Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 21 - Thiền Tông Trung Hoa 6
Tắc 26 - 50
Đọc tiếp →

TẮC 26

BÁ TRƯỢNG NGỒI RIÊNG NGỌN ĐẠI HÙNG

Công án: 

Tăng hỏi Bá Trượng: “Thế nào là việc kỳ đặc?” Bá Trượng đáp: “Ngồi riêng ngọn Đại Hùng.” Tăng lễ bái. Bá Trượng liền đánh.

Giải thích: 

Gặp cơ đủ mắt chẳng đoái nguy vong, cho nên nói chẳng vào hang cọp đâu được cọp con. Bá Trượng bình thường dường như cọp thêm cánh. Vị tăng này cũng chẳng sợ chết sống, dám vuốt râu cọp, nên hỏi thế nào là việc kỳ đặc? Ông tăng này đã đủ con mắt sáng, nên Bá Trượng cho ông gánh vác, nói “Ngồi riêng núi Đại Hùng”. Ông liền lễ bái. Thiền tăng phải biện biệt ý trước khi hỏi mới được. Vị tăng này lễ bái cùng việc lễ bái hằng ngày chẳng đồng, phải là người đủ mắt sáng mới được. Chớ đem gan mật bình sinh trút cho người, biết nhau lại như chẳng biết nhau. 

Chỉ xem vị tăng hỏi: “Thế nào là việc kỳ đặc?” Bá Trượng nói: “Ngồi riêng núi Đại Hùng.” Tăng lễ bái, Bá Trượng liền đánh. Xem kia buông đi đồng thời đều phải, thâu lại thì quét sạch dấu vết. Hãy nói vị tăng liền lễ bái, ý chỉ thế nào? Nếu bảo là tốt, tại sao Bá Trượng lại đánh ông? Nếu bảo là chẳng tốt, ông lễ bái có chỗ nào chẳng được? Đến đây phải biết hay dở, rành trắng đen, đứng trên ngàn ngọn núi mới được. Vị tăng này liền lễ bái, giống như vuốt râu cọp, chỉ giành chỗ chuyển thân. May gặp Bá Trượng có con mắt tại đảnh môn, trong tay có thần phù chiếu thấu bốn thiên hạ, biện rõ lai phong, cho nên liền đánh. Nếu là kẻ khác thì không làm gì được y. Vị tăng này lấy cơ đầu cơ, dùng ý dẹp ý, cho nên lễ bái.

Như Nam Tuyền nói: “Canh ba đêm qua Văn-thù Phổ Hiền khởi Phật kiến, pháp kiến, cho mỗi vị hai mươi gậy, đày đến hai ngọn núi Thiết Vi.” Triệu Châu ra chúng thưa: “Gậy của Hòa thượng bảo ai ăn?” Nam Tuyền nói: “Vương lão sư có lỗi gì?” Triệu Châu liền lễ bái. 

Bậc tông sư bình thường chẳng thấy chỗ thọ dụng, vừa gặp lúc đương cơ nêu ra, tự nhiên sống linh động. Ngũ Tổ tiên sư thường nói: “Giống như trước ngựa giao đấu, ông chỉ thường tập thấy nghe thanh sắc đồng thời đoạn dứt, nắm được đứng, làm được chủ, mới thấy Bá Trượng kia.” Hãy nói khi buông ra phải làm sao? Xem Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Tổ vức giao trì thiên mã câu

Hóa môn thư quyện bất đồng đồ

Điện quang thạch hỏa tồn cơ biến

Kham tiếu nhân lai loát hổ tu.

Dịch:

Đất Tổ danh lừng thiên mã câu

Cuộn bày cửa hóa chẳng đồng đường

Điện quang đá nháng còn cơ biến

Cười ngất người kia vuốt râu hùm.

Giải tụng:

Tuyết Đậu thấy tột mới tụng ra. Thiên mã câu là con ngựa chạy một ngày một ngàn dặm, chạy dọc chạy ngang nhanh như bay. Tuyết Đậu tụng ý nói Bá Trượng ở trong đất Tổ, bên đông chạy sang bên tây, bên tây chạy sang bên đông, một qua một lại, bảy dọc tám ngang, toàn không chút ngại giống như thiên mã câu. Khéo hay qua lại mới thấy chỗ tự do, đó là được đại cơ đại dụng của Mã Tổ. Có vị tăng hỏi Mã Tổ: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Mã Tổ liền đánh, nói: “Nếu ta chẳng đánh ngươi thì người trong thiên hạ sẽ cười ta.” Tăng lại hỏi: “Thế nào là ý Tổ sư Tây sang?” Mã Tổ bảo: “Lại gần đây, vì ông nói.” Tăng lại gần, Mã Tổ tát vào tai, nói: “Sáu tai chẳng đồng mưu.” 

Thế là đủ thấy ngài được tự do tự tại. Trong chỗ dựng lập hóa môn, hoặc bày ra hoặc cuộn lại. Có khi bày chẳng ở chỗ cuộn, có khi cuộn chẳng ở chỗ bày, có khi cuộn bày đều chẳng còn. Vì thế nói đồng đường mà chẳng đồng dấu. Câu tụng này là nói Bá Trượng có được thủ thuật ấy. 

Tuyết Đậu tụng Điện quang đá nháng còn cơ biến”, là nói vị tăng này như làn điện chớp, tợ chọi đá nháng lửa, chỉ ở trong phút giây cơ biến. Nham Đầu nói: “Buông vật là thượng, theo vật là hạ.” Nếu luận về pháp chiến, mỗi mỗi phải ở chỗ chuyển. Tuyết Đậu nói: “Bánh xe từng chưa chuyển, chuyển ắt chạy hai đầu.” Nếu chuyển chẳng được, có dùng vào chỗ nào? Bậc đại trượng phu phải biết chút cơ biến mới được. Người nay chỉ quản cung ứng chỗ mong muốn của người, bị người xỏ lỗ mũi, biết bao giờ xong. 

Vị tăng này ở trong chỗ điện xẹt lửa nháng khéo được cơ biến, liền lễ bái. Tuyết Đậu tụng Cười ngất người kia vuốt râu hùm, nói Bá Trượng như con cọp to, cười ngất vị tăng này đến vuốt râu cọp.

TẮC 27

VÂN MÔN THÂN BÀY GIÓ THU

Lời dẫn: 

Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả chim ưng, nhân gió thổi lửa, chẳng tiếc lông mày hãy gác lại, như khi vào hang cọp thì thế nào, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Vân Môn: “Khi lá rụng cành khô thì thế nào?” Vân Môn đáp: “Thân bày gió thu.”

Giải thích: 

Nếu nhằm trong ấy tiến được mới thấy chỗ vì người của Vân Môn. Kia nếu chẳng được thế, vẫn như xưa là kẻ chỉ nai cho là ngựa, mắt mờ tai điếc, người nào đến cảnh giới này? Hãy nói Vân Môn đáp thoại cho người hay vì người thù xướng? Nếu nói đáp thoại cho người là nhận lầm trái cân bàn (một tiêu chuẩn cố định). Nếu nói vì người thù xướng thì nào có dính dáng. Đã chẳng thế ấy, cứu cánh thế nào? Nếu ông thấy được thấu thì lỗ mũi thiền tăng chẳng nhọc một cái véo. Kia nếu chẳng được thế, như xưa đi thẳng vào trong hang quỷ. 

Phàm là người dựng lập tông thừa, phải là toàn thân gánh vác, chẳng tiếc lông mày, nhằm miệng cọp nằm ngang, mặc nó lôi ngang kéo dọc. Nếu chẳng như thế đâu thể vì người được. Ông tăng này đặt câu hỏi thật là hiểm hóc, nếu lấy việc tầm thường nhìn ông chỉ giống một vị tăng nhàn rỗi. Nếu căn cứ vào dưới cửa thiền tăng, trong chỗ mạng mạch mà xem, quả thật có chỗ diệu. Thử nói lá rụng cành khô là cảnh giới của người nào? Trong mười tám lối hỏi, lối hỏi này là “Biện chủ”, cũng gọi là “Tá sự vấn”. Vân Môn chẳng dời đổi một mảy tơ, chỉ nhằm ông nói “Thân bày gió thu”. Đáp rất hay, cũng chẳng cô phụ câu hỏi của người. Bởi vì chỗ hỏi kia có mắt sáng, chỗ đáp cũng đúng đắn. Người xưa nói: “Muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi.” Nếu là tri âm, nói ra liền biết chỗ rơi. Nếu ông nhằm trong ngữ mạch của Vân Môn mà tìm thì lầm rồi. Chỉ là trong câu của Vân Môn, phần nhiều thích gợi tình giải của người. Nếu dùng tình giải hiểu, chưa khỏi vùi lấp con cháu của ta. 

Vân Môn thích cưỡi ngựa giặc đuổi giặc như thế. Đâu chẳng thấy tăng hỏi: “Thế nào là chỗ phi tư lương?” Vân Môn đáp: “Thức tình khó lường.” Vị tăng này hỏi: “Khi lá rụng cành khô thì thế nào?” Vân Môn đáp: “Thân bày gió thu.” Trong câu quả thật chặt đứt chỗ trọng yếu, chẳng thông phàm thánh, phải hiểu Sư cử một rõ ba, cử ba rõ một. Nếu ông trong ba câu đó mà tìm thì nhổ tên sau ót. Trong một câu của Sư phải đủ ba câu: Hàm cái càn khôn, Tùy ba trục lãng, Cát tiệt chúng lưu; tự nhiên thích hợp. Vân Môn trong ba câu, hãy nói dùng câu nào tiếp người, thử biện xem?

Tụng:

Vấn ký hữu tông

Đáp diệc du đồng

Tam cú khả biện

Nhất thốc liêu không.

Đại dã hề lương tiêu táp táp

Trường thiên hề sơ vũ mông mông.

Quân bất kiến

Thiếu Lâm cửu tọa vị quy khách

Tịnh y Hùng Nhĩ nhất tùng tùng.

Dịch:

Hỏi đã có tông

Đáp cũng vẫn đồng

Ba câu khá biện

Một mũi băng không.

Đồng rộng chừ vèo vèo gió mát

Trời dài chừ lấm tấm mưa thưa.

Anh chẳng thấy

Thiếu Lâm ngồi lâu khách chưa về 

Lặng nương Hùng Nhĩ một rặng tùng.

Giải tụng:

Người xưa nói: “Nương lời cần hiểu tông, chớ tự lập quy củ.” Lời nói người xưa không rỗng, nên nói phàm hỏi việc cần biết chút ít tốt xấu, nếu chẳng biết tôn ty đi đến, chẳng biết chạm tịnh, tha hồ nói loạn, có chỗ nào lợi ích. Phàm phát lời nhả hơi phải như cái kìm cái nhíp, có móc có khóa, phải là tương tục chẳng dứt mới được. Vị tăng này chỗ hỏi có tông chỉ, Vân Môn chỗ đáp cũng vậy. Vân Môn bình thường dùng ba câu tiếp người, đây là cực tắc. 

Tuyết Đậu tụng công án này với tụng công án của Đại Long tương tợ. Ba câu khá biện, trong một câu đủ ba câu, nếu biện được thì thoát ngoài ba câu. Một mũi băng không, chữ “thốc” là mũi tên bắn đi rất xa, phải chú mắt nhìn nhanh mới thấy. Nếu thấy được rõ ràng có thể dưới một câu khai triển cả đại thiên sa giới. 

Đến đây đã tụng xong. Tuyết Đậu có dư tài, triển khai tụng ra: Đồng rộng chừ vèo vèo gió mát, trời dài chừ lấm tấm mưa thưa. Hãy nói là tâm hay cảnh, là huyền hay diệu? Người xưa nói: “Pháp pháp chẳng ẩn tàng, xưa nay thường hiển lộ.” Tăng hỏi: “Khi lá rụng cành khô thì thế nào?” Vân Môn đáp: “Thân bày gió thu.” Tuyết Đậu ý chỉ làm một cảnh, như hiện nay trước mắt gió phất phất, chẳng phải gió Đông Nam tức gió Tây Bắc, cần phải hiểu thế ấy mới được. Nếu ông khởi hiểu thiền đạo, liền không dính dáng. 

Anh chẳng thấy, Thiếu Lâm ngồi lâu khách chưa về, khi tổ Đạt-ma chưa về Tây thiên, chín năm ngồi xây mặt vào vách lặng yên. Đây là “Lá rụng cành khô” hay “Thân bày gió thu”? Nếu nhằm trong đây, đem tất cả phàm thánh xưa nay cùng càn khôn đại địa nhồi thành một khối, mới thấy rõ chỗ vì người của Vân Môn, Tuyết Đậu. 

Lặng nương Hùng Nhĩ một rặng tùng, Hùng Nhĩ tức là Thiếu Lâm tại Tung Sơn ở Tây Kinh. Phía trước núi có ngàn vạn lớp tùng, sau núi cũng có ngàn vạn lớp tùng. Các ông nhằm chỗ nào thấy? Lại thấy chỗ Tuyết Đậu vì người chăng? Cũng là rùa linh lê đuôi. 

TẮC 28

NAM TUYỀN PHÁP CHẲNG NÓI

Công án: 

Nam Tuyền đến tham vấn hòa thượng Niết Bàn ở núi Bá Trượng. Bá Trượng hỏi: “Từ trước chư thánh lại có pháp chẳng vì người nói chăng?” Nam Tuyền đáp: “Có.” Bá Trượng hỏi: “Thế nào là pháp chẳng vì người nói?” Nam Tuyền đáp: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.” Bá Trượng bảo: “Nói rồi vậy.” Nam Tuyền hỏi: “Con chỉ thế ấy, Hòa thượng thế nào?” Bá Trượng bảo: “Ta chẳng phải đại thiện tri thức, đâu biết có nói chẳng nói.” Nam Tuyền thưa: “Con chẳng hội.” Bá Trượng bảo: “Ta rất vì ông nói xong.”

Giải thích: 

Đến đây cũng chẳng cần tức tâm chẳng tức tâm, chẳng cần phi tâm chẳng phi tâm, thẳng đó từ đầu đến chân một sợi lông mày cũng không, còn được đôi chút. Tức tâm phi tâm, thiền sư Thọ cho đó là biểu thuyên và giá thuyên. 

Hòa thượng Niết Bàn tức là thiền sư Pháp Chánh, khi xưa ở Bá Trượng làm Tây Đường, bảo chúng khai điền vì nói đại nghĩa. Khi ấy, Nam Tuyền đã gặp Mã Tổ xong, chỉ cần đến các nơi để quyết trạch. Bá Trượng đặt câu hỏi rất khó đáp: “Từ trước chư thánh lại có pháp chẳng vì người nói chăng?” Nếu là sơn tăng chỉ bịt tai đi ra, xem ông già này một trường bối rối. Nếu là hàng tác gia, thấy Sư hỏi thế ấy liền biết phá được. Nam Tuyền cứ chỗ thấy đáp: “Có.” Cũng là Mạnh Bát Lang! 

Bá Trượng bèn đem lầm đến lầm, theo sau nói: “Thế nào là pháp chẳng vì người nói?” Nam Tuyền đáp: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.” Lão này mải ngắm mặt trăng trên trời, bỏ rơi hạt châu trong tay. Bá Trượng bảo: “Nói rồi vậy.” Đáng tiếc thay! Vì kia chú phá. Ngay khi ấy chỉ nhằm xương sống mà đánh, cho kia biết đau nhức. Tuy nhiên như thế, ông hãy nói chỗ nào là chỗ nói rồi? Cứ chỗ thấy của Nam Tuyền “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật” là chưa từng nói đến. Thử hỏi các ông, tại sao lại bảo “Nói rồi”? Dưới lời của Sư không có dấu vết. Nếu bảo Sư chẳng nói, vì sao Bá Trượng lại nói thế ấy? 

Nam Tuyền là người biến thông, liền theo sau đẩy một cái, nói: “Con chỉ thế ấy, Hòa thượng lại thế nào?” Nếu là kẻ khác chưa khỏi bối rối, đâu ngờ Bá Trượng là hàng tác gia, chỗ đáp quả thật kỳ đặc, liền nói: “Ta chẳng phải là đại thiện tri thức, đâu biết có nói không nói.” Nam Tuyền thưa: “Con chẳng hội.” Thế là Sư hội rồi mà nói chẳng hội hay thật không hội? Bá Trượng bảo: “Ta quả thật đã vì ông nói xong.” Hãy nói chỗ nào là chỗ nói? Nếu là kẻ nghịch bùn thì cả hai lấm lem sình lầy. Nếu cả hai đều là tác gia thì như gương sáng trên đài. Kỳ thật phần trước cả hai đều tác gia, phần sau cả hai đều bỏ qua. Nếu là người có đủ mắt thì rõ ràng nghiệm lấy. 

Hãy nói làm sao nghiệm kia? Xem Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Tổ Phật tùng lai bất vị nhân

Nạp tăng kim cổ cạnh đầu tẩu

Minh cảnh đương đài liệt tượng thù

Nhất nhất diện nam khán Bắc đẩu

Đẩu bính thùy, vô xứ thảo

Niêm đắc tỷ khổng, thất khước khẩu.

Dịch:

Tổ Phật xưa nay chẳng vì người

Thiền tăng kim cổ đua nhau chạy

Gương sáng trên đài tướng khác bày

Mỗi mỗi hướng nam nhìn Bắc đẩu

Chuôi sao duỗi, không chỗ tìm

Nắm được lỗ mũi, mất đi miệng.

Giải tụng:

Ông già Thích-ca ra đời bốn mươi chín năm chưa từng nói một lời, trước từ nước Quang Diệu sau đến sông Bạt-đề, ở trong khoảng giữa chưa từng nói một lời. Nói thế ấy là có nói hay chẳng nói? Như hiện nay đầy Long cung tràn Hải tạng, làm sao bảo chẳng nói? Hãy nghe Tu sơn chủ nói: “Chư Phật chẳng xuất thế, bốn mươi chín năm nói, Đạt-ma chẳng Tây sang, Thiếu Lâm có diệu quyết.” Lại nói: Chư Phật chẳng từng ra đời, cũng không một pháp cho người, chỉ xem tâm chúng sanh, tùy cơ hợp bệnh cho thuốc, bày phương tiện, nên có ba thừa mười hai phần giáo. Kỳ thật Phật tổ từ xưa đến nay chưa từng vì người nói. Chỉ cái không vì người, phải khéo tham cứu tường tận. Sơn tăng thường nói: “Nếu là thêm một câu, nếm ngọt ngào như đường mật, chín chắn xem ra quả là độc dược. Nếu nhằm xương sống đánh, nhằm miệng vả, đẩy ra ngoài, mới là thân thiết vì người.” 

Thiền tăng xưa nay đua nhau chạy, khắp nơi phải cũng hỏi, chẳng phải cũng hỏi, hỏi Phật, hỏi Tổ, hỏi hướng thượng hướng hạ. Tuy nhiên như thế, nếu chưa đến điền địa này, cũng không thể thiếu được, như Gương sáng trên đài tướng khác bày, chỉ cần một câu có thể biện được rõ ràng. Người xưa nói: Vạn tượng sum la là sở ấn của một pháp. Lại nói: Sum la và vạn tượng thảy ở trong ấy tròn đầy. Đại sư Thần Tú nói: “Thân là cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng, luôn luôn phải lau chùi, chớ để dính bụi bặm.” Ngài Đại Mãn bảo: “Ông chỉ ở ngoài cửa.” Tuyết Đậu nói thế ấy, hãy nói ở trong cửa hay ở ngoài cửa? 

