, nên nói đồng Viên cảnh.

Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển, đản chuyển danh ngôn vô thật tánh, là năm thức trước cùng thức thứ tám chuyển thành trí là ở trên quả vị, thức thứ sáu cùng thức thứ bảy chuyển thức thành trí là ở trên nhân vị. Chỗ này ở trong các kinh luận Duy thức có thuyết minh rõ ràng, Lục Tổ dùng một câu khéo hay khái quát nghĩa đó. Chỉ nói chuyển là chuyển xả danh ngôn tập khí của Biến kế phân biệt trên Y tha khởi tánh. Danh ngôn tập khí này, trong ngũ pháp là: danh, tướng, phân biệt. Do danh ngôn tập khí này, nên từ thức thứ tám hiện khởi các thứ nhiễm pháp sanh diệt lưu chuyển. Nói chuyển thức thành trí, tức là chuyển danh ngôn tập khí các thứ hư vọng phân biệt nhiễm pháp trên Y tha khởi tánh này, trở thành tịnh trí thuần túy vô lậu, chẳng có một vật thật có thể chuyển. Thật tánh là chỉ bình đẳng pháp thân, từ xưa đến nay chẳng tăng chẳng giảm, chẳng cấu chẳng tịnh, không động không dao, không chuyển không chẳng chuyển, tuy nói ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển, chỉ chuyển pháp sanh diệt, mà Thành thật tánh này vốn không chuyển biến. Cốt yếu ở chuyển xứ bất lưu tình, ngay đó liền đồng Phật quả.

Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định là, đi đứng ngồi nằm nói nín động tịnh đều là sinh hoạt ở trong định tuệ. Na-già là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Long, dụ Phật là rồng trong loài người, thường ở trong định, nên nói: “Na-già thường tại định, không có khi nào chẳng định.” Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, tìm tướng bốn oai nghi trọn không thể được, trụ nơi Vô trụ Đại Bát-niết-bàn, tịch mà thường dụng, dụng mà thường tịch, thường thường ứng cơ hiện thân nói pháp mà thường thường không tướng có thể được, thường thường không tướng có thể được mà thường thường ứng cơ nói pháp, tột mé vị lai không có cùng tận.

Lục Tổ nói chuyển bát thức thành tứ trí, cốt yếu trở về trên bản thân của mỗi người, cốt yếu mỗi người ngay chỗ chuyển chẳng lưu phàm tình, là thực hiện vô phân biệt vô trụ tướng tứ trí Bồ-đề Niết-bàn. Hành sự theo nhật dụng bình thường đều là an trụ trong tứ trí Bồ-đề, thế ấy mà ai được thân thiết liền biết thú vị. Cho nên Lục Tổ chẳng những không dốt nát mà là đủ đại trí tuệ, đầy đủ văn tự ngôn ngữ tam-muội, thật không phải người phàm có thể đo lường được. Tóm lại Phật pháp là việc trên bổn phận mỗi người, nếu đối bổn phận rõ suốt thì, tam tạng mười hai bộ Kinh cũng chẳng qua chú giải trên bổn phận của chính mình, của mỗi người mà thôi. Phật thuyết pháp độ sanh cũng từ trên bổn phận của chính mình thị hiện nói pháp độ sanh. Khi này Lục Tổ ứng hóa thị hiện, cũng đâu chẳng phải việc trên bổn phận của chính mình? Cho nên Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định, cũng có thể nói Na-già định vĩnh phồn hưng dụng.

Hiện nay chúng ta tất cả người vật ở trong đạo tràng Lục Tổ, đâu chẳng phải là Lục Tổ phồn hưng đại dụng kiến lập, đâu không phải là pháp thân công đức đẳng lưu của Lục Tổ thị hiện. Như đại sư Hám Sơn vẫn là công đức của Lục Tổ thị hiện, chính nay Lão hòa thượng Hư Vân nhận lời thỉnh của tứ chúng ở Quảng Đông đến trùng hưng đạo tràng này cũng là Lục Tổ hiện thân không khác. Thế nên, quan sát thể nghiệm công đức Lục Tổ thì, công đức Lục Tổ đầy khắp chỗ này, tất cả chúng ta ở trong đạo tràng của Lục Tổ, đều cùng Lục Tổ thân thiết tương ưng đương thể không khác Lục Tổ.

Hiện nay, các vị mới phát tâm thọ giới ở đây phải biết nghĩa lý lời nói của Lục Tổ “tâm địa không lỗi tự tánh giới”. Khi thọ giới tuy có tam sư thất chứng, cùng với các phương pháp nghi thức, cốt yếu tất cả giới pháp đều từ pháp thân Phật Thích-ca-mâu-ni đẳng lưu mà ra, pháp thân và sanh thân không hai, xưa nay tự tánh thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh tức là giới thể. Cho nên thọ giới là chẳng từ người khác được, chính do tự tánh vô cấu tâm của mỗi người làm giới thể thanh tịnh, mới gọi là đắc giới. Mỗi người đắc tự tánh giới, tức đồng Lục Tổ tự tánh giới. Nhưng những người thọ giới tại đây cũng phải biết các nhân vật Hòa thượng, Giới sư, Dẫn lễ sư v.v... đều từ công đức Lục Tổ đẳng lưu thị hiện. Thành tựu tất cả công đức như thế thì đạo tràng Tam bảo này được thành tựu, là phước điền chân chánh của trời người.

(Thái Hư Toàn Thư – quyển 7)

Đọc tiếp →
Mục Lục
Danh sách chương:
  • Lời Dẫn

  • 1. Nanh Vuốt Nhà Thiền

  • Lời Đầu Sách

  • Phần I: Các Giai Thoại Thiền

  • Phần II: Thi Kệ Thiền

  • 2. Thiền Quan Sách Tấn Giảng Giải

  • Dẫn Các Kinh

  • Lời Đầu Sách

  • Tựa

  • Rút Gọn Lời Dạy Chư Tổ

  • Sự Khổ Công Tu Tập Của Chư Tổ

  • 3. Tham Thiền Yếu Chỉ Giảng Giải

  • Lời Đầu Sách

  • Phần I: Điều Kiện Quyết Định Đầu Tiên Của Sự Tham Thiền

  • Phần II: Thiền Đường Chỉ Dạy

  • Phần III: Lời Nhắc Khi Tham Thiền

  • Phần IV: Đêm Trừ Tịch Uống Phổ Trà Dạy Chúng

  • Phần V: Tu Cùng Không Tu