Cả thảy các ông mỗi người có một tấm gương xưa, sum la vạn tượng dài ngắn vuông tròn, mỗi mỗi đều hiển hiện ở trong đó. Nếu ông đến chỗ dài ngắn mà hiểu, rốt cuộc dò tìm chẳng được. Thế nên, Tuyết Đậu nói: Gương sáng trên đài tướng khác bày, lại phải là Mỗi mỗi hướng nam nhìn Bắc đẩu. Đã là hướng Nam tại sao lại xem Bắc đẩu? Nếu thế ấy hội được, mới thấy chỗ Bá Trượng, Nam Tuyền thấy nhau. Hai câu này là tụng chỗ Bá Trượng đẩy tạt qua, nói: “Ta chẳng phải đại thiện tri thức, đâu biết có nói không nói.” 

Tuyết Đậu tụng đến đây bị rơi vào nước chết, ngại người hiểu lầm, liền đề khởi lên: Chính nay trước mắt chuôi sao duỗi, ông lại đến chỗ nào tìm? Ông vừa nắm được lỗ mũi, mất đi miệng, nắm được miệng mất đi lỗ mũi rồi vậy.

TẮC 29

ĐẠI TÙY THEO KIA ĐI

Lời dẫn: 

Cá lội nước đục, chim bay lông rụng, biện rõ chủ khách, phân rành trắng đen. Giống như gương sáng tại đài, minh châu trong tay, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán, bày thanh hiển sắc. Hãy nói vì sao như thế, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Đại Tùy: “Kiếp hỏa cháy rực đại thiên đều hoại, chưa biết cái này hoại chẳng hoại?” Đại Tùy đáp: “Hoại.” Tăng hỏi: “Thế thì theo kia đi?” Đại Tùy đáp: “Theo kia đi.”

Giải thích: 

Hòa thượng Chơn Như ở Đại Tùy kế thừa thiền sư Đại An. Sư người huyện Diêm Đình, Đông Xuyên, đi tham vấn hơn sáu mươi vị thiện tri thức. Xưa khi ở trong hội Quy Sơn, Sư làm đầu bếp, một hôm Quy Sơn hỏi: “Con ở đây mấy năm mà không biết đặt một câu hỏi xem thế nào?” Sư thưa: “Bảo con hỏi cái gì mới được?” Quy Sơn bảo: “Sao con chẳng hỏi thế nào là Phật?” Sư liền lấy tay bụm miệng Quy Sơn. Quy Sơn nói: “Ngươi về sau tìm một người quét đất cũng không.” Sau Sư trở về Đông Xuyên, trước cất quán trà trên con đường lên núi Bằng Khẩu để tiếp đãi người qua lại, đến ba năm.

Sau Sư khai đường dạy chúng, trụ ở Đại Tùy. Có vị tăng hỏi: “Kiếp hỏa cháy rực đại thiên đều hoại, chưa biết cái này hoại chẳng hoại?” Vị tăng này chỉ y cứ vào kinh điển đến hỏi. Trong kinh nói: “Thành trụ hoại không, khi kiếp tam tai dấy khởi hoại đến cõi trời Tam thiền.” Vị tăng này xưa nay chưa biết chỗ rơi của thoại đầu. Hãy nói “cái này” là gì? Nhiều người khởi tình giải nói: “Cái này là bản tánh của chúng sanh.” Đại Tùy nói: “Hoại.” Vị tăng hỏi: “Thế ấy thì theo kia đi?” Đại Tùy đáp: “Theo kia đi.” Chỉ cái này bao nhiêu người tình giải dò tìm chẳng được. Nếu nói theo kia đi thì ở chỗ nào? Nếu nói chẳng theo kia đi thì lại làm sao? Chẳng thấy nói: “Muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi.”

Sau có vị tăng hỏi Tu sơn chủ: “Kiếp hỏa cháy rực đại thiên đều hoại, chưa biết cái này hoại chẳng hoại?” Tu Sơn Chủ đáp: “Chẳng hoại.” Tăng hỏi: “Vì sao chẳng hoại?” Tu Sơn Chủ đáp: “Vì đồng với đại thiên.” Hoại cũng bít lấp chết người, chẳng hoại cũng bít lấp chết người. 

Vị tăng kia đã chẳng hiểu lời nói của Đại Tùy, song y chẳng ngại lấy việc này làm niệm, mang nghi vấn thẳng đến núi Đầu Tử ở Thư Châu. Đầu Tử hỏi: “Vừa rời chỗ nào?” Tăng thưa: “Núi Đại Tùy ở Tây Thục.” Đầu Tử hỏi: “Đại Tùy có ngôn cú gì?” Tăng liền nhắc lại lời hỏi trước. Đầu Tử thắp hương lễ bái nói: “Tây Thục có cổ Phật ra đời, ông nên trở lại mau.” Vị tăng trở về đến Đại Tùy thì Đại Tùy đã tịch. Vị tăng này một trường bối rối. Sau, đời Đường có vị tăng Cảnh Tuân đề Đại Tùy:

Liễu nhiên vô biệt pháp

Thùy đạo ấn Nam Năng

Nhất cú tùy tha ngữ

Thiên sơn tẩu nạp tăng.

Cùng hàn minh thế diệp

Quỷ dạ lễ khám đăng

Ngâm bãi cô song ngoại

Bồi hồi hận bất thăng.

Dịch:

Rõ ràng không pháp khác

Ai nói ấn Nam Năng

Một câu nói theo kia

Thiền tăng chạy ngàn núi. 

Dế lạnh kêu đống lá

Quỷ đêm lễ đèn thờ

Ngâm xong ngoài song lẻ

Bồi hồi hận chẳng cùng.

Vì thế, dưới đây Tuyết Đậu dẫn hai câu này tụng ra. Hiện nay chẳng được khởi hiểu hoại, cũng chẳng được khởi hiểu không hoại, cứu cánh hiểu thế nào? Mau để mắt xem!

Tụng:

Kiếp hỏa quang trung lập vấn đoan

Nạp tăng du trệ lưỡng trùng quan

Khả lân nhất cú tùy tha ngữ

Vạn lý khu khu độc vãng hoàn.

Dịch:

Kiếp hỏa sáng ngời hỏi thành câu

Thiền tăng còn kẹt hai trùng quan

Đáng thương chỉ một lời theo đấy

Muôn dặm nhọc nhằn riêng tới lui.

Giải tụng:

Tuyết Đậu đương cơ tụng ra, trong câu có chỗ xuất thân. Kiếp hỏa sáng ngời hỏi thành câu, thiền tăng còn kẹt hai trùng quan, chỗ hỏi của vị tăng trước ôm ấp hoại cùng chẳng hoại là kẹt hai tầng cổng. Nếu là người được thì nói hoại cũng có chỗ xuất thân, nói chẳng hoại cũng có chỗ xuất thân. 

Hai câu Đáng thương chỉ một lời theo đấy, muôn dặm nhọc nhằn riêng tới lui, tụng vị tăng mang câu hỏi đến Đầu Tử, lại trở về Đại Tùy, đáng gọi là muôn dặm nhọc nhằn.

TẮC 30

TRIỆU CHÂU CỦ CẢI TO

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Được nghe Hòa thượng thân kiến Nam Tuyền phải chăng?” Triệu Châu đáp: “Ở Trấn Châu phát xuất củ cải to.”

Giải thích: 

Vị tăng này cũng thuộc hạng tham cứu lâu, trong câu hỏi quả là có mắt. Đâu ngờ Triệu Châu là hàng tác gia, liền đáp: “Ở Trấn Châu phát xuất củ cải to.” Đáng gọi là lời nói vô vị, bít lấp miệng người. Lão này giống như kẻ cướp giỏi, ông vừa mở miệng liền móc tròng mắt của ông. Nếu là kẻ đặc đạt anh linh, ngay đó nhằm trong khoảng đá nháng điện xẹt, vừa nghe nêu lên ngay đó liền đi. Nếu là lặng nghĩ dừng suy chẳng khỏi tan thân mất mạng. 

Ở Giang Tây, Trừng Tán Thánh phán bảo đó là hỏi đông đáp tây, nói là chẳng đáp thoại, chẳng vào lồng bẫy của người. Nếu hiểu thế ấy đâu thể được. Viễn Lục Công nói: “Đây là lời bàng miết (lời mé bên), nằm trong cửu đới.” Nếu hiểu thế ấy, khi mộng cũng chưa mộng thấy, lại còn liên lụy Triệu Châu. 

Có người nói: “Ở Trấn Châu từ xưa đến giờ sản xuất củ cải to, mọi người đều biết, Triệu Châu từ khi đến tham kiến Nam Tuyền mọi người đều biết. Vị tăng này đến hỏi: Được nghe Hòa thượng thân kiến Nam Tuyền phải chăng? Vì thế Triệu Châu dùng Trấn Châu xuất phát củ cải to để đáp.” Hiểu thế thật là không dính dáng. Trọn chẳng được hiểu thế ấy, cứu cánh làm sao hiểu? Nhà mỗi người tự có đường thấu trời. 

Đâu chẳng thấy có vị tăng hỏi Cửu Phong: “Được nghe Hòa thượng thân kiến Diên Thọ phải chăng?’’ Cửu Phong đáp: “Trước núi mạch chín chưa?” Đây hợp với lời Triệu Châu đáp cho vị tăng, giống như hai cái chùy sắt không lỗ. Lão Triệu Châu là người vô sự, ông nhè nhẹ hỏi đến, liền móc tròng mắt ông. Nếu là người “tri hữu” nhai kỹ thấy thú vị. Nếu là người “chẳng tri hữu” giống như ngốn nuốt trái táo.

Tụng:

Trấn Châu xuất đại la bặc

Thiên hạ nạp tăng thủ tắc

Chỉ tri tự cổ tự kim

Tranh biện hộc bạch ô hắc

Tặc! Tặc!

Nạp tăng tỹ khổng tằng niêm đắc.

Dịch:

Trấn Châu sản xuất củ cải 

Thiền tăng khắp nơi giữ tắc

Chỉ biết tự xưa tự nay

Nào biện quạ đen hạc trắng

Giặc! Giặc!

Lỗ mũi thiền tăng từng nắm được.

Giải tụng:

Câu Trấn Châu sản xuất củ cải, nếu ông chấp đó làm cực tắc sớm đã lầm rồi. Người xưa nắm tay tiến lên núi cao chưa khỏi kẻ bàng quan cười. Mọi người đều biết nói cái này là cực tắc, mà cứu cánh không biết chỗ cực tắc. Vì thế Tuyết Đậu nói Thiền tăng khắp nơi giữ tắc, chỉ biết tự xưa tự nay, nào biện quạ đen hạc trắng. Tuy biết người nay đáp thế ấy, người xưa cũng đáp thế ấy, mà đâu từng phân biệt trắng đen. Tuyết Đậu nói cũng cần phải đến trong khoảng đá nháng điện xẹt, biện biệt quạ đen hạc trắng mới được. 

Công án đến đây tụng xong. Tuyết Đậu xuất ý nhằm chỗ sống linh động và nhằm các ông nói Giặc! Giặc! Lỗ mũi thiền tăng từng nắm được. Chư Phật ba đời cũng là giặc, Tổ sư nhiều đời cũng là giặc, khéo hay làm giặc móc tròng mắt người, mà chẳng động tay chân, chỉ riêng một Triệu Châu. Hãy nói chỗ nào là chỗ Triệu Châu khéo làm giặc? Trấn Châu xuất phát củ cải to.

TẮC 31

MA CỐC CẦM GẬY NHIỄU GIƯỜNG

Lời dẫn: 

Động thì bóng hiện, giác thì băng sanh. Nếu không động không giác chưa khỏi vào hang chồn hoang. Tin được đến, thấu được tột, không còn mảy tơ chướng ngại, như rồng gặp nước, tợ cọp tựa núi. Buông đi thì ngói gạch sanh quang, nắm lại thì vàng ròng mất sắc, công án cổ nhân chưa khỏi phủ che. Hãy nói bình luận bên việc gì, thử cử xem?

Công án: 

Ma Cốc chống gậy đến Chương Kỉnh, đi nhiễu giường thiền ba vòng, giộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên. Chương Kỉnh nói: “Phải! Phải!” (Tuyết Đậu trước ngữ: Lầm!) Ma Cốc lại đến Nam Tuyền, đi nhiễu giường thiền ba vòng, giộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên. Nam Tuyền nói: “Chẳng phải! Chẳng phải!” (Tuyết Đậu trước ngữ: Lầm!) Ma Cốc nói: “Chương Kỉnh nói phải, tại sao Hòa thượng nói chẳng phải?” Nam Tuyền nói: “Chương Kỉnh tức phải, còn ông chẳng phải, đây là bị sức gió chuyển, trọn thành bại hoại.”

Giải thích: 

Cổ nhân đi hành khước trải khắp tùng lâm, hẳn đem việc này làm niệm, cần biện rõ các vị Lão hòa thượng ngồi trên giường gỗ là đủ mắt hay không đủ mắt. Cổ nhân một lời nói khế hợp liền ở, một lời không khế hợp liền đi. Xem Ma Cốc đến Chương Kỉnh, đi nhiễu giường thiền ba vòng, giộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên. Chương Kỉnh nói: “Phải! Phải!” Đao giết người, kiếm cứu người, phải là bổn phận kẻ tác gia. Tuyết Đậu nói: “Lầm!” Rơi tại hai bên. Nếu ông đến hai bên hội là chẳng thấy ý Tuyết Đậu. Ma Cốc đứng nghiễm nhiên là vì việc gì? Tuyết Đậu vì sao lại nói lầm? Chỗ nào là chỗ lầm của Ma Cốc? Chương Kỉnh nói phải, chỗ nào là chỗ phải? Tuyết Đậu như ngồi đọc lời phán. 

Ma Cốc mang chữ “phải” đến yết kiến Nam Tuyền. Như trước đi nhiễu giường thiền ba vòng, giộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên. Nam Tuyền nói: “Chẳng phải, chẳng phải!” Đao giết người, kiếm cứu người, phải là bổn phận tông sư. Tuyết Đậu nói: “Lầm!” Chương Kỉnh nói phải phải, Nam Tuyền nói chẳng phải chẳng phải, lại là đồng hay khác? Phần trước phải, tại sao lại lầm? Phần sau nói chẳng phải, tại sao cũng lầm? Nếu nhằm dưới câu nói của Chương Kỉnh tiến được, tự cứu cũng chưa xong. Nếu nhằm dưới câu nói của Nam Tuyền tiến được, đáng làm thầy Phật tổ. Tuy nhiên thế ấy, hàng thiền tăng phải tự nhận mới được. Chớ nhằm miệng người biện biệt, Ma Cốc hỏi một loại, tại sao người nói phải, người nói chẳng phải? Nếu là người thông phương tác gia được đại giải thoát, ắt phải riêng có sanh nhai. Nếu là kẻ cơ cảnh chưa quên, quyết định mắc kẹt ở hai đầu này. Nếu cần biện rành cổ kim, cắt đứt lưỡi người trong thiên hạ, phải rõ hai cái lầm này mới được.

Đến đoạn sau, Tuyết Đậu tụng cũng chỉ tụng hai cái lầm này. Tuyết Đậu cần nêu lên chỗ sống linh động, cho nên nói như thế. Nếu là kẻ dưới da có máu, tự nhiên chẳng nhằm trong ngôn cú khởi giải hội, chẳng nhằm trên cọc cột lừa khởi đạo lý. Có người nói: “Tuyết Đậu thay Ma Cốc hạ hai chữ lầm.” Thế có gì giao thiệp. Đâu chẳng biết người xưa trước ngữ là khóa chặt cửa trọng yếu, bên này cũng phải, bên kia cũng phải, cứu cánh chẳng ở hai bên. Tạng chủ Khánh nói: “Chống tích trượng, nhiễu giường thiền, phải cùng chẳng phải đều lầm, kỳ thật cũng chẳng tại đây.” Ông đâu chẳng thấy, Vĩnh Gia đến Tào Khê yết kiến Lục Tổ, đi nhiễu giường thiền ba vòng, giộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên. Lục Tổ quở: “Phàm người Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Đại đức từ phương nào đến mà sanh đại ngã mạn?” Tại sao Lục Tổ lại nói kia sanh đại ngã mạn? Cái này chẳng nói phải, cũng chẳng nói không phải, phải cùng không phải đều là cọc cột lừa. Chỉ có Tuyết Đậu hạ hai chữ lầm, còn gần đôi chút. 

Ma Cốc nói: “Chương Kỉnh nói phải, tại sao Hòa thượng nói chẳng phải?” Lão này chẳng tiếc lông mày, vòng vo chẳng ít. Nam Tuyền nói: “Chương Kỉnh thì phải, còn ông chẳng phải.” Nam Tuyền đáng gọi thấy thỏ thả chim ưng. Tạng chủ Khánh nói: “Nam Tuyền dài dòng quá mức, chẳng phải thì thôi, lại còn nói thêm “Đây là bị sức gió chuyển, trọn thành bại hoại.” Kinh Viên Giác nói: “Nay thân ta đây do tứ đại hòa hợp, nên nói tóc lông móng răng, da thịt gân xương, tủy não bụi nhơ đều thuộc về đất, nước miếng máu mủ đều thuộc về nước, hơi ấm thuộc lửa, động chuyển thuộc gió. Tứ đại mỗi cái rời ra, thân hư vọng này ở chỗ nào?” Ma Cốc cầm tích trượng đi nhiễu giường thiền đã bị sức gió chuyển trọn thành bại hoại. Hãy nói cứu cánh phát minh việc tâm tông tại chỗ nào? Đến đây phải là kẻ sắt thép đúc thành mới được.

Đâu chẳng thấy tú tài Trương Chuyết tham vấn thiền sư Trí Tạng ở Tây Đường, hỏi: “Sơn hà đại địa là có hay không? Chư Phật ba đời là có hay không?” Trí Tạng đáp: “Có.” Trương Chuyết nói: “Lầm!” Trí Tạng hỏi: “Ông từng tham kiến vị nào đến?” Trương Chuyết nói: “Tham kiến hòa thượng Kính Sơn đến. Tôi có hỏi lời gì, Kính Sơn đều nói không.” Trí Tạng bảo: “Ông có quyến thuộc gì?” Chuyết đáp: “Có một vợ quê, hai con khờ.” Trí Tạng lại hỏi: “Kính Sơn có quyến thuộc gì?” Chuyết đáp: “Kính Sơn là cổ Phật, Hòa thượng chớ phỉ báng ngài.” Trí Tạng bảo: “Đợi khi ông giống Kính Sơn sẽ nói tất cả không.” Trương Chuyết cúi đầu lặng thinh.

Phàm là bậc tông sư tác gia cần vì người mở niêm cởi trói nhổ đinh tháo chốt, không thể chỉ giữ một bên, đẩy bên trái liền xoay bên phải, đẩy bên phải liền xoay bên trái. Xem Ngưỡng Sơn đến chỗ Trung Ấp tạ lễ thọ giới. Trung Ấp thấy đến, ở trên giường thiền vỗ tay nói: “Hòa thượng!” Ngưỡng Sơn liền sang đứng bên đông, lại sang đứng bên tây, lại sang đứng ở giữa, nhiên hậu tạ giới xong, lại lùi ra sau đứng. Trung Ấp hỏi: “Ở chỗ nào được tam-muội này?” Ngưỡng Sơn thưa: “Ở trên cái ấn Tào Khê gỡ được đem đến.” Trung Ấp hỏi: “Ông nói Tào Khê dùng tam-muội này tiếp người nào?” Ngưỡng Sơn thưa: “Tiếp Nhất Túc Giác.” Ngưỡng Sơn hỏi lại Trung Ấp: “Hòa thượng ở chỗ nào được tam-muội này?” Trung Ấp nói: “Ta ở chỗ Mã Tổ được tam-muội này.”

Nói thoại thế ấy, há chẳng phải là kẻ cử một rõ ba, thấy gốc biết ngọn. Long Nha dạy chúng nói: “Phàm người tham học phải thấu qua Phật tổ mới được. Hòa thượng Tân Phong nói: Thấy ngôn giáo của Tổ Phật như sanh oan gia, mới có phần tham học. Nếu thấu chẳng được bị Phật tổ lừa.” Có vị tăng ra hỏi: “Tổ Phật lại có tâm lừa người sao?” Long Nha đáp: “Ngươi nói sông hồ có tâm ngại người chăng?” Nói tiếp: “Sông hồ tuy không có tâm ngại người, chính vì thời nhân qua chẳng được, cho nên sông hồ trở thành ngại người, chẳng được nói sông hồ không ngại người. Tổ Phật tuy không có tâm lừa người, chính vì thời nhân thấu chẳng được, Tổ Phật trở thành lừa người, cũng chẳng được nói Tổ Phật không lừa người. Nếu thấu qua được Tổ Phật, người này tức qua Tổ Phật, phải là thể nhận được ý Tổ Phật, mới cùng hàng cổ nhân hướng thượng đồng. Như chưa thấu được, dù học Phật học Tổ đến muôn kiếp, cũng không có ngày đạt được.” Tăng hỏi: “Làm sao khỏi bị Phật tổ lừa?” Long Nha đáp: “Phải tự ngộ đi!” Đến đây phải như thế mới được. Vì sao? Vì người phải vì cho tột, giết người phải thấy máu. Nam Tuyền, Tuyết Đậu là loại người này mới dám niêm lộng.

Tụng:

Thử thác bỉ thác

Thiết kỵ niêm khước

Tứ hải lãng bình

Bách xuyên triều lạc.

Cổ sách phong cao thập nhị môn

Môn môn hữu lộ không tiêu sách 

Phi tiêu sách

Tác giả hảo cầu vô bệnh dược.

Dịch:

Đây lầm kia lầm

Tối kỵ niêm lấy

Bốn biển sóng dừng

Trăm sông triều xuống.

Cổ sách phong cao mười hai cửa

Mỗi cửa có đường vào tịch mịch.

Chẳng tịch mịch

Tác giả thích cầu thuốc không bệnh.

Giải tụng:

Bài tụng này giống hệt công án Đức Sơn đến yết kiến Quy Sơn. Trước đem công án lồng hai chuyển ngữ xỏ thành một xâu, nhiên hậu tụng ra. Đây lầm kia lầm, tối kỵ niêm lấy, ý Tuyết Đậu nói chỗ này một lầm, chỗ kia một lầm, tối kỵ niêm lấy, niêm lấy tức trái. Cần phải để hai chữ lầm như thế. Bốn biển sóng dừng, trăm sông triều xuống, quả là gió mát trăng trong. Nếu ông căn cứ hai chữ lầm hiểu được thì không còn việc gì, núi là núi, nước là nước, dài đó tự dài, ngắn đó tự ngắn, năm ngày một trận gió, mười ngày một cây mưa. Vì thế nói Bốn biển sóng dừng, trăm sông triều xuống.

Phần dưới tụng về Ma Cốc cầm gậy, Cổ sách phong cao mười hai cửa. Người xưa dùng roi làm sách (thúc tiến), nhà thiền lấy cây gậy làm sách (thúc tiến). Tây Vương mẫu trên hồ Dao Trì có mười hai cửa đỏ. Cổ sách tức là cây gậy, đầu gậy gió mát cao đến mười hai cửa đỏ. Chỗ Thiên tử và Đế-thích ở mỗi cái có mười hai cửa đỏ. Nếu người hiểu được hai chữ lầm thì trên đầu gậy sanh hào quang, cổ sách dùng cũng chẳng được. Người xưa nói: “Biết được cây gậy thì việc tham học một đời xong xuôi.” Lại nói: “Chẳng phải tiêu hình giữ việc rỗng, gậy báu Như Lai còn dấu vết”, cùng một loại này vậy. 

Đến đây bảy điên tám đảo, trong tất cả thời được đại tự đại. Mỗi cửa có đường vào tịch mịch, tuy có đường chỉ là tịch mịch. Đến đây Tuyết Đậu tự biết sơ hở, lại vì ông đả phá. Tuy nhiên như thế, cũng có chỗ Chẳng tịch mịch. Dù là tác giả khi không bệnh cũng nên trước tìm thuốc này uống mới được.

TẮC 32

THƯỢNG TỌA ĐỊNH ĐỨNG SỮNG

Lời dẫn: 

Mười phương ngăn dứt, ngàn mắt liền mở, một câu đứt dòng, muôn cơ ngưng bặt, lại có đồng sanh đồng tử chăng? Hiện thành công án xếp đặt chẳng được, sắn bìm của cổ nhân, thử mời cử xem?

Công án: 

Thượng tọa Định hỏi Lâm Tế: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Lâm Tế bước xuống giường thiền, nắm đứng cho một tát tai, liền xô ra. Thượng tọa Định đứng sững. Vị tăng đứng bên cạnh bảo: “Thượng tọa Định sao chẳng lễ bái.” Thượng tọa Định vừa lễ bái, bỗng nhiên đại ngộ.

Giải thích: 

Xem kia thế ấy, thẳng ra thẳng vào, thẳng qua thẳng lại mới là Lâm Tế chánh tông, có tác dụng thế ấy. Nếu thấu được có thể đổi trời làm đất, tự được thọ dụng. Thượng tọa Định là loại này, bị Lâm Tế một chưởng, lễ bái đứng dậy liền biết chỗ rơi. Sư là người miền Bắc, rất thật thà ngay thẳng, sau khi đã được lại chẳng xuất sư. Sau này, Sư toàn dùng cơ của Lâm Tế, quả là xuất sắc.

Một hôm, Sư đi trên đường gặp Nham Đầu, Tuyết Phong, Khâm Sơn ba người. Nham Đầu hỏi: “Ở đâu lại?” Sư đáp: “Lâm Tế lại.” Nham Đầu hỏi: “Hòa thượng mạnh khỏe?” Sư nói: “Đã quy tịch.” Nham Đầu nói: “Ba người chúng tôi tìm đến lễ bái, mà phước duyên cạn mỏng, lại nghe quy tịch, chẳng biết Hòa thượng lúc bình sinh có những ngôn cú gì, xin Thượng tọa nhắc lại vài tắc xem?” Sư liền nhắc: “Một hôm Lâm Tế dạy chúng: Trên khối thịt đỏ, có một chân nhân không ngôi vị thường từ diện môn các ông ra vào, người chưa chứng cứ hãy xem, xem! Có vị tăng ra hỏi: Thế nào là chân nhân không ngôi vị? Lâm Tế liền nắm đứng bảo: Nói, nói! Vị tăng suy nghĩ. Lâm Tế liền xô ra, nói: Chân nhân không ngôi vị là cái gì? Que cứt khô. Liền trở về phương trượng.” Nham Đầu bất giác le lưỡi. Khâm Sơn nói: “Sao chẳng nói phi chân nhân không ngôi vị?” Thượng tọa Định nắm đứng bảo: “Chân nhân không ngôi vị cùng phi chân nhân không ngôi vị cách nhau nhiều ít, nói mau, nói mau!” Khâm Sơn không nói được khiến mặt vàng thành xanh. Nham Đầu, Tuyết Phong lại gần lễ bái thưa: “Vị tăng này mới học không biết phải quấy, xúc não Thượng tọa, cúi mong từ bi tha thứ.” Sư nói: “Nếu chẳng phải hai thầy già này xin, sẽ giết con quỷ đái dầm này.”

Lại một hôm, Sư ở Trấn Châu đi thọ trai về đến cây cầu, gặp ba vị tọa chủ, một vị hỏi: “Thế nào là chỗ sâu của sông thiền đến tột đáy?” Sư nắm đứng toan ném xuống cầu, hai vị tọa chủ kia vội kêu cứu: “Thôi! Thôi! Y xúc phạm đến Thượng tọa, mong từ bi tha thứ.” Sư nói: “Nếu không phải hai Tọa chủ xin, cho y xuống tột đáy.” Xem thủ đoạn của Sư, toàn là tác dụng của Lâm Tế. Tuyết Đậu tụng ra:

Đoạn Tế toàn cơ kế hậu tung

Trì lai hà tất tại thung dung

Cự Linh đài thủ vô đa tử

Phân phá Hoa Sơn thiên vạn trùng.

Dịch:

Đoạn Tế toàn cơ noi dấu sau

Mang về nào hẳn tại thong dong

Tay mạnh Cự Linh nào mấy kẻ

Chẻ vỡ Hoa Sơn lớp muôn ngàn.

Giải tụng:

Tuyết Đậu tụng Đoạn Tế toàn cơ noi dấu sau, mang về nào hẳn tại thong dong, đại cơ đại dụng của Hoàng Bá chỉ riêng Lâm Tế kế thừa dấu vết. Nắm được đem ra không cho nghĩ nghị, nếu là do dự liền rơi vào ấm giới. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Như ta ấn ngón tay thì hải ấn phát quang, ông vừa dấy tâm thì trần lao khởi trước.” 

Hai câu Tay mạnh Cự Linh nào mấy kẻ, chẻ vỡ Hoa Sơn lớp muôn ngàn, thần Cự Linh có thần lực lớn, lấy tay chẻ xuống ngọn núi Thái Hoa, nước phun lên chảy vào sông Hoàng Hà. Thượng tọa Định nghi tình như đất chồng núi chứa, bị một chưởng của Lâm Tế liền được ngói bể băng tiêu.

TẮC 33

TRẦN THÁO ĐỦ MỘT CON MẮT

Lời dẫn: 

Đông Tây chẳng biện, Nam Bắc chẳng phân, từ sáng đến chiều từ chiều đến sáng, lại nói y ngủ gật chăng? Có khi mắt như sao băng, lại nói y tỉnh tỉnh chăng? Có khi gọi Nam làm Bắc, lại nói là có tâm hay vô tâm, là đạo nhân hay thường nhân? Nếu nhằm trong ấy thấu được mới biết chỗ rơi, mới biết cổ nhân thế ấy chẳng thế ấy. Hãy nói là thời tiết gì, thử cử xem?

Công án: 

Thượng thư Trần Tháo đến tham vấn Tư Phước. Tư Phước thấy lại, liền vẽ một vòng tròn. Tháo nói: “Đệ tử lại thế ấy, sớm đã chẳng được tiện, huống là lại vẽ một vòng tròn.” Tư Phước liền đóng cửa phương trượng. (Tuyết Đậu nói: Trần Tháo chỉ đủ một con mắt).

Giải thích: 

Thượng thư Trần Tháo cùng Bùi Hưu, Lý Cao là đồng thời. Thấy tăng đến, ông trước thỉnh thọ trai, kế cúng ba trăm tiền, sau khám biện. Một hôm, Vân Môn đến tham kiến nhau, ông hỏi: “Sách Nho thì chẳng hỏi, tam thừa mười hai phần giáo tự có tọa chủ, thế nào là việc hành cước trong nhà thiền?” Vân Môn hỏi: “Thượng thư từng hỏi bao nhiêu người rồi?” Tháo nói: “Chính nay hỏi Thượng tọa.” Vân Môn bảo: “Chính nay hãy gác lại, thế nào là giáo ý?” Tháo nói: “Quyển vàng trục đỏ.” Vân Môn bảo: “Cái này là văn tự ngữ ngôn, thế nào là giáo ý?” Tháo nói: “Miệng muốn bàn mà lời mất, tâm muốn duyên mà lự quên.” Vân Môn bảo: “Miệng muốn bàn mà lời mất là đối hữu ngôn, tâm muốn duyên mà lự quên là đối vọng tưởng, thế nào là giáo ý?” Tháo câm họng. Vân Môn hỏi: “Nghe nói Thượng thư xem kinh Pháp Hoa phải chăng?” Tháo nói: “Phải.” Vân Môn bảo: “Trong kinh nói “Tất cả trị sanh sản nghiệp đều cùng thật tướng chẳng trái nhau”, hãy nói Phi phi tưởng thiên hiện nay có bao nhiêu người thối vị?” Tháo lại câm họng. Vân Môn bảo: “Thượng thư chớ có thô xuất, thiền tăng ném hết ba kinh năm luận vào tùng lâm mười năm hai mươi năm còn chưa được gì, Thượng thư lại làm sao được hội?” Trần Tháo lễ bái, nói: “Tôi tội lỗi.”

Lại một hôm, ông cùng quan liêu lên lầu, trông thấy một số tăng đi đến. Một vị quan nói: “Đến đó đều là thiền tăng.” Tháo bảo: “Chẳng phải.” Vị quan hỏi: “Sao biết chẳng phải?” Tháo bảo: “Đợi đến gần vì ông khám phá.” Chúng tăng đến trước lầu, Tháo gọi to: “Thượng tọa!” Chúng tăng ngước đầu nhìn. Tháo bảo quan liêu: “Tôi nói mà chẳng tin.” Chỉ có một mình Vân Môn, ông khám phá chẳng được, vì kia đã tham kiến Mục Châu rồi.

Một hôm, ông đến tham kiến Tư Phước. Tư Phước thấy ông lại, liền vẽ một vòng tròn. Tư Phước là tôn túc dưới dòng Quy Ngưỡng, bình thường thích lấy cảnh tiếp người, thấy Trần Tháo liền vẽ một vòng tròn. Đâu ngờ Trần Tháo là hàng tác gia chẳng bị người lừa, khéo tự kiểm điểm nói, đệ tử đến thế ấy, sớm đã chẳng tiện, đâu kham lại vẽ một vòng tròn. Tư Phước đóng cửa phương trượng. Loại công án này gọi là “Trong lời biện đích, trong câu tàng cơ”. 

Tuyết Đậu nói: Trần Tháo đủ một con mắt. Tuyết Đậu đáng gọi là có con mắt trên đảnh. Hãy nói ý tại chỗ nào? Cũng khéo cho một vòng tròn. Nếu thảy thế ấy thì nhà thiền làm sao vì người? Tôi thử hỏi ông, khi ấy nếu các ông là Trần Tháo nên thốt ra những lời gì khỏi bị Tuyết Đậu nói chỉ đủ một con mắt? Vì thế, Tuyết Đậu lật ngược, tụng ra.

Tụng:

Đoàn đoàn châu nhiễu ngọc san san

Mã tải lư đà thượng thiết thoàn

Phân phó hải sơn vô sự khách

Điếu ngao thời hạ nhất khuyên loan.

Dịch:

Tròn tròn châu nhiễu ngọc san san

Ngựa chở lừa lôi đến thiết thoàn

Giao gửi núi sông khách vô sự 

Câu ngao nên thả cái tròng quàng.

Tuyết Đậu lại nói: Thiền tăng khắp xứ khó nhảy khỏi.

Giải tụng:

Hai câu tròn tròn châu nhiễu ngọc san san, ngựa chở lừa lôi đến thiết thoàn, Tuyết Đậu ngay đầu tụng ra, chỉ tụng cái tướng vòng tròn. Nếu hội được giống như cọp mọc sừng, cái này phải như thùng lủng đáy, dừng toan tính, được mất phải quấy một lúc buông hết, lại chẳng cần hội đạo lý, cũng chẳng được khởi hội huyền diệu, cứu cánh phải làm sao hội? Cái này phải là Ngựa chở lừa lôi đến thiết thoàn, trong ấy xem mới được. Chỗ khác thì không thể giao gửi, phải đem Giao gửi núi sông khách vô sự. Nếu ông trong lòng còn đôi chút việc thì thừa đương không được. Trong đây phải là người hữu sự vô sự, nghịch tình thuận cảnh, hoặc Phật hoặc Tổ không làm gì được, người này mới đáng thừa đương. Nếu có Thiền nên tham, có phàm thánh tình lượng, quyết định thừa đương nó không được. Thừa đương được rồi làm sao hội? 

Kia nói Câu ngao nên thả cái tròng quàng, câu ngao phải thả cái tròng bẫy mới được. Vì thế, Phong Huyệt nói: “Quen câu kình nghê ngâm đồng rộng, lại than ếch nhảy trên cát bùn.” Lại nói: “Ngao to chớ đội ba núi chạy, tôi muốn dạo chơi chót đảnh Bồng.” Tuyết Đậu lại nói: “Thiền tăng khắp xứ khó nhảy khỏi.” Nếu là ngao to trọn không khởi kiến giải thiền tăng. Nếu là thiền tăng trọn không khởi kiến giải ngao to.

TẮC 34

NGƯỠNG SƠN CHẲNG TỪNG DẠO NÚI

Công án: 

Ngưỡng Sơn hỏi tăng: “Vừa rời chỗ nào?” Tăng thưa: “Lô Sơn.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Từng dạo Ngũ Lão Phong chăng?” Tăng thưa: “Chẳng từng đến.” Ngưỡng Sơn nói: “Xà-lê chẳng từng dạo núi.” (Vân Môn nói: Lời này vì cớ từ bi nên nói rơi trong cỏ.)

Giải thích: 

Nghiệm người đến chỗ đoan đích, thốt lời liền là tri âm. Cổ nhân nói: Không lượng đại nhân nhằm trong ngữ mạch chuyển đi. Nếu là đủ con mắt ở đảnh môn, nhắc đến liền biết chỗ rơi. Xem kia một hỏi một đáp, rõ ràng phân minh, vì sao Vân Môn lại nói “lời này vì cớ từ bi nên nói rơi trong cỏ”? Cổ nhân đến đây như gương sáng trên đài, minh châu trong tay, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán, một con ruồi cũng không qua được. Hãy nói thế nào là cớ từ bi nên nói rơi trong cỏ? Cũng quả là hiểm hóc. Đến điền địa này phải là trượng phu mới có thể nắm bắt.

Vân Môn niêm rằng: Vị tăng này chính từ Lô Sơn đến, vì sao lại nói “Xà-lê chẳng từng dạo núi”? Quy Sơn một hôm hỏi Ngưỡng Sơn: “Có tăng các nơi đến, con đem cái gì nghiệm họ?” Ngưỡng Sơn thưa: “Con có chỗ nghiệm.” Quy Sơn bảo: “Con thử nêu xem.” Ngưỡng Sơn thưa: “Con bình thường thấy tăng đến chỉ dựng cây phất tử lên, nhằm y nói: Các nơi lại có cái này chăng? Đợi y có nói, chỉ nhằm y bảo: Cái này thì gác lại, cái ấy thế nào? Quy Sơn bảo: “Đây là nanh vuốt của người hướng thượng.”

Há chẳng thấy Mã Tổ hỏi Bá Trượng: “Ở chỗ nào đến?” Bá Trượng thưa: “Dưới núi đến.” Mã Tổ hỏi: “Trên đường gặp được một người chăng?” Bá Trượng thưa: “Chẳng từng gặp.” Mã Tổ hỏi: “Vì sao chẳng từng gặp?” Bá Trượng thưa: “Nếu gặp được tức trình lên Hòa thượng.” Mã Tổ hỏi: “Ở đâu được tin tức này?” Bá Trượng thưa: “Con tội lỗi.” Mã Tổ nói: “Lại là lão tăng tội lỗi.” 

Ngưỡng Sơn hỏi tăng chính giống loại này. Khi ấy đợi hỏi “từng đến Ngũ Lão Phong chăng”, vị tăng này nếu là người cụ nhãn chỉ đáp “việc họa”, lại đáp “chẳng từng đến”. Tăng này đã chẳng phải tác gia, Ngưỡng Sơn sao chẳng cứ lệnh mà hành, khỏi thấy phần sau có nhiều sắn bìm. Ngưỡng Sơn lại nói “Xà-lê chẳng từng dạo núi”. Vì thế Vân Môn nói “lời này vì cớ từ bi nên nói rơi trong cỏ”. Nếu là lời ra khỏi cỏ thì chẳng thế ấy.

Tụng:

Xuất thảo nhập thảo

Thùy giải tầm thảo

Bạch vân trùng trùng

Hồng nhật cảo cảo

Tả cố vô hà

Hữu hệ dĩ lão

Quân bất kiến Hàn Sơn tử

Hành thái tảo

Thập niên quy bất đắc

Vong khước lai thời đạo.

Dịch:

Ra cỏ vào cỏ

Ai biết tìm kiếm

Mây trắng hàng hàng

Trời hồng rỡ rỡ

Xem trái không tỳ

Liếc phải đã lão

Anh chẳng thấy Hàn Sơn tử

Đi quá sớm

Mười năm về chẳng được

Quên mất đường quay lại.

Giải tụng:

Hai câu Ra cỏ vào cỏ, ai biết tìm kiếm, Tuyết Đậu đã biết chỗ rơi của kia. Đến trong đó một tay đưa lên một tay đè xuống nói Mây trắng hàng hàng, trời hồng rỡ rỡ, giống như “cỏ xanh xanh, mây xám xám”. Đến trong này không một mảy tơ thuộc phàm, không một mảy tơ thuộc thánh, khắp cõi chẳng từng giấu, mỗi mỗi che đậy chẳng được. Thế nên nói “cảnh giới vô tâm”, lạnh chẳng nghe lạnh, nóng chẳng nghe nóng, hoàn toàn là cửa đại giải thoát. 

Hai câu xem trái không tỳ, liếc phải đã lão, ý giống câu chuyện hòa thượng Lại Toản ở ẩn Hành Sơn trong thất đá, vua Đường Túc Tông nghe danh Sư, sai sứ đến triệu thỉnh. Sứ giả đến thất nói to: “Thiên tử có chiếu, Tôn giả nên đứng dậy lễ tạ ơn.” Sư vói tay vạch trong đống un mò được một củ khoai nướng lột ăn, nước mũi chảy lòng thòng, mà không đáp lời sứ. Sứ giả cười nói: “Xin khuyên Tôn giả lau nước mũi.” Sư nói: “Tôi đâu rảnh vì người tục lau nước mũi.” Trọn không đi, sứ giả trở về tâu vua, vua kính phục và tán thán. Giống như loại này, trong veo veo, trắng tinh tinh, không chịu người xử phân, hẳn là nắm được định, như sắt thép đúc thành.

Đến như hòa thượng Thiện Đạo gặp pháp nạn, sau chẳng trở lại làm Tăng, người đời gọi là Cư sĩ thất đá, mỗi khi đạp chày giã gạo, Sư quên giở chân. Có vị tăng hỏi Lâm Tế: Cư sĩ thất đá quên giở chân là ý chỉ thế nào? Lâm Tế đáp: Chìm lịm hầm sâu. 

Pháp Nhãn làm bài tụng Viên Thành Thật Tánh rằng: 

Lý tột quên tình vị, làm sao có dụ bằng. 

Đến nơi trăng đêm lạnh, hồn nhiên rơi trước khe. 

Trái chín vượn rất quý, núi dài tợ quên đường. 

Ngước đầu nắng mờ nhạt, nguyên là ở phương tây. 

Tuyết Đậu nói: Anh chẳng thấy Hàn Sơn tử, đi quá sớm, mười năm về chẳng được, quên mất đường quay lại. Thơ của Hàn Sơn: 

Muốn được chỗ an thân, 

Hàn Sơn đáng bền giữ, 

Gió nhẹ thổi tùng dày, 

Gần nghe tiếng càng thích. 

Có người tóc điểm sương, 

Ngâm nga đọc Hoàng Lão, 

Mười năm về chẳng được, 

Quên mất đường quay lại. 

Vĩnh Gia nói: “Tâm là căn pháp là trần, hai thứ ví như vết trên gương, tỳ vết hết rồi sáng mới hiện, tâm pháp đều quên tánh tức chân.” Đến đây như si tợ ngốc mới thấy công án này. Nếu chẳng đến điền địa ấy, chỉ ở trong lời nói chạy, có ngày nào được xong.

TẮC 35

VĂN-THÙ TRƯỚC SAU BA BA

Lời dẫn: 

Định rắn rồng, phân ngọc đá, rành trắng đen, quyết do dự, nếu chẳng phải trên đỉnh môn có mắt, trong tay có thần phù, thường thường đối đầu lầm qua. Chỉ như hiện nay thấy nghe chẳng lầm, thanh sắc thuần chân, hãy nói là đen hay trắng, là cong hay ngay. Đến trong đây làm sao biện?

Công án: 

Văn-thù hỏi Vô Trước: “Vừa rời chỗ nào?” Vô Trước đáp: “Phương nam.” Văn-thù hỏi: “Phương nam Phật pháp trụ trì thế nào?” Vô Trước đáp: “Thời mạt pháp, Tỳ-kheo ít giữ giới luật.” Văn-thù hỏi: “Chúng nhiều ít?” Vô Trước đáp: “Hoặc ba trăm hoặc năm trăm.” Vô Trước hỏi Văn-thù: “Ở đây trụ trì thế nào?” Văn-thù đáp: “Phàm thánh đồng ở, rắn rồng lẫn lộn.” Vô Trước hỏi: “Chúng nhiều ít?” Văn-thù đáp: “Trước ba ba, sau ba ba.’’

Giải thích: 

Vô Trước dạo Ngũ Đài Sơn, đến giữa đường chỗ hoang vắng, Văn-thù hóa một cái chùa tiếp Sư nghỉ. Văn-thù hỏi: “Vừa rời chỗ nào?” Vô Trước đáp: “Phương nam.” Văn-thù hỏi: “Phương nam Phật pháp trụ trì thế nào?” Vô Trước đáp: “Thời mạt pháp, Tỳ-kheo ít giữ giới luật.” Văn-thù hỏi: “Chúng nhiều ít?” Vô Trước đáp: “Hoặc ba trăm hoặc năm trăm.” Vô Trước hỏi Văn-thù: “Ở đây trụ trì thế nào?” Văn-thù đáp: “Phàm Thánh đồng ở, rắn rồng lẫn lộn.” Vô Trước hỏi: “Chúng nhiều ít?” Văn-thù đáp: “Trước ba ba sau ba ba.” Uống trà, Văn-thù đưa cái chung pha lê hỏi: “Phương nam có cái này chăng?” Vô Trước đáp: “Không.” Văn-thù hỏi: “Bình thường lấy cái gì uống trà?” Vô Trước không đáp được, bèn từ giã ra đi, Văn-thù sai đồng tử Quân Đề tiễn ra cổng. Vô Trước hỏi Quân Đề: “Vừa rồi nói trước ba ba sau ba ba là nhiều hay ít?” Quân Đề gọi: “Đại đức!” Vô Trước ứng thanh: “Dạ!” Quân Đề hỏi: “Nhiều hay ít?” Vô Trước lại hỏi: “Đây là chùa gì?” Quân Đề chỉ mặt sau chùa Kim Cang. Vô Trước xoay đầu nhìn thì chùa hóa và đồng tử đều ẩn chẳng thấy, chỉ là hang trống. Chỗ kia sau này gọi là hang Kim Cang.

Có vị tăng hỏi Phong Huyệt: “Thế nào là chủ trong núi Thanh Lương?” Phong Huyệt đáp: “Một câu chẳng rảnh Vô Trước hỏi, đến nay vẫn làm Tăng đồng quê.” Nếu cần tham được thấu đến chỗ bình bình thật thật, chân đạp đến chỗ đất thật, nhằm dưới lời nói của Sư tiến được, tự nhiên ở trong chảo dầu lò lửa cũng chẳng nghe nóng, ở trên băng lạnh cũng chẳng nghe lạnh. Nếu muốn tham được thấu chỗ chót vót nguy hiểm như bảo kiếm Kim Cang Vương, nên nhằm dưới lời Văn-thù tiến được, tự nhiên nước rưới chẳng dính, gió thổi chẳng vào.

Địa Tạng Quế Sâm ở Chương Châu hỏi tăng: “Vừa rời chỗ nào?” Tăng thưa: “Phương nam.” Địa Tạng hỏi: “Trong kia Phật pháp thế nào?” Tăng thưa: “Tranh cãi ồn náo.” Địa Tạng nói: “Đâu như ta ở đây, cấy lúa thổi cơm mà ăn.” Hãy nói cùng chỗ đáp của Văn-thù là đồng hay khác? Có người nói: “Chỗ đáp của Sư chẳng phải, chỗ đáp của Văn-thù có rồng có rắn, có phàm có thánh. Hiểu thế thì có gì giao thiệp. Lại biện rõ trước ba ba sau ba ba chăng? Mũi tên trước còn nhẹ, mũi sau rất sâu. Hãy nói là nhiều hay ít? Nếu nhằm trong ấy thấu được thì ngàn câu muôn câu chỉ là một câu. Nếu ngay dưới một câu chặt được đứt, nắm được đứng, chính lúc ấy đến được cảnh giới này.

Tụng:

Thiên phong bàn khuất sắc như lam

Thùy vị Văn-thù thị đối đàm

Kham tiếu Thanh Lương đa thiểu chúng

Tiền tam tam dữ hậu tam tam.

Dịch:

Vây quanh ngàn chót sắc dường chàm

Ai bảo Văn-thù với luận bàn

Cười ngất Thanh Lương chúng nhiều ít

Trước ba ba sau lại ba ba.

Giải tụng:

Hai câu “Vây quanh ngàn chót sắc dường chàm, ai bảo Văn-thù với luận bàn”, có người nói Tuyết Đậu chỉ niêm lại một lần, chưa từng tụng đến. Như Tăng hỏi Pháp Nhãn: “Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?” Pháp Nhãn đáp: “Là một giọt nước nguồn Tào.” Lại có vị tăng hỏi hòa thượng Giác ở Lang Nha: “Vốn sẵn thanh tịnh tại sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Giác đáp: “Vốn sẵn thanh tịnh tại sao chợt sanh sơn hà đại địa.” Đây cũng gọi là niêm lại một lần sao? Minh Chiêu hiệu Độc Nhãn Long cũng tụng ý này, có cơ che trời che đất, nói: 

Khắp trùm sa giới thắng già-lam

Đầy mắt Văn-thù với luận bàn

Dưới cú chẳng hay mở Phật nhãn

Xoay đầu chỉ thấy đảnh sơn lam.

Câu “Khắp trùm sa giới thắng già-lam”, là chỉ chùa hóa ở hang cỏ, nên nói có cơ quyền thật song hành. Ba câu “Đầy mắt Văn-thù với luận bàn, dưới cú chẳng hay mở Phật nhãn, xoay đầu chỉ thấy đảnh sơn lam”, chính khi ấy gọi là cảnh giới Văn-thù, Phổ Hiền, Quán Âm được chăng? Quả là chẳng phải đạo lý này. Tuyết Đậu chỉ đổi cái dụng của Minh Chiêu, lại có thêm bớt. Như câu Vây quanh ngàn chót sắc dường chàm, lại chẳng bị trầy tay xể chân, trong câu có quyền có thật, có lý có sự. Đến câu Ai bảo Văn-thù với luận bàn, một đêm bàn luận mà không biết Văn-thù. Sau này, Vô Trước ở Ngũ Đài Sơn làm Điển tọa, mỗi khi Văn-thù hiện trên nồi cháo, bị Vô Trước cầm cây giầm quậy cháo đập. Tuy nhiên như thế, vẫn là giặc qua rồi mới trương cung. Chính khi hỏi “phương nam Phật pháp trụ trì thế nào”, nhằm thẳng xương sống mà đánh vẫn còn gần được đôi chút. 

Đến câu Cười ngất Thanh Lương chúng nhiều ít, trong tiếng cười của Tuyết Đậu có dao, nếu hiểu được cái cười này, liền thấy được Trước ba ba sau lại ba ba.

TẮC 36

TRƯỜNG SA CỎ THƠM HOA RỤNG

Công án: 

Một hôm Trường Sa đi dạo núi về đến cửa cổng, Thủ tọa hỏi: “Hòa thượng đi đâu về?” Trường Sa đáp: “Đi dạo núi về.” Thủ tọa hỏi: “Đến chỗ nào đi về?” Trường Sa đáp: “Trước tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về.” Thủ tọa nói: “Rất giống ý xuân.” Trường Sa nói: “Cũng hơn giọt sương thu trên hoa sen.” (Tuyết Đậu trước ngữ: Tạ đáp thoại.)

Giải thích: 

Đại sư Chiêu Hiền ở Lộc Uyển Trường Sa kế thừa Nam Tuyền, cùng Triệu Châu, Tử Hồ đồng bạn. Sư cơ phong nhanh nhẹn, có người hỏi kinh lấy kinh đáp, cần tụng dùng tụng đáp. Nếu ông cần tác gia thấy nhau thì dùng tác gia thấy nhau. Ngưỡng Sơn bình thường cơ phong thật là bậc nhất, một hôm cùng Trường Sa xem trăng, Ngưỡng Sơn chỉ mặt trăng nói: “Mỗi người trọn có cái này, chỉ vì dùng chẳng được.” Trường Sa bảo: “Được rồi ta dùng thay cho ông.” Ngưỡng Sơn nói: “Sư thúc dùng xem!” Trường Sa cho một đạp té nhào. Ngưỡng Sơn đứng dậy nói: “Sư thúc giống như con cọp.’’ Người sau gọi là con cọp Sầm. 

Một hôm nhân đi dạo núi về, Thủ tọa cũng là người trong hội của Sư, hỏi: “Hòa thượng đi đâu về?” Trường Sa đáp: “Đi dạo núi về.” Thủ tọa hỏi: “Đến chỗ nào đi về?” Trường Sa đáp: “Trước tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về.” Phải là người đoạn dứt mười phương mới được. Cổ nhân ra vào chưa từng chẳng lấy việc này làm niệm. Xem kia chủ khách lẫn xoay, đương cơ chặt thẳng, mỗi bên chẳng dung. Đã là đi dạo núi, tại sao hỏi đến chỗ nào đi về? Nếu là thiền tăng thời nay liền đáp đến đình Giáp Sơn về. Thấy rõ cổ nhân không có mảy may đạo lý so sánh, cũng không có chỗ trụ trước, vì thế nói “trước tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về”. Thủ tọa thể theo ý kia nói: “Rất giống ý xuân.” Trường Sa bảo: “Cũng hơn giọt sương thu trên hoa sen.” Tuyết Đậu nói: “Tạ đáp thoại.” Đó là thế cho lời rốt sau, cũng rơi vào hai bên, mà cứu cánh chẳng ở hai bên. 

Thuở xưa có tú tài Trương Chuyết xem kinh Thiên Phật Danh, hỏi Trường Sa: “Trăm ngàn chư Phật chỉ nghe danh, chưa biết ở quốc độ nào, lại có giáo hóa hay không?” Trường Sa đáp: “Lầu Hoàng Hạc sau khi Thôi Hạo đề thi, Tú tài từng đề hay chưa?” Chuyết đáp: ‘‘Chưa từng đề.” Trường Sa bảo: “Được rảnh đề lấy một thiên cũng tốt.” Con cọp Sầm bình sinh vì người thường là châu hồi ngọc chuyển, cần người đối diện liền hội.

Tụng:

Đại địa tuyệt tiêm ai

Hà nhân nhãn bất khai

Thủy tùy phương thảo khứ

Hựu trục lạc hoa hồi

Luy hạc kiều hàn mộc

Cuồng viên khiếu cổ đài

Trường Sa vô hạn ý. 

Đốt!

Dịch:

Đại địa không mảy bụi

Người nào mắt chẳng khai

Trước tùy cỏ thơm đến

Sau theo hoa rụng về

Hạc gầy đậu cây lạnh

Vượn cuồng kêu cổ đài

Trường Sa ý vô hạn. 

Chao! (Tiếng hét)

Giải tụng:

Hãy nói công án này cùng “Ngưỡng Sơn hỏi tăng vừa rời chỗ nào đến, tăng thưa Lô Sơn đến, Ngưỡng Sơn hỏi từng đến Ngũ Lão Phong chăng, tăng thưa chẳng từng đến, Ngưỡng Sơn nói Xà-lê chưa từng dạo núi”, biện trắng đen xem là đồng là khác? Đến đây phải là suy tính bặt, ý thức mất, núi sông đất liền cỏ cây người súc không còn ít phần rỉ chảy. Nếu chẳng như thế, cổ nhân gọi đó vẫn còn ở trong cảnh giới thắng diệu. Vân Môn nói: “Dù được sơn hà đại địa không còn một mảy may lỗi lầm vẫn là “chuyển cú”, chẳng thấy tất cả sắc mới là ‘‘bán đề’’, lại phải biết có cơ hội toàn đề then chốt hướng thượng mới biết ngồi an”. Nếu thấu được như trước núi là núi, nước là nước, mỗi cái ở bản vị của nó, mỗi cái bày hiện bản thể, như cái vỗ của người mù.

Triệu Châu nói: “Gà gáy sớm tỉnh dậy, buồn thay còn lận đận, chiếc quần đùi áo lót vẫn không, hình tướng ca-sa có chút ít. Quần không trôn, khố chẳng miệng, trên đầu tro xanh năm ba đấu, vốn vì tu hành lợi tế người, ai biết trở thành kẻ vô dụng.” Nếu được chân thật đến cảnh giới này thì Người nào mắt chẳng khai. Dù cho bảy điên tám đảo, tất cả chỗ đều là cảnh giới này, đều là thời tiết này, mười phương bầu trời rỗng, bốn mặt cửa cũng không. Vì thế nói Trước tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về

Tuyết Đậu thật là khéo léo, chỉ đến bên phải dán một câu, bên trái dán một câu, liền thành bài thi, Hạc gầy đậu cây lạnh, vượn cuồng kêu cổ đài. Tuyết Đậu dẫn đến đây tự biết bày vẽ, bèn nói Trường Sa ý vô hạn, chao!, như đang mộng chợt tỉnh. Tuyết Đậu tuy hạ một tiếng hét cũng chưa được gột sạch. Nếu là sơn tăng thì chẳng vậy, “Trường Sa ý vô hạn, đào đất lại chôn sâu”.

TẮC 37

BÀN SƠN TAM GIỚI KHÔNG PHÁP

Lời dẫn:

Cơ điện chớp luống nhọc suy tư, tiếng sét trên không bịt tai nào kịp, trên đầu cắm cờ đỏ, sau lỗ tai huơi hai kiếm, nếu không phải mắt nhanh tay lẹ làm sao chụp được. Có một loại cúi đầu suy nghĩ, dưới ý căn so lường, đâu chẳng biết trước đầu lâu thấy quỷ vô số. Hãy nói chẳng rơi vào ý căn, chẳng ôm được mất, chợt có nhắc biết thế ấy làm sao đáp được, thử cử xem?

Công án: 

Bàn Sơn dạy rằng: Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm?

Giải thích: 

Hòa thượng Bảo Tích ở Bàn Sơn phía bắc U Châu, là bậc tôn túc dưới Mã Tổ, sau xuất phát một Phổ Hóa. Sư sắp tịch bảo chúng: “Có người tả được hình ta chăng?” Chúng đều vẽ hình trình Sư, Sư đều quở đó. Phổ Hóa ra nói: “Con tả được.” Sư bảo: “Sao chẳng trình cho lão tăng?” Phổ Hóa liền nhào lộn một cái rồi đi ra. Sư bảo: “Gã này về sau như kẻ điên tiếp người.” 

Một hôm, Sư dạy chúng: “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm, tứ đại vốn không, Phật nương đâu ở, ngọc tuyền chẳng động, dừng lặng không tỳ, nhìn mặt trình nhau, lại không việc khác.” Tuyết Đậu niêm ra hai câu tụng, hẳn là vàng thô ngọc thác. Chẳng thấy nói: Bệnh rét cách ngày, chẳng nhờ thuốc lô đà. Sơn tăng vì sao nói theo tiếng liền đánh, chỉ vì kia mang gông đi cáo. 

Người xưa nói: Nghe tiếng khen ngoài câu, chớ nhằm trong ý tìm. Hãy nói kia ý thế nào, liền được chạy nhanh vượt chóng, điện xẹt sao băng. Nếu nghĩ nghị suy lường, dù có ngàn Phật ra đời mò tìm y chẳng được. Nếu là vào sâu trong khuôn vức, tột xương tột tủy, thấy được thấu thì Bàn Sơn một trường thất bại. Nếu nương lời hiểu tông, xoay mặt xoay trái thì Bàn Sơn chỉ được một cây cọc. Nếu là dính bùn kẹt nước, xoay quanh trong khối thanh sắc thì chưa mộng thấy Bàn Sơn. 

Ngũ Tổ tiên sư nói: Thấu qua bên kia mới có phần tự do. Đâu chẳng thấy Tam Tổ nói: “Chấp đó thất độ, ắt vào tà lộ, buông đi tự nhiên, thể không đi đứng.” Nếu nhằm trong ấy nói không Phật không pháp lại là chun vào hang quỷ. Cổ nhân gọi đó là hầm sâu giải thoát, vốn là nhân lành mà chuốc quả dữ. Vì thế nói người vô vi vô sự vẫn mắc cái nạn khóa vàng. Phải là tột cùng đáo để mới được. Nếu nhằm chỗ vô ngôn mà nói được, chỗ hành chẳng được mà hành được, gọi đó là chỗ chuyển thân. Câu “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm”, nếu ông khởi tình giải thì chết chìm ở dưới lời nói kia. Chỗ thấy của Tuyết Đậu phủng bảy thấu tám, cho nên tụng ra.

Tụng:

Tam giới vô pháp

Hà xứ cầu tâm

Bạch vân vi cái

Lưu tuyền tác cầm

Nhất khúc lưỡng khúc vô nhân hội

Vũ quá dạ đường thu thủy thâm.

Dịch:

Tam giới không pháp

Chỗ nào tìm tâm

Mây trắng làm lọng

Dòng suối khảy đàn

Một bản hai bản không người hiểu

Mưa xuống hồ đêm nước thu sâu.

Giải tụng:

Câu Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm, Tuyết Đậu tụng ra giống như cảnh giới Hoa Nghiêm. Có người nói Tuyết Đậu trong không xướng ra. Nếu là người mi mắt mở ra, trọn chẳng hiểu thế ấy. 

Tuyết Đậu đến bên cạnh kia dán hai câu Mây trắng làm lọng, dòng suối khảy đàn. Tô Đông Pha tham kiến Chiếu Giác có làm tụng: “Tiếng khe chính thật lưỡi dài rộng, màu núi quả là thân sạch trong, đêm về tám vạn bốn ngàn kệ, hôm khác làm sao nói với người.” Tuyết Đậu mượn dòng suối làm chiếc lưỡi dài. Vì thế nói Một bản hai bản không người hiểu. Hòa thượng Kiền ở Cửu Phong nói: “Lại biết được mạng chăng? Dòng suối là mạng, lặng lẽ là thân, ngàn sóng đua dậy là gia phong Văn-thù, một sáng trời trong là cảnh giới Phổ Hiền.” 

Dòng suối khảy đàn, một bản hai bản không người hiểu, loại khúc điệu này phải là tri âm mới hiểu. Nếu chẳng phải người kia thì luống nhọc nghiêng tai. Cổ nhân nói: Người điếc xướng khúc nhạc nhà Hồ, hay dở thấp cao thảy chẳng nghe. Vân Môn nói: “Nêu chẳng đoái, liền sai lẫn, toan nghĩ suy, kiếp nào ngộ.” Nêu là thể, đoái là dụng, trước khi chưa nêu điềm trước chưa phân mà thấy được là đoạn dứt trọng yếu. Nếu điềm trước vừa phân mà thấy được, liền có chiếu dụng. Nếu sau khi điềm trước phân rồi mà thấy được là rơi tại ý căn. Tuyết Đậu từ bi quá lắm, lại nói với ông Mưa xuống hồ đêm nước thu sâu. 

Bài tụng này đã có nhiều người bàn luận khen Tuyết Đậu có tài hàn lâm. Câu Mưa xuống hồ đêm nước thu sâu, phải để mắt nhìn nhanh, nếu chậm chạp nghi ngờ thì tìm không ra.

TẮC 38

PHONG HUYỆT TỔ SƯ TÂM ẤN

Lời dẫn: 

Nếu luận Tiệm, trái thường hợp đạo, trong ồn náo bảy dọc tám ngang. Nếu luận Đốn chẳng để dấu vết, ngàn thánh dò tìm cũng chẳng được. Nếu như chẳng lập Đốn Tiệm lại làm sao? Người hay một lời, ngựa hay một roi, chính khi ấy ai là tác giả, thử cử xem? 

Công án: 

Phong Huyệt ở nha môn tại Dĩnh Châu, thượng đường nói: “Tâm ấn của Tổ sư như máy trâu sắt, đi liền ấn đứng, đứng liền ấn phá, chỉ như chẳng đi chẳng đứng ấn tức phải, chẳng ấn tức phải?” 

Khi ấy có trưởng lão Lô Pha ra chúng hỏi: “Tôi có máy trâu sắt thỉnh Thầy chẳng để tay ấn?” Phong Huyệt nói: “Quen câu kình nghê thả chằm lớn, lại than con ếch nhảy cát bùn.” Lô Pha dừng lại tư lự. Phong Huyệt nạt: “Trưởng lão sao không nói lên?” Lô Pha suy nghĩ. Phong Huyệt đánh một phất tử, nói: “Lại nhớ được thoại đầu chăng, thử cử xem?” Lô Pha toan mở miệng. Phong Huyệt lại đánh một phất tử. 

Mục Chủ nói: “Pháp Phật cùng pháp vua một loại.” Phong Huyệt hỏi: “Thấy đạo lý gì?” Mục Chủ nói: “Đáng đoạn chẳng đoạn, trở lại chuốc loạn.” Phong Huyệt liền xuống tòa.

Giải thích: 

Phong Huyệt là hàng tôn túc trong tông Lâm Tế. Lâm Tế buổi đầu trong hội Hoàng Bá đi trồng tùng. Hoàng Bá hỏi: “Trong núi sâu trồng tùng nhiều thế để làm gì?” Lâm Tế thưa: “Một vì sơn môn làm cảnh, hai vì người sau làm tiêu bảng.” Nói xong liền cuốc đất một cái. Hoàng Bá bảo: “Tuy nhiên như thế, con đã ăn hai mươi gậy rồi.” Lâm Tế lại đập dưới đất một cái, miệng “hư hư!” Hoàng Bá bảo: “Tông ta đến ngươi hưng thịnh ở đời.” Quy Sơn Triết nói: “Lâm Tế thế ấy giống như đất bằng trượt té. Tuy nhiên như thế, gặp nguy chẳng đổi mới là chân trượng phu. Hoàng Bá bảo tông ta đến ngươi hưng thịnh ở đời, giống như thương con chẳng biết hôi.” Sau Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: “Hoàng Bá đương thời chỉ phó chúc cho một mình Lâm Tế hay lại còn ai?” Ngưỡng Sơn thưa: “Còn, chỉ vì niên đại dài lâu chẳng dám thưa trước với Hòa thượng.” Quy Sơn bảo: “Tuy nhiên như thế, ta cũng cần biết, hãy nói xem?” Ngưỡng Sơn thưa: “Một người chỉ Nam, Ngô Việt khiến đi, gặp Đại Phong liền dừng.” Đây là lời sấm chỉ Phong Huyệt vậy. 

Phong Huyệt ban đầu tham kiến Tuyết Phong năm năm, nhân thưa hỏi câu chuyện “Lâm Tế vào nhà, hai vị thủ tọa nhà Đông nhà Tây đồng thời hét, có vị tăng hỏi Lâm Tế lại có chủ khách chăng, Lâm Tế nói chủ khách rõ ràng”, Phong Huyệt nói chưa biết ý chỉ thế nào? Tuyết Phong bảo: “Tôi trước cùng Nham Đầu, Khâm Sơn đi yết kiến Lâm Tế, đến giữa đường nghe tin đã tịch. Nếu cần hiểu câu chủ khách của Lâm Tế, phải đến tham kiến hàng tôn túc của tông phái ấy.”

Phong Huyệt lại đến yết kiến Thụy Nham. Thụy Nham thường tự gọi: “Ông chủ!” Tự đáp: “Dạ!’’ Lại bảo: “Tỉnh tỉnh lấy, về sau chớ để người lừa.’’ Phong Huyệt nói: “Tự đề lên, tự giải lấy có gì là khó.” Sau ở Lộc Môn Tương Châu cùng thị giả Khoách qua hạ, Khoách chỉ Sư đến tham Nam Viện. Phong Huyệt thưa: “Vào cửa phải rành chủ, rõ ràng thỉnh Thầy phân.” Một hôm gặp Nam Viện, Sư kể chuyện trước, nói: “Con chỉ đến thân cận.” Nam Viện bảo: “Tuyết Phong cổ Phật.”

Một hôm Sư yết kiến Cảnh Thanh. Cảnh Thanh hỏi: “Vừa rời chỗ nào?” Sư thưa: “Tự rời đông đến.” Cảnh Thanh hỏi: “Lại qua sông nhỏ chăng?” Sư thưa: “Thuyền to vượt ngoài khơi, sông nhỏ không thể chở.” Cảnh Thanh bảo: “Sông gương núi vẽ, chim bay chẳng qua, ngươi chớ nghe trộm di ngôn.” Sư thưa: “Mênh mông còn khiếp thế mông luân, Liệt Hán buồm bay quá Ngũ Hồ.” Cảnh Thanh dựng cây phất tử hỏi: “Làm gì được cái này?” Sư hỏi: “Cái này là gì?” Cảnh Thanh bảo: “Quả nhiên chẳng biết.” Sư thưa: “Ra vào co duỗi cùng thầy đồng dụng.” Cảnh Thanh bảo: “Chuôi gáo nghe tiếng rỗng, ngủ mê mặc nói xàm.” Sư thưa: “Đầm rộng chứa núi, lý hay dẹp cọp.” Cảnh Thanh bảo: “Tha tội thứ lỗi, phải ra đi mau.” Sư thưa: “Ra là mất.” Liền đi ra đến pháp đường, tự nghĩ đại trượng phu công án chưa xong há lại chịu thôi. Sư liền trở vào phương trượng thấy Cảnh Thanh ngồi, thưa: “Vừa rồi con trình kiến giải có xâm phạm đến tôn nhan, cúi mong Hòa thượng từ bi tha cho những lỗi lầm.” Cảnh Thanh hỏi: “Vừa rồi từ đông lại, há chẳng phải Thúy Nham lại?” Sư thưa: “Tuyết Đậu thân nương đông Bảo Cái.” Cảnh Thanh bảo: “Chẳng tìm dê mất cuồng giải dứt, lại đến trong này đọc tập thơ.” Sư thưa: “Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ.” Cảnh Thanh bảo: “Thơ mau đậy lại, tạm mượn kiếm xem?” Sư thưa: “Chặt đầu thợ gốm mang kiếm đi.” Cảnh Thanh bảo: “Chẳng những xúc chạm phong hóa, cũng tự bày lầm lẫn.” Sư thưa: “Nếu chẳng xúc chạm phong hóa đâu rõ được tâm cổ Phật.” Cảnh Thanh hỏi: “Sao gọi là tâm cổ Phật?” Sư thưa: “Tái hứa ưng cho, nay Thầy có gì?” Cảnh Thanh bảo: “Thiền tăng đông đến, đậu bắp chẳng phân.’’ Sư thưa: “Chỉ nghe chẳng lấy mà lấy, đâu được đè lấy mà lấy.” Cảnh Thanh bảo: “Sóng lớn dấy ngàn tầm, mòi yên chẳng rời nước.” Sư thưa: “Một câu bặt dòng, muôn cơ lặng nghĩ.” Sư liền lễ bái. Cảnh Thanh lấy phất tử điểm ba điểm, nói: “Hay thay! Hãy ngồi uống trà.”

Sư ban đầu đến Nam Viện vào cửa chẳng lễ bái. Nam Viện bảo: “Vào cửa cần biện chủ.” Sư thưa: “Quả nhiên mời Thầy phân.” Nam Viện lấy tay trái vỗ đầu gối một cái, Sư hét. Nam Viện lấy tay mặt vỗ đầu gối một cái, Sư cũng hét. Nam Viện đưa tay trái lên nói: “Cái này tức từ Xà-lê.” Lại đưa tay mặt lên nói: “Cái này lại là sao?” Sư đáp: “Mù!” Nam Viện liền đưa cây gậy lên. Sư hỏi: “Làm gì? Con đoạt cây gậy đập Hòa thượng, chớ bảo không nói.” Nam Viện liền ném cây gậy, nói: “Ngày nay bị gã Chiết mặt vàng làm khó một phen.” Sư thưa: “Hòa thượng giống như người mang bát không được, dối nói chẳng đói.” Nam Viện hỏi: “Xà-lê đã từng đến đây chăng?” Sư thưa: “Là lời gì?” Nam Viện bảo: “Khéo khéo hỏi lấy.” Sư thưa: “Cũng chẳng được bỏ qua.” Nam Viện bảo: “Hãy ngồi uống trà.” 

Các ông xem, dòng anh tuấn tự cơ phong cao vót. Nam Viện cũng chưa biện được Sư. Đến hôm khác, Nam Viện chỉ hỏi bình thường: “Hạ này ở chỗ nào?” Sư thưa: “Ở Lộc Môn cùng Thị giả Khoách đồng qua hạ.” Nam Viện bảo: “Vốn là thân kiến tác gia đến.’’ Lại hỏi: “Kia nói với ông cái gì?” Sư thưa: “Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ.” Nam Viện liền đánh đuổi ra khỏi phương trượng, nói: “Kẻ này là loại thua trận có dùng làm gì?’’ Từ đây Sư chấp nhận ở trong hội Nam Viện làm Tri viên. 

Một hôm, Nam Viện vào trong vườn hỏi: “Phương nam một gậy làm sao thương lượng?” Sư thưa: “Khởi kỳ đặc thương lượng”, lại hỏi: “Ở đây Hòa thượng làm sao thương lượng?” Nam Viện đưa gậy lên, nói: “Dưới gậy vô sanh nhẫn, lâm cơ chẳng nhượng thầy.” Khi ấy Sư hoát nhiên đại ngộ.

Bấy giờ nhằm thời Ngũ Đại ly loạn, Mục chủ Dĩnh Châu thỉnh Sư nhập hạ tại Dĩnh Châu. Chính là lúc một tông Lâm Tế rất thịnh hành. Sư phàm có vấn đáp chỉ dạy, câu lời thốt ra hay khéo dường tán hoa rải gấm, chữ chữ đều có chỗ rơi. Một hôm, Mục chủ thỉnh Sư thượng đường, Sư bảo chúng: “Tâm ấn Tổ sư như máy trâu sắt, đi liền ấn đứng, đứng liền ấn phá. Chỉ như chẳng đi chẳng đứng, ấn là phải, chẳng ấn là phải?” Vì sao chẳng giống máy người đá ngựa gỗ, lại giống máy trâu sắt? Không có chỗ cho ông tác động, ông vừa đi liền ấn đứng, ông vừa đứng liền ấn phá, khiến ông nát trăm mảnh. Chỉ như chẳng đi chẳng đứng, ấn là phải, chẳng ấn là phải? Xem Sư dạy thế ấy, đáng gọi là lưỡi câu có mồi.

Khi ấy dưới tòa có trưởng lão Lô Pha cũng là hàng tôn túc trong tông Lâm Tế, dám bước ra cùng Sư đối đáp, chuyển thoại đầu của Sư đặt một câu hỏi rất kỳ đặc. Hỏi: “Tôi có máy trâu sắt, thỉnh Thầy chẳng để tay ấn?” Đâu ngờ Phong Huyệt là hàng tác gia, liền đáp: “Quen câu kình nghê lặng chằm lớn, lại than con ếch nhảy cát bùn.” Đây là trong lời nói có âm vang. Vân Môn nói: “Thả câu bốn bể chỉ câu rồng to, cách ngoại huyền cơ vì tìm tri kỷ.” Chằm lớn phải lấy mười hai con trâu làm mồi móc câu, lại chỉ câu được một con ếch. Lời này vẫn không huyền diệu, cũng không đạo lý suy xét. 

Cổ nhân nói: Nếu nhằm trên sự xem thì dễ, nếu nhằm dưới ý căn suy xét thì không giao thiệp. Lô Pha dừng lại tư lự, thấy đó chẳng lấy, ngàn năm khó gặp, đáng tiếc thay! Vì thế nói: Dù cho giảng được ngàn kinh luận, một phen lâm cơ khó buông lời. Kỳ thật Lô Pha cần lựa lời hay đáp Sư, chẳng muốn hành lệnh, bị Sư một bề dùng cơ phong giật cờ cướp trống, một mặt ép tướng chạy, chỉ được không làm gì. Ngạn ngữ nói: “Trận thua chẳng cấm bị chổi quét.” Buổi đầu cần tìm thương pháp chống với người. Đợi ông tìm được thì đầu rơi xuống đất. 

Mục chủ cũng đã tham vấn Phong Huyệt lâu rồi, nên hiểu nói: “Pháp Phật cùng pháp vua một loại.” Sư hỏi: “Ông thấy gì?” Mục chủ thưa: “Đáng đoạn chẳng đoạn, trở lại chuốc loạn.” Phong Huyệt chỉ là một khối tinh thần, giống hệt trái bầu tròn trên mặt nước, đẩy qua liền xoay, chạm đến liền động, khéo tùy cơ thuyết pháp. Nếu chẳng tùy cơ trở thành vọng ngữ. Sư liền xuống tòa. 

Tông Lâm Tế có bốn câu chủ khách, người tham học cần phải chín chắn. Như chủ khách gặp nhau có luận bàn chủ khách qua lại, hoặc ứng vật hiện hình toàn thể tác dụng, hoặc nắm cơ quyền cười giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc cưỡi sư tử, hoặc cưỡi voi chúa. 

Như có người học chân chánh đến liền hét, trước đưa ra một chậu keo, Thiện tri thức không biết là cảnh, liền trên cảnh ấy làm hình thức. Người học lại hét, Thiện tri thức chẳng chịu buông. Đây là bệnh nhập cao hoang không kham trị chữa, gọi là Khách Xem Chủ. 

Hoặc Thiện tri thức chẳng đưa ra vật, tùy chỗ hỏi của người học liền đoạt. Người học bị đoạt đến chết chẳng buông. Đây là Chủ Xem Khách. 

Hoặc người học hiện ra một cảnh thanh tịnh đưa trước Thiện tri thức, Thiện tri thức biết được là cảnh, nắm nó ném xuống hầm. Người học nói: “Thiện tri thức rất hay.” Thiện tri thức đáp: “Chao ôi! Chẳng biết tốt xấu.” Người học lễ bái. Đây là Chủ Xem Chủ. 

Hoặc có người học mang gông đeo cùm ra trước Thiện tri thức, Thiện tri thức lại vì y cho thêm một lớp gông cùm. Người học vui vẻ, kia đây đều không biết. Đây là Khách Xem Khách.

Chư Đại đức! Sơn tăng cử ra vì biện ma, rõ cảnh lạ, biết tà chánh. Như tăng hỏi Từ Minh: “Khi một hét phân chủ khách, chiếu dụng đồng thời hành là thế nào?” Từ Minh liền hét. Lại thiền sư Hoằng Giác ở Vân Cư dạy chúng: “Ví như sư tử chụp voi cũng dùng toàn lực, chụp thỏ cũng dùng toàn lực.” Có vị tăng ra hỏi: “Chưa biết toàn lực gì?” Giác đáp: “Lực chẳng dối.” Xem Tuyết Đậu tụng ra:

Tụng:

Cầm đắc Lô Pha khoa thiết ngưu

Tam huyền qua giáp vị khinh thù

Sở vương thành bạn triều tông thủy

Hát hạ tằng linh khước đảo lưu.

Dịch:

Bắt được Lô Pha trâu sắt khoe

Tam huyền binh khí vẫn chưa dùng

Bên thành vua Sở nhằm đông chảy

Một hét từng làm đảo ngược dòng.

Giải tụng:

Tuyết Đậu biết Phong Huyệt có loại tông phong này, nên tụng Bắt được Lô Pha trâu sắt khoe, tam huyền binh khí vẫn chưa dùng. Tông Lâm Tế có tam huyền tam yếu. Phàm trong một câu phải đủ tam huyền, trong một huyền phải đủ tam yếu. Tăng hỏi Lâm Tế: “Thế nào là câu thứ nhất?” Lâm Tế đáp: “Tam yếu ấn khai điểm son hẹp, chưa cho nghĩ nghị chủ khách phân.” Tăng hỏi: “Thế nào là câu thứ hai?” Lâm Tế đáp: “Diệu biện há cho Vô Trước hỏi, bọt hợp nào trái cơ bặt dòng.” Tăng hỏi: “Thế nào là câu thứ ba?’ Lâm Tế đáp: “Chỉ xem nhà hát đùa người máy, rút dây đều bởi người núp trong.” Phong Huyệt trong một câu đầy đủ binh khí tam huyền, bảy việc tùy thân chẳng khinh suất đáp người. Nếu chẳng như thế làm gì được Lô Pha. 

Phần dưới, Tuyết Đậu cần đề ra cơ phong của tông Lâm Tế, chớ nói là Lô Pha, giả sử bên thành vua Sở sóng dậy ầm ầm, nước nổi ngập trời, trọn chảy về phương đông, chỉ cần một tiếng hét, cũng phải chảy ngược lại.

TẮC 39

VÂN MÔN HOA THƯỢC LAN

Lời dẫn: 

Giữa đường thọ dụng dường cọp tựa núi, thế đế lưu bố như vượn trong cũi. Muốn biết nghĩa Phật tánh, phải quán thời tiết nhân duyên, muốn luyện lọc vàng ròng, phải là lò luyện của bậc tác gia. Hãy nói người đại dụng hiện tiền lấy cái gì thí nghiệm?

Công án: 

Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là pháp thân thanh tịnh?” Vân Môn đáp: “Hoa thược lan.” Tăng hỏi: “Khi thế ấy đi thì sao?” Vân Môn đáp: “Sư tử lông vàng.”

Giải thích: 

Các ông biết chỗ nói của vị tăng và chỗ đáp của Vân Môn chăng? Nếu biết được thì hai miệng đồng không có một lưỡi. Nếu chẳng biết chưa khỏi hồ đồ. Có vị tăng hỏi Huyền Sa: “Thế nào là pháp thân thanh tịnh?” Huyền Sa đáp: “Mủ giọt giọt.” Người đủ con mắt Kim Cang mời thử biện xem? 

Vân Môn không đồng người khác, có khi nắm đứng vách cao ngàn trượng, không có chỗ cho ông nghĩ suy, có khi vì ông mở một con đường đồng chết đồng sống. Ba tấc lưỡi của Vân Môn rất sâu kín. Có người nói đó là lối đáp tín thái (tin màu sắc). Nếu hiểu thế ấy, thử nói Vân Môn rơi tại chỗ nào? Cái này là việc ở trong thất, chớ nhằm ra ngoài suy tính. Vì thế, Bá Trượng nói: “Sum la vạn tượng, tất cả ngữ ngôn, đều xoay về nơi mình, khiến lăn trùng trục, nhằm chỗ sống linh động.” Lại nói: “Nếu nghĩ nghị suy tìm, liền rơi vào câu thứ hai.” Vĩnh Gia nói: “Pháp thân ngộ rồi không một vật, bản nguyên tự tánh thiên chân Phật.” 

Vân Môn nghiệm vị tăng này, vị tăng này cũng là người ở trong thất của Sư, là người tham cứu đã lâu, biết được việc trong thất Sư, nên tiến ngữ: “Khi thế ấy đi thì sao?” Vân Môn bảo: “Sư tử lông vàng.” Hãy nói là chấp nhận y hay chẳng chấp nhận y, là khen y hay chê y? Nham Đầu nói: “Nếu luận chiến thì mỗi người ở chỗ chuyển.” Lại nói: “Kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Câu sống tiến được thì vĩnh kiếp chẳng quên, câu chết tiến được thì tự cứu chưa xong.”

Lại có vị tăng hỏi Vân Môn: “Phật pháp như trăng trong nước phải chăng?” Vân Môn đáp: “Sóng trong không đường thông.” Tăng thưa: “Hòa thượng từ đâu mà được?” Vân Môn đáp: “Hỏi lại thì đâu đến.” Tăng thưa: “Chính khi thế ấy đi là sao?” Vân Môn đáp: “Đường quan san trùng điệp.’’ Phải biết việc này chẳng ở trên ngôn cú, như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, nắm được nắm chẳng được chưa khỏi tan thân mất mạng. Tuyết Đậu là người ở trong ấy, liền ngay đó tụng ra:

Tụng:

Hoa thược lan

Mạc man han

Tinh tại xứng hề bất tại bàn

Tiện nhậm ma

Thái vô đoan

Kim mao sư tử đại gia khan.

Dịch:

Hoa thược lan

Chớ hoang mang

Khấc ở cân chừ chẳng ở bàn

Liền thế ấy 

Không mối mang

Sư tử lông vàng cả nhà xem.

Giải tụng:

Tuyết Đậu đồng hội, đánh một điệu, rung dây khảy khúc đàn kỳ diệu, mỗi câu phán xét ra đây. Bài tụng này chẳng khác cách niêm cổ. Hoa thược lan, liền nói Chớ hoang mang. Nhiều người nói: “Vân Môn dùng tín thái đáp”, thảy đều khởi tình giải hiểu Vân Môn. Vì thế Tuyết Đậu có bổn phận giản trạch, nên nói Chớ hoang mang. Bởi vì ý của Vân Môn chẳng phải ở chỗ hoa thược lan. Vì thế, Tuyết Đậu nói Khấc ở cân chừ chẳng ở bàn. Một câu này rất mực bày vẽ, trong nước vốn không trăng, trăng ở trời xanh. Như khấc cân ở cân chứ chẳng phải ở bàn. Thử nói cái gì là cân, nếu biện rõ được chẳng cô phụ Tuyết Đậu. Cổ nhân đến đây quả thật từ bi phân minh nói với ông. “Chẳng ở đây, ở bên kia.” Hãy nói bên kia là chỗ nào? 

Tại một câu đầu, bài tụng này tụng xong. Phần sau bài tụng là vị tăng nói Khi thế ấy đi thì sao? Tuyết Đậu nói: Vị tăng này Không mối mang. Hãy nói là đầu sáng hợp hay đầu tối hợp? Hội rồi nói thế ấy, chẳng hội nói thế ấy? Sư tử lông vàng cả nhà xem, lại thấy sư tử lông vàng chăng? Mù!

TẮC 40

LỤC HOÀN TRỜI ĐẤT ĐỒNG GỐC

Lời dẫn: 

Thôi đi hết đi, cây sắt trổ hoa. Có chăng? Có chăng? Thông minh cũng bị thua. Dù cho bảy dọc tám ngang chẳng ra khỏi lỗ mũi y. Hãy nói lầm lẫn ở chỗ nào. Thử cử xem?

Công án:

Đại phu Lục Hoàn cùng nói chuyện với Nam Tuyền. Hoàn hỏi: “Triệu pháp sư nói “trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta một thể”, thật là kỳ quái?” Nam Tuyền chỉ hoa trước sân kêu Đại phu, nói: “Thời nhân thấy gốc hoa này giống hệt như mộng.”

Giải thích: 

Đại phu Lục Hoàn tham kiến Nam Tuyền đã lâu, bình thường lưu tâm trong lý tánh, tầm khảo Triệu Luận. Một hôm, ngồi bàn luận đem hai câu cho là kỳ đặc, hỏi: “Triệu pháp sư nói “trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta đồng thể”, thật là kỳ quái?” Triệu pháp sư là vị cao tăng đời Tấn cùng Đạo Sinh, Tăng Duệ, Đạo Dung đồng là môn hạ của Cưu-ma-la-thập, gọi là Tứ triết. Pháp sư Tăng Triệu thuở nhỏ thích đọc Lão Trang, sau nhân viết kinh Duy-ma-cật có chỗ ngộ, mới biết Lão Trang vẫn chưa tận thiện. Sư tổng hợp các kinh làm thành bốn quyển luận (Bát-nhã Vô Tri Luận, Bất Chân Không Luận, Vật Bất Thiên Luận, Niết-bàn Vô Danh Luận). Ý chỉ Lão Trang nói trời đất hình lớn, hình ta cũng vậy, đồng sanh trong hư vô. Trang Sinh đại ý chỉ luận tề vật. Triệu Công đại ý luận tánh đều quy về chính mình. Như trong luận, Sư nói: “Phàm bậc chí nhân rỗng rang không hình tượng mà vạn vật đều do ta tạo, hội vạn vật về chính mình chỉ là bậc thánh nhân. Tuy có thần có người có hiền có thánh mỗi loại khác nhau, song đều đồng một tánh một thể.”

Cổ nhân nói: “Tột cả càn khôn đại địa chỉ là một cái chính mình, lạnh thì khắp trời khắp đất lạnh, nóng thì khắp trời khắp đất nóng, có thì khắp trời khắp đất có, không thì khắp trời khắp đất không, phải thì khắp trời khắp đất phải, quấy thì khắp trời khắp đất quấy.” Pháp Nhãn nói: “Y y y, ta ta ta, nam bắc đông tây đều tốt tốt, chẳng tốt tốt, chỉ có ta thảy là tốt.” Vì thế nói: “Trên trời dưới trời, chỉ ta là hơn hết.”

Thạch Đầu xem Triệu Luận đến chỗ “hội vạn vật về chính mình”, hoát nhiên đại ngộ, sau làm bản Tham Đồng Khế chẳng ngoài ý này. Xem ông hỏi thế ấy, hãy nói đồng gốc gì? Đồng thể nào? Đến đây quả là kỳ đặc, há đồng với người thường chẳng biết trời cao đất dày, đâu có việc thế ấy. 

Đại phu Lục Hoàn hỏi như thế, kỳ thì rất kỳ, chỉ là chẳng thoát ngoài ý kinh. Nếu nói ý kinh là tột, vì sao Thế Tôn lại niêm hoa, Tổ sư lại Tây sang làm gì? Chỗ đáp của Nam Tuyền là dùng lỗ mũi của thiền tăng, vì kia đưa ra chỗ đau, để phá hang ổ kia. Bèn chỉ cây hoa trước sân, kêu Đại phu nói: “Thời nhân thấy một gốc hoa này giống hệt như mộng.” Như dẫn người lên đến bờ cao muôn trượng xô một cái khiến họ té chết. Nếu ông xô té trên đất bằng, cho đến đức Phật Di-lặc ra đời cũng chẳng làm cho người chết. Giống hệt như người đang mộng muốn tỉnh mà tỉnh không được, bị người gọi liền tỉnh. Nếu Nam Tuyền con mắt chẳng chánh, quyết định bị ông ấy bôi vẽ rồi. 

Xem Sư nói thoại thế ấy thật là khó hiểu. Nếu là người con mắt định động linh hoạt nghe được như thượng vị đề hồ. Nếu là kẻ chết nghe được trở thành thuốc độc. Cổ nhân nói: Nếu ở trên sự thấy thì rơi tại tầm thường, nếu nhằm dưới ý căn suy tính dò tìm thì chẳng được. Nham Đầu nói: Đây là kế sống của người hướng thượng, chỉ hiện bày trước mắt chốc lát như điện chớp. 

Đại ý Nam Tuyền như thế, có thủ đoạn bắt con tê con cọp, định rồng rắn. Đến đây phải tự hội mới được. Đâu chẳng nghe nói: Một con đường hướng thượng ngàn thánh chẳng truyền, học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng. Xem Tuyết Đậu tụng ra:

Tụng:

Văn kiến giác tri phi nhất nhất

Sơn hà bất tại cảnh trung quan

Sương thiên nguyệt lạc dạ tương bán

Thùy cộng trừng đàm chiếu ảnh hàn.

Dịch:

Hiểu biết thấy nghe chẳng phải một

Núi sông nào ở tại gương xem

Trời sương trăng lặn đêm vừa nửa

Ai với đầm trong soi bóng kèm.

Giải tụng:

Nam Tuyền nói mớ ít, Tuyết Đậu nói mớ nhiều. Tuy nhiên tạo mộng, lại tạo được cái mộng đẹp. Phần trước nói một thể, ở đây nói chẳng đồng. Hiểu biết thấy nghe chẳng phải một, núi sông nào ở tại gương xem, nếu nói ở trong gương xem về sau mới hiểu rõ thì chẳng rời cái gương. Núi sông đất liền cỏ cây rừng rậm chớ đem gương soi, nếu đem gương soi liền thành hai đoạn. Chỉ nên núi là núi, nước là nước, mỗi pháp trụ bản vị của nó, tướng thế gian thường trụ. Núi sông nào ở tại gương xem, hãy nói ở chỗ nào xem, lại hội chăng? 

Đến đây hướng về Trời sương trăng lặn đêm vừa nửa, bên này vì ông làm rõ rồi, bên kia ông tự độ lấy. Lại biết Tuyết Đậu đem việc bổn phận vì người chăng? Ai với đầm trong soi bóng kèm, là tự soi hay cùng người soi? Phải là tuyệt cơ tuyệt giải mới đến cảnh giới này. Hiện nay chẳng cần đầm trong, cũng chẳng đợi trời sương trăng lặn, chính nay làm gì?

TẮC 41

TRIỆU CHÂU NGƯỜI ĐẠI TỬ

Lời dẫn: 

Chỗ phải quấy kết chặt, Thánh cũng không thể biết. Khi nghịch thuận dọc ngang, Phật cũng không thể biện. Là kẻ sĩ tuyệt thế siêu luân, hiện khả năng của bậc đại sĩ siêu quần, nhằm trên tảng băng đi, chạy trên kiếm bén, liền đó như đầu sừng kỳ lân, giống hoa sen trong lò lửa, cái thấy siêu phương mới biết đồng đạo. Ai là người tay khéo, thử cử xem?

Công án: 

Triệu Châu hỏi Đầu Tử: “Người đại tử khi sống lại thì thế nào?” Đầu Tử đáp: “Chẳng cho đi đêm, đợi sáng sẽ đến.”

Giải thích: 

Triệu Châu hỏi Đầu Tử người đại tử khi sống lại thì thế nào, Đầu Tử đáp “chẳng cho đi đêm đợi sáng sẽ đến”, hãy nói là thời tiết gì? Ống sáo không lỗ đụng nhằm phách nỉ. Đây gọi là hỏi nghiệm chủ, cũng gọi là hỏi tâm hạnh. Đầu Tử, Triệu Châu các nơi đều ngợi khen, được cái biện luận siêu quần. Hai vị tuy kế thừa khác nhau, xem cơ phong giống nhau một loại.

Một hôm, Đầu Tử thiết tiệc trà đãi Triệu Châu, tự tay đưa bánh cho Triệu Châu, Triệu Châu ngó lơ. Đầu Tử sai cư sĩ đưa bánh cho Triệu Châu, Triệu Châu lễ cư sĩ ba vái. Hãy nói ý Triệu Châu thế nào? Quả là Triệu Châu nhằm trên căn bản nêu việc bổn phận vì người. 

Có vị tăng hỏi: “Thế nào là đạo?” Đầu Tử đáp: “Đạo.” Hỏi: “Thế nào là Phật?” Đáp: “Phật.” Lại hỏi: “Khi khóa vàng chưa mở thì thế nào?” Đáp: “Mở.” Hỏi: “Khi gà vàng chưa gáy thì thế nào?” Đáp: “Không có âm hưởng này.” Hỏi: “Gáy xong thì sao?” Đáp: “Mỗi tự biết thời.” Bình sinh Đầu Tử hỏi đáp như thế. 

Xem Triệu Châu hỏi: “Người đại tử khi sống lại thì thế nào?” Liền đáp: “Chẳng cho đi đêm, đợi sáng sẽ đến.” Hẳn như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, phải là người hướng thượng như ông ta mới được. Người đại tử trọn không có Phật pháp đạo lý huyền diệu, được mất phải quấy dài ngắn. Đến đây chỉ thế ấy thôi đi. Cổ nhân gọi đó là trên đất bằng người chết vô số, qua được rừng gai góc là người tay khéo, cũng phải qua lọt bên kia mới được. Tuy nhiên như thế, hiện nay người đến điền địa này, sớm đã khó được. Hoặc có nương tựa, có giải hội thì không giao thiệp. Hòa thượng Triết gọi đó là thấy chẳng tịnh khiết. Ngũ Tổ tiên sư bảo đó là mạng căn chẳng đoạn, phải một phen đại tử sống lại mới được. Hòa thượng Vĩnh Quang ở Chiết Trung nói: “Ngôn phong nếu sai thì cổng làng quê cách xa muôn dặm, phải là bờ cao vót buông tay, tự nhận thừa đương, sau khi chết sống lại, dối anh chẳng được.” 

Ý chỉ phi thường, người nào che giấu được ư? Ý Triệu Châu hỏi như thế, Đầu Tử là hàng tác gia cũng không cô phụ câu hỏi kia. Chỉ là tuyệt tình bặt dấu, quả thật khó hiểu, chỉ hiện bày trước mắt đôi chút. Vì thế cổ nhân nói: Muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi, hỏi tại chỗ đáp, đáp tại chỗ hỏi. Nếu chẳng phải Đầu Tử, bị Triệu Châu một câu hỏi cũng khó đáp được. Chỉ vì kia là kẻ tác gia, nhắc đến liền biết chỗ rơi.

Tụng:

Hoạt trung hữu nhãn hoàn đồng tử

Dược kỵ hà tu giám tác gia

Cổ Phật thượng ngôn tằng vị đáo

Bất tri thùy giải tát trần sa.

Dịch:

Trong sống có mắt lại đồng chết

Thuốc kỵ đâu cần chiếu tác gia

Cổ Phật còn rằng từng chẳng đến

Chẳng hay ai biết ném trần sa.

Giải tụng:

Trong sống có mắt lại đồng chết, Tuyết Đậu là người tri hữu nên mới dám tụng. Cổ nhân nói: Kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Tuyết Đậu nói: Trong sống có mắt lại đồng chết. Đâu từng chết? Trong chết đủ mắt như đồng người sống. Cổ nhân nói: Giết hết người chết mới thấy người sống, làm sống hết người chết mới thấy người chết. 

Triệu Châu là người sống tạo câu hỏi chết để nghiệm Đầu Tử, như vật kỵ của tánh dược đem thí nghiệm vậy. Vì thế Tuyết Đậu tụng Thuốc kỵ đâu cần chiếu tác gia. Câu tụng này là chỗ hỏi của Triệu Châu. Phần sau tụng về Đầu Tử, Cổ Phật còn rằng từng chẳng đến, chỉ chỗ người đại tử sống lại. Cổ Phật cũng chẳng từng đến, các vị Hòa thượng già ở mọi nơi cũng chẳng từng đến. Dù cho ông già Thích-ca hay vị Hồ tăng mắt biếc (Đạt-ma) cũng phải tái tham mới được. Vì thế nói, chỉ cho lão Hồ biết, chẳng cho lão Hồ hiểu. 

Tuyết Đậu tụng Chẳng hay ai biết ném trần sa. Có vị tăng hỏi Trường Khánh: Thế nào là con mắt thiện tri thức? Trường Khánh đáp: Có nguyện chẳng ném cát. Bảo Phước nói: Chẳng nên lại ném. Các vị Hòa thượng già ở mọi nơi ngồi trên chiếc giường gỗ dùng gậy dùng hét, dựng phất gõ giường, hiện thần thông, làm chủ tể, trọn là ném cát. Hãy nói làm sao khỏi được?

TẮC 42

BÀNG CƯ SĨ TUYẾT ĐẸP MẢNH MẢNH

Lời dẫn: 

Riêng nêu biệt cợt, kẹt nước mắc lầy, nhịp hát đồng thời, núi bạc vách sắt. Nghĩ nghị thì trước đầu lâu thấy quỷ, suy tư thì ngồi dưới hắc sơn. Mặt nhật lên soi sáng khắp trời, gió mát thổi vì vèo đầy đất. Hãy nói cổ nhân lại có chỗ lầm lẫn chăng, thử cử xem?

Công án: 

Cư sĩ Bàng Uẩn từ giã Dược Sơn, Dược Sơn sai mười vị thiền khách tiễn đến cổng ngoài. Cư sĩ chỉ tuyết trong không nói: “Tuyết đẹp mảnh mảnh chẳng rơi chỗ khác.” Thiền khách Toàn hỏi: “Rơi tại chỗ nào?” Cư sĩ đánh một tát. Toàn bảo: “Cư sĩ không được thô xuất.” Cư sĩ nói: “Ông thế ấy mà xưng là thiền khách, Diêm vương chưa tha ông đâu.” Toàn hỏi: “Cư sĩ thì sao?” Cư sĩ đánh một tát, nói: “Mắt thấy như mù, miệng nói như câm.” (Tuyết Đậu riêng nói: Chỗ mới hỏi, chỉ nắm hòn tuyết liền ném.)

Giải thích: 

Cư sĩ họ Bàng tham vấn hai nơi Mã Tổ, Thạch Đầu đều có làm tụng. Ban đầu yết kiến Thạch Đầu hỏi “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Chưa dứt lời bị Thạch Đầu bụm miệng, liền có tỉnh, làm tụng: 

Việc hằng ngày không khác, 

Chỉ tôi tự vui hay. 

Vật vật nào bỏ lấy, 

Chỗ chỗ chẳng trái bày. 

Đỏ tía gì làm hiệu, 

Núi xanh tuyệt điểm ai. 

Thần thông cùng diệu dụng, 

Gánh nước bửa củi tài. 

Sau ông đến tham vấn Mã Tổ hỏi: “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Mã Tổ đáp: “Đợi ông dùng miệng hút cạn nước Tây Giang, liền vì ông nói.” Cư sĩ bỗng nhiên đại ngộ, làm tụng: 

Mười phương đồng tụ hội, 

Mỗi mỗi học vô vi, 

Đây là trường thi Phật, 

Tâm Không được đậu về.

Vì ông là hàng tác gia, sau này các nơi đều trọng vọng, đến đâu cũng được khen ngợi. Ông qua lại Dược Sơn nhiều lần và ở lâu, từ giã ra về, Dược Sơn rất trọng nên sai mười thiền khách đi tiễn. Khi ấy gặp tuyết rơi, Cư sĩ chỉ tuyết nói: “Tuyết đẹp mảnh mảnh chẳng rơi chỗ khác.” Thiền khách Toàn hỏi: “Rơi tại chỗ nào?” Cư sĩ liền tát. Thiền khách Toàn đã không thể hành lệnh, cư sĩ hành phân nửa. Lệnh tuy hành, thiền khách Toàn đối đáp thế ấy chẳng phải không biết chỗ rơi của ông, chỉ vì mỗi người có cơ phong cuộn tung chẳng đồng. Song vẫn có chỗ chẳng đến kịp cư sĩ, vì thế rơi dưới giá của ông, khó thoát khỏi cái lồng của ông. Cư sĩ đánh rồi lại vì nói đạo lý: “Mắt thấy như mù, miệng nói như câm.” 

Tuyết Đậu riêng nói ngay câu đầu: “Chỗ mới hỏi, chỉ nắm hòn tuyết liền ném.” Tuyết Đậu thế ấy cốt chẳng cô phụ lời hỏi của Toàn, chỉ vì căn cơ chậm lụt. Tạng chủ Khánh nói: “Cơ phong của Cư sĩ như điện chớp, đợi các ông nắm hòn tuyết đến bao giờ? Hô lên liền đáp, hô lên liền đánh, mới là dứt bặt.” Tuyết Đậu tự tụng chỗ ông ném rằng:

Tụng:

Tuyết đoàn đả, tuyết đoàn đả

Bàng lão cơ quan một khả bả

Thiên thượng nhân gian bất tự tri

Nhãn lý nhĩ lý tuyệt tiêu sái.

Tiêu sái tuyệt

Bích nhãn Hồ tăng nan biện biệt.

Dịch:

Hòn tuyết ném, hòn tuyết ném

Cơ quan lão Bàng khôn nắm được

Trên trời nhân gian chẳng tự hay

Trong mắt trong tai lắm thích thú.

Thích thú lắm

Hồ tăng mắt xanh cũng khó biện.

Giải tụng:

Hòn tuyết ném, hòn tuyết ném, cơ quan lão Bàng khôn nắm được, Tuyết Đậu cốt đi trên đầu cư sĩ. Cổ nhân lấy tuyết để rõ việc bên nhất sắc. Ý Tuyết Đậu nói, khi ấy nếu nắm hòn tuyết ném thì cư sĩ dù có cơ quan thế nào cũng khó xoay trở kịp. Tuyết Đậu tự khoe chỗ ném của mình, đâu chẳng biết có chỗ bị thua. 

Trên trời nhân gian chẳng tự hay, trong mắt trong tai lắm thích thú, trong mắt cũng là tuyết, trong tai cũng là tuyết. Chính ở bên nhất sắc cũng gọi là cảnh giới Phổ Hiền, việc bên nhất sắc cũng gọi là nhồi thành một khối. Vân Môn nói: “Dù được cả càn khôn đại địa không một mảy may lỗi lầm vẫn là chuyển cú, chẳng thấy nhất sắc mới là bán đề, nếu cần toàn đề phải biết có một con đường hướng thượng mới được. Đến đây phải là đại dụng hiện tiền, kim châm chẳng vào, chẳng cho người khác xử phân. Vì thế nói kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Cổ nhân nói: “Một câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa, có dùng vào chỗ nào.” 

Đến đây Tuyết Đậu tụng xong, lại chuyển cơ nói Thích thú lắm, dù cho Hồ tăng mắt xanh cũng khó biện. Hồ tăng mắt xanh (Tổ Đạt-ma) còn khó biện biệt, lại bảo sơn tăng nói cái gì?

TẮC 43

ĐỘNG SƠN KHÔNG LẠNH NÓNG

Lời dẫn: 

Câu định càn khôn muôn đời cùng tôn trọng, cơ bắt hổ hủy(8) ngàn thánh khó biện. Liền đó lại không mảy che ngăn, toàn cơ tùy chỗ đồng bày. Cần rõ kiềm chùy hướng thượng, phải là lò rèn của bậc tác gia. Hãy nói từ trước đến nay lại có gia phong thế ấy hay không, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Động Sơn: “Khi lạnh nóng đến làm sao né tránh?” Động Sơn đáp: “Sao chẳng nhằm chỗ không lạnh nóng đi?” Tăng hỏi: “Thế nào là chỗ không lạnh nóng?” Động Sơn đáp: “Khi lạnh lạnh chết Xà-lê, khi nóng nóng chết Xà-lê.”

Giải thích: 

Hòa thượng Tân ở Hoàng Long niêm: “Động Sơn lấy tay áo làm cổ, dưới nách khoét bâu, thế mà vị tăng này không cam, như nay có người ra hỏi Hoàng Long, hãy nói làm sao đuổi dẹp?” Sư im lặng giây lâu, tiếp: “An thiền đâu hẳn nhờ sông núi, diệt sạch tâm sanh lửa tự lạnh.” Các ông hãy nói lồng bẫy của Động Sơn rơi vào chỗ nào? Nếu biện được rành rõ mới biết Động Sơn ngũ vị, hồi hỗ, chánh thiên, tiếp người thật là kỳ đặc. Đến được cảnh giới hướng thượng này mới được như thế, chẳng cần an bài tự nhiên khéo hợp. Vì thế nói: 

Chánh Trung Thiên: Canh ba đầu hôm trước trăng sáng, chớ lạ gặp nhau chẳng biết nhau, thầm thầm vẫn ôm hiềm ngày trước. 

Thiên Trung Chánh: Mất sáng lão bà gặp cổ kính, rõ ràng đối mặt lại không chân, thôi chớ quên đầu nhận lấy bóng. 

Chánh Trung Lai: Trong không có lộ thoát trần ai, chỉ hay chẳng chạm húy hiện tại, cũng hơn tiền triều cắt lưỡi tài. 

Thiên Trung Chí: Hai mũi giao phong chẳng cần tránh, tay khéo lại đồng sen trong lò, quả nhiên tự có xung thiên khí. 

Kiêm Trung Đáo: Chẳng rơi có không ai dám hòa, mỗi người trọn muốn ra dòng thường, rốt cuộc lui về ngồi trong tro.

Viễn Lục Công ở Phù Sơn lấy công án này làm mẫu cho Ngũ vị. Nếu hiểu một tắc thì các tắc tự nhiên dễ hiểu. Nham Đầu nói: Giống như trái bầu để trên mặt nước, động đến liền xoay vẫn chẳng mất mảy tơ khí lực. Có vị tăng hỏi Động Sơn: “Khi Văn-thù, Phổ Hiền đến tham vấn thì thế nào?” Động Sơn đáp: “Đuổi vào trong bầy trâu đi.” Tăng nói: “Hòa thượng vào địa ngục nhanh như tên.” Động Sơn nói: “Toàn nhờ tha lực.” 

Động Sơn bảo: “Sao chẳng nhằm chỗ không lạnh nóng đi”, đây là Thiên Trung Chánh. Tăng hỏi thế nào là chỗ không lạnh nóng, Động Sơn nói khi lạnh lạnh chết Xà-lê, khi nóng nóng chết Xà-lê, đây là Chánh Trung Thiên. Tuy Chánh lại Thiên, tuy Thiên lại Viên. Trong tập lục của tông Tào Động chép đầy đủ kỹ lưỡng. Nếu là dưới tông Lâm Tế thì không có nhiều việc. Loại công án này thẳng đó liền hội. Có người nói “rất tốt không lạnh nóng”, có đúng sự thật chút nào? Cổ nhân nói: Nếu nhằm trên kiếm bén chạy thì nhanh, nếu nhằm trên tình thức thì chậm. 

Có vị tăng hỏi Thúy Vi: “Thế nào là ý Tổ sư Tây sang?” Thúy Vi bảo: “Đợi không có người sẽ nói với ông.” Sư đi vào trong vườn. Tăng thưa: “Chỗ này không người, thỉnh Hòa thượng nói.” Thúy Vi chỉ bụi tre nói: “Cây tre này dài thế ấy, cây tre kia ngắn thế ấy.” Vị tăng bỗng nhiên đại ngộ. 

Tào Sơn hỏi tăng: “Nóng thế ấy đến chỗ nào ẩn trốn?” Tăng thưa: “Ẩn trốn trong chảo dầu lò lửa.” Tào Sơn hỏi: “Chảo dầu lò lửa làm sao ẩn trốn?” Tăng thưa: “Các khổ không thể đến.” Xem người trong nhà kia tự nhiên hiểu những lời nói trong nhà kia. Tuyết Đậu dùng việc trong nhà kia tụng ra:

Tụng:

Thùy thủ hoàn đồng vạn nhẫn nhai

Chánh thiên hà tất tại an bài

Lưu-ly cổ điện chiếu minh nguyệt

Nhẫn tuấn Hàn lô không thượng giai.

Dịch:

Tay duỗi lại đồng muôn trượng bờ

Chánh thiên nào hẳn tại an bài

Điện cổ lưu-ly trăng sáng chiếu

Cam chịu Hàn lô luống đến thềm.

Giải tụng:

Tông Tào Động có xuất thế (giáo hóa) chẳng xuất thế (chẳng giáo hóa), có tay duỗi, chẳng tay duỗi. Nếu chẳng xuất thế thì mắt xem mây xanh. Nếu xuất thế thì đầu tro mặt đất. Mắt xem mây xanh tức là đỉnh muôn trượng. Đầu tro mặt đất tức là việc bên tay duỗi. Có khi đầu tro mặt đất tức ở đỉnh muôn trượng. Có khi đỉnh muôn trượng tức là đầu tro mặt đất. Kỳ thật duỗi tay vào chợ cùng đứng riêng trên ngọn cô phong một loại. Về nguồn ngộ tánh cùng sai biệt trí không khác. Tối kỵ chia hai đoạn để hiểu. 

Vì thế nói Tay duỗi lại đồng muôn trượng bờ, hẳn là không có chỗ cho ông gá nghĩ. Chánh thiên nào hẳn tại an bài, nếu đến khi dùng tự nhiên như thế, chẳng tại an bài. Câu tụng này là chỗ đáp của Động Sơn. 

Phần sau nói Điện cổ lưu-ly trăng sáng chiếu, cam chịu Hàn lô luống đến thềm, đây là tụng vị tăng đuổi theo lời nói. Tông Tào Động có mười tám loại: gái đá, ngựa gỗ, giỏ không đáy, minh châu ban đêm, rắn chết... Đại cương chỉ rõ chánh vị như trăng chiếu điện cổ lưu-ly hình như có bóng tròn. Động Sơn đáp “Sao chẳng đến chỗ không lạnh nóng đi”, vị tăng kia giống như con Hàn lô đuổi bóng, chạy gấp đến thềm chụp bóng trăng. Tăng lại hỏi thế nào là chỗ không lạnh nóng, Động Sơn đáp khi lạnh lạnh chết Xà-lê, khi nóng nóng chết Xà-lê, như Hàn lô đuổi bóng đến trên thềm lại không thấy bóng mặt trăng. 

Hàn lô là xuất phát từ Chiến Quốc Sách, trong ấy nói: “Con lô của họ Hàn là con chó giỏi. Con thỏ trong núi là thỏ tinh lanh. Phải là con chó kia mới hay đuổi được con thỏ này.” Tuyết Đậu dẫn làm ví dụ cho vị tăng này. Các ông lại biết chỗ Động Sơn vì người chăng? Sư lặng thinh giây lâu, nói: Tìm con thỏ nào?

TẮC 44

HÒA SƠN BIẾT ĐÁNH TRỐNG

Công án: 

Hòa Sơn dạy chúng: “Tập học gọi là nghe, tuyệt học gọi là gần, qua được hai cái này là thật qua.” Có vị tăng ra hỏi: “Thế nào là thật qua?” Hòa Sơn đáp: “Biết đánh trống.” Tăng lại hỏi: “Thế nào là chân đế?” Hòa Sơn đáp: “Biết đánh trống.” Tăng hỏi: “Tức tâm tức Phật thì chẳng hỏi, thế nào là phi tâm phi Phật?” Hòa Sơn đáp: “Biết đánh trống.” Tăng hỏi: “Khi người hướng thượng đến làm sao tiếp?” Hòa Sơn đáp: “Biết đánh trống.”

Giải thích: 

Hòa Sơn dạy chúng: “Tập học gọi là nghe, tuyệt học gọi là gần, qua được hai cái này là thật qua.” Đoạn này xuất xứ từ bộ luận Bảo Tạng. Học đến vô học gọi là tuyệt học. Vì thế nói, nghe cạn ngộ sâu, nghe sâu chẳng ngộ gọi là tuyệt học. Vĩnh Gia nói: “Bao năm về trước tôi học vấn, cũng từng thảo sớ tầm kinh luận.” Tập học đã hết gọi là “tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân”. Đến chỗ tuyệt học mới cùng đạo gần nhau, qua được hai cái học này gọi là thật qua. 

Vị tăng này quả là minh mẫn, liền đưa lời này ra hỏi Hòa Sơn. Hòa Sơn đáp “biết đánh trống”. Nên nói lời vô vị nói vô vị. Muốn rõ công án này phải là người hướng thượng mới hay thấy lời này chẳng dính lý tánh, cũng không chỗ nghị luận. Thẳng đó liền hội, giống như thùng lủng đáy, mới là chỗ an ổn của thiền tăng, khế hợp với ý Tổ sư từ Tây sang. Vì thế Vân Môn nói: Tuyết Phong đá cầu, Hòa Sơn đánh trống, Quốc sư chén nước, Triệu Châu uống trà, trọn nêu lên việc hướng thượng. 

Tăng lại hỏi, thế nào là chân đế? Đáp biết đánh trống. Chân đế là chẳng lập một pháp. Nếu là tục đế thì muôn vật đầy đủ. Chân tục không hai là Thánh đế nghĩa thứ nhất. Tăng lại hỏi, tức tâm tức Phật thì chẳng hỏi, thế nào là phi tâm phi Phật? Đáp biết đánh trống. Tức tâm tức Phật thì dễ tìm, đến phi tâm phi Phật thì rất khó, ít có người đến. Tăng lại hỏi, khi người hướng thượng đến làm sao tiếp? Đáp biết đánh trống. Người hướng thượng tức là người thấu thoát tự tại. Bốn câu đáp này, các nơi lấy làm tông chỉ, gọi là Hòa Sơn bốn đánh trống. 

Đến như tăng hỏi Cảnh Thanh: “Đầu năm mới lại có Phật pháp hay không?” Cảnh Thanh đáp: “Có.” Tăng hỏi: “Thế nào là Phật pháp đầu năm?” Cảnh Thanh nói: “Đầu năm mới mở phúc, muôn vật đều mới.” Tăng thưa: “Tạ Thầy đáp thoại.” Cảnh Thanh nói: “Lão tăng ngày nay mất lợi.” Giống loại đáp thoại này có mười tám thứ mất lợi. 

Lại có vị tăng hỏi đại sư Tịnh Quả: “Khi hạc đậu tùng côi thì thế nào?” Tịnh Quả đáp: “Dưới gót chân một trường hổ thẹn.” Tăng lại hỏi: “Khi tuyết phủ ngàn núi thì thế nào?” Đáp: “Sau khi mặt trời lên, một trường hổ thẹn.” Tăng hỏi: “Khi Hội Xương sa thải, thần Hộ pháp đi về đâu?” Đáp: “Hai kẻ ngoài ba cửa, một trường hổ thẹn.” Các nơi gọi là Ba hổ thẹn. 

Bảo Phước hỏi tăng: “Trong điện là Phật gì?” Tăng đáp: “Hòa thượng định đúng xem?” Bảo Phước nói: “Ông già Thích-ca.” Tăng thưa: “Chớ lừa người.” Bảo Phước nói: “Lại là ngươi lừa ta.” Lại hỏi tăng: “Ông tên gì?” Tăng thưa: “Hàm Trạch.” Bảo Phước nói: “Nếu gặp khi khô cạn thì thế nào?” Tăng thưa: “Ai là người khô cạn?” Bảo Phước nói: “Ta.” Tăng thưa: “Hòa thượng chớ lừa người.” Bảo Phước nói: “Lại là ngươi lừa ta.” Lại hỏi tăng: “Ông làm nghề gì mà ăn nhiều thế?” Tăng thưa: “Hòa thượng cũng chẳng ít.” Bảo Phước làm thế ngồi xổm. Tăng thưa: “Hòa thượng chớ lừa người.” Bảo Phước nói: “Lại là ngươi lừa ta.” Lại hỏi tăng coi phòng tắm: “Nồi nước tắm rộng bao nhiêu?” Tăng thưa: “Thỉnh Hòa thượng lường xem.” Bảo Phước làm thế lường. Tăng thưa: “Hòa thượng chớ lừa người.” Bảo Phước nói: “Lại là ngươi lừa ta.” Các nơi gọi là Bảo Phước bốn lừa người. 

Đến như Tuyết Phong bốn thùng sơn, đều là bậc tông sư từ trước, mỗi vị xuất phát ý chỉ thâm diệu làm cơ tiếp người. Tuyết Đậu ở sau dẫn một đoạn, y Vân Môn dạy chúng, tụng ra công án này.

Tụng:

Nhất duệ thạch

Nhị ban thổ

Phát cơ tu thị thiên quân nỗ

Tượng Cốt lão sư tằng côn cầu

Tranh tự Hòa Sơn giải đả cổ.

Báo quân tri

Mạc mãng lỗ

Điềm giả điềm hề khổ giả khổ.

Dịch:

Một khuân đá

Hai ban đất

Phát cơ phải là ngàn quân nỏ

Lão sư Tượng Cốt từng đá cầu

Nào giống Hòa Sơn biết đánh trống.

Bảo anh hay

Chớ bướng bỉnh

Ngọt là ngọt chừ đắng là đắng.

Giải tụng:

Một hôm Quy Tông công tác công cộng khiêng đá. Quy Tông hỏi: “Duy-na đi chỗ nào?” Duy-na thưa: “Đi khuân đá.” Quy Tông bảo: “Đá thì cho ông khuân, nhưng chẳng được động đến giữa cây đòn.” Mộc Bình có tăng mới đến, trước sai ba lần gánh đất. Mộc Bình có tụng dạy chúng: “Núi đông lộ hẹp núi tây thấp, mới đến chớ từ ba gánh đất, thương ông giữa đường đã nhiều năm, rõ ràng chẳng hiểu lại thành tối.” Sau có vị tăng hỏi: “Trong ba gánh không hỏi, việc ngoài ba gánh là thế nào?” Mộc Bình đáp: “Thiên tử thiết luân hoàn trung lệnh.” Tăng không đáp được, Mộc Bình liền đánh. Vì thế nói một khuân đá, hai ban đất. 

Phát cơ phải là ngàn quân nỏ, Tuyết Đậu dùng cây nỏ ngàn quân dụ cho lời này, cần thấy chỗ kia vì người. Ba mươi cân là một quân, một ngàn quân tức là ba muôn cân. Phải là rồng to, cọp mạnh, thú dữ mới dùng đến cây nỏ này. Nếu là chim hạc hay vật nhỏ ắt không nên khinh thường mà phát. Vì thế, cây nỏ ngàn quân chẳng vì gà chuột mà phát cơ. 

Lão sư Tượng Cốt từng đá cầu, một hôm Tuyết Phong thấy Huyền Sa đến, ba trái cầu gỗ đồng thời ném ra, Huyền Sa liền làm thế chẻ bia. Tuyết Phong thâm nhận đó. Tuy nhiên thảy là chỗ toàn cơ đại dụng, đều không bằng Hòa Sơn “biết đánh trống”. Quả thật thẳng tắt, chỉ là khó hội. Vì thế Tuyết Đậu nói Nào giống Hòa Sơn biết đánh trống

Lại ngại người chỉ ở trên đầu lời nói làm kế sống, chẳng biết lai do, lại sanh càn càn rỡ rỡ. Cho nên nói Bảo anh hay, chớ bướng bỉnh, phải thật đến loại điền địa này mới được. Nếu thật không bướng bỉnh, Ngọt là ngọt chừ đắng là đắng. Tuy nhiên Tuyết Đậu niêm lộng như thế, cứu cánh cũng nhảy chẳng khỏi.

TẮC 45

TRIỆU CHÂU ÁO VẢI BẢY CÂN

Lời dẫn: 

Cần nói liền nói cả thảy không đối, nên đi liền đi toàn cơ chẳng nhượng, như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, nhanh như chớp, lẹ như gió, mau như nước chảy, gấp như đi trên đao bén, đưa lên kiềm chùy hướng thượng, chưa khỏi mất cơ líu lưỡi. Đưa ra một đường, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” Triệu Châu đáp: “Ta ở Thanh Châu dệt được một áo vải nặng bảy cân.”

Giải thích: 

Nếu nhằm chỗ vừa đánh liền đi mà hội được, lỗ mũi các vị Hòa thượng già ở mọi nơi, một lúc xỏ xong, không làm gì được ông, tự nhiên nước tụ thành đầm. Nếu do dự thì lão tăng ở dưới gót chân ông. Chỗ tỉnh yếu của Phật pháp chẳng phải ở nhiều lời, chẳng phải ở nói lắm. Chỉ như vị tăng này hỏi Triệu Châu “muôn pháp về một, một về chỗ nào?” Triệu Châu lại đáp “ta ở Thanh Châu dệt được một áo vải nặng bảy cân”. Nếu nhằm trên ngữ cú mà biện thì lầm nhận định bàn tinh (một tiêu chuẩn cố định). Nếu chẳng nhằm trên ngữ cú mà biện, tại sao lại nói thế ấy? Công án này tuy khó thấy mà dễ hội, tuy dễ hội lại khó thấy. Khó thì núi bạc vách sắt, dễ thì liền đó tỉnh tỉnh, không có chỗ cho ông suy nghĩ phải quấy. Thoại này cùng câu Phổ Hóa nói “ngày mai ở trong viện Đại Bi có trai”, lại không có hai thứ. 

Một hôm, có tăng hỏi Triệu Châu: “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Triệu Châu đáp: “Cây bá ở trước sân.” Tăng thưa: “Hòa thượng chớ đem cảnh chỉ người.” Triệu Châu bảo: “Lão tăng chẳng từng đem cảnh chỉ người.” Xem kia thế ấy, nhằm chỗ cực tắc chuyển chẳng được mà chuyển được, tự nhiên che trời che đất. Nếu chuyển chẳng được thì chạm đến thành kẹt. Hãy nói Triệu Châu có Phật pháp thương lượng hay không? Nếu nói có Phật pháp, Triệu Châu đâu từng nói tâm nói tánh, nói huyền nói diệu. Nếu nói không có chỉ thú Phật pháp, Triệu Châu chẳng từng cô phụ lời hỏi của ông. 

Đâu chẳng thấy tăng hỏi hòa thượng Mộc Bình: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Mộc Bình đáp: “Trái bí đao này lớn như thế.” Lại tăng hỏi Cổ đức: “Chỗ núi sâu vực thẳm vắng bặt không người, lại có Phật pháp hay không?” Cổ đức đáp: “Có.” Tăng hỏi: “Thế nào là Phật pháp trong núi sâu?” Cổ đức đáp: “Cục đá lớn là lớn, nhỏ là nhỏ.” Xem loại công án này lời kỳ quái tại chỗ nào? Tuyết Đậu biết chỗ rơi của kia, nên vạch bày nghĩa lộ vì ông tụng ra.

Tụng:

Biên tịch tằng ai lão cổ chùy

Thất cân sam trọng kỷ nhân tri

Như kim phao trịch Tây Hồ lý

Hạ tải thanh phong phó dữ thùy.

Dịch:

Biên tịch từng đưa lão cổ chùy

Áo vải bảy cân mấy người tri

Như nay ném thẳng Tây Hồ ấy

Hạ tải gió lành gửi cho ai.

Giải tụng:

Trong mười tám lối hỏi, câu hỏi này gọi là biên tịch. Tuyết Đậu nói Biên tịch từng đưa lão cổ chùy, biên tịch muôn pháp đem về một mối. Vị tăng này cốt xô đẩy Triệu Châu. Triệu Châu quả là hàng tác gia gặp chỗ chuyển không được, có con đường xuất thân, dám mở miệng to nói “Ta ở Thanh Châu dệt một áo vải nặng bảy cân”. Tuyết Đậu nói Áo vải bảy cân mấy người tri

Như nay ném thẳng Tây Hồ ấy, muôn pháp về một, một cũng chẳng cần. Áo vải bảy cân cũng chẳng cần, đồng thời ném xuống Tây Hồ. Tuyết Đậu ở Thúy Phong Động Đình có Tây Hồ. Câu Hạ tải gió lành gửi cho ai, đây là Triệu Châu dạy chúng: Nếu ông hướng bắc đến vì ông thượng tải, nếu ông hướng nam đến vì ông hạ tải. Nếu ông từ Tuyết Phong, Vân Cư đến cũng là kẻ gánh bản. Tuyết Đậu nói gió lành như thế kham gửi cho ai. Thượng tải là vì ông nói tâm nói tánh, nói huyền nói diệu, các thứ phương tiện. Nếu là hạ tải thì không có những thứ nghĩa lý huyền diệu. Có người gánh một gánh thiền đến chỗ Triệu Châu, một điểm cũng sử dụng không được, đồng thời vì y nhồi thành khối khiến sạch trơn thong dong, không có một sự kiện nào, gọi là ngộ rồi đồng chưa ngộ. 

Như nay có người trọn làm vô sự để hội. Có người nói: “Không mê không ngộ, chẳng cần lại cầu. Chỉ như khi Phật chưa ra đời, khi tổ Đạt-ma chưa sang xứ này, chẳng phải chẳng thế ấy, dùng Phật ra đời làm gì, Tổ sư Tây sang làm gì?” Thảy như thế nào có dính dáng. Cần phải đại triệt đại ngộ rồi, như xưa núi là núi nước là nước, cho đến muôn pháp thảy đều hiện thành, mới làm người vô sự. Há chẳng thấy Long Nha nói: 

Học đạo trước cần có ngộ do, 

Lại như từng dự hội thuyền đua, 

Tuy nhiên gác cũ đất nhàn rỗi, 

Một phen gánh vác mới nên hưu.

Chỉ như áo vải bảy cân này của Triệu Châu, xem thấy người xưa nói như vàng như ngọc. Sơn tăng nói thế ấy, các ông nghe thế ấy, thảy đều là thượng tải. Hãy nói thế nào là hạ tải? Dưới ba cây đòn tay xem lấy.

TẮC 46

CẢNH THANH TIẾNG MƯA RƠI

Lời dẫn: 

Một chùy liền thành siêu phàm vượt thánh, nửa câu khả dĩ mở trói gỡ niêm, như đi trên tảng băng, chạy trên kiếm bén, ngồi trong khối thanh sắc, đi trên đầu thanh sắc. Diệu dụng dọc ngang gác lại, khoảng sát-na liền đi thế nào, thử cử xem?

Công án: 

Cảnh Thanh hỏi tăng: “Ngoài cửa là tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng mưa rơi.” Cảnh Thanh bảo: “Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.” Tăng thưa: “Hòa thượng thì thế nào?” Cảnh Thanh bảo: “Toàn chẳng quên mình.” Tăng thưa: “Toàn chẳng quên mình ý chỉ thế nào?” Cảnh Thanh bảo: “Xuất thân vẫn còn dễ, thoát thể nói rất khó.”

Giải thích: 

Chỉ ngay đây khéo tiến lấy, cổ nhân dùng một cơ một cảnh cần tiếp người. Một hôm, Cảnh Thanh hỏi tăng: “Ngoài cửa là tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng mưa rơi.” Thanh bảo: “Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.” Lại hỏi: “Ngoài cửa là tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng chim bột cưu.” Thanh bảo: “Muốn được chẳng chuốc nghiệp vô gián, chớ chê bai chánh pháp Như Lai.” Lại hỏi: “Ngoài cửa là tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng rắn bắt nhái kêu.” Thanh bảo: “Sẽ bảo chúng sanh khổ, lại có khổ chúng sanh.” Những câu này với công án ở trước không có hai thứ. Hàng thiền tăng ngay đây thấu được thì ở trong thanh sắc chẳng ngại tự do. Nếu thấu chẳng được liền bị thanh sắc lôi. Công án này, các nơi gọi là lời “tôi luyện”. Nếu là “tôi luyện” chỉ thành tâm hạnh, không thấy được chỗ vì người của cổ nhân. Cũng gọi lời này là “thấu thanh sắc”, một sáng đạo nhãn, hai sáng thanh sắc, ba sáng tâm tông, bốn sáng vọng tình, năm sáng triển diễn. Song nếu không chín chắn, sao khỏi thành hang ổ. 

Cảnh Thanh hỏi: “Ngoài cửa là tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng mưa rơi.” Lại nói: “Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.” Người ta lầm hội, cho là cố ý chuyển người, quả thật không dính dáng. Đâu chẳng biết Cảnh Thanh có thủ đoạn vì người, mật lớn chẳng nệ một cơ một cảnh, rất mực chẳng tiếc lông mày. Cảnh Thanh đâu chẳng biết tiếng mưa rơi, tại sao lại hỏi? Phải biết cổ nhân dùng sào dò bóng cỏ, cốt nghiệm vị tăng này. 

Vị tăng này khéo xô đẩy liền hỏi: “Hòa thượng thì sao?” Liền được Cảnh Thanh vào bùn vào nước, nói với ông “toàn chẳng quên mình”. Vị tăng kia quên mình theo vật là phải, Cảnh Thanh vì sao cũng quên mình? Phải biết nghiệm trong câu kia liền có chỗ xuất thân. Vị tăng này quá lầm lẫn cốt cắt đứt lời này, hỏi: “Chỉ cái chẳng quên mình ý chỉ thế nào?” Nếu là tông môn Đức Sơn, Lâm Tế thì gậy hét đã hiện. Cảnh Thanh thông qua một bước, tùy kia tạo sắn bìm, nói với kia “xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó”. Tuy nhiên thế ấy, người xưa nói tương tục cũng rất khó. Cảnh Thanh chỉ một câu làm vị tăng này sáng việc lớn dưới gót chân. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Hư đường vũ trích thanh

Tác giả nan thù đối

Nhược vị tằng nhập lưu

Y tiền hoàn bất hội

Hội bất hội

Nam sơn bắc sơn chuyển bàng bái.

Dịch:

Nhà trống tiếng mưa rơi

Tác giả khôn đối đáp

Nếu bảo từng nhập lưu

Như trước lại chẳng hội

Hội chẳng hội

Núi nam núi bắc mưa xối xả.

Giải tụng:

Nhà trống tiếng mưa rơi, tác giả khôn đối đáp, nếu nói tiếng mưa rơi thì quên mình theo vật, chẳng nói tiếng mưa rơi lại làm sao chuyển vật? Đến đây, dù là tác giả cũng khó đối đáp. Vì thế, cổ nhân nói: “Thấy bằng thầy kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền thọ.” Nam Viện nói: “Dưới gậy vô sanh nhẫn, lâm cơ chẳng nhượng thầy.” 

Nếu bảo từng nhập lưu, như trước lại chẳng hội, trong kinh nói: “Ban đầu trong cái nghe nhập lưu vong sở, sở nhập đã lặng, hai tướng động tịnh rõ ràng chẳng sanh...” Nếu nói là tiếng mưa rơi thì chẳng phải. Nếu nói chẳng phải tiếng mưa rơi cũng chẳng phải. Phần trước bài tụng hai hét cùng ba hét. Tác giả biết cơ biến chính là loại tụng này. Nếu nói là vào thanh sắc cũng chẳng phải. Nếu gọi là thanh sắc, như trước chẳng hiểu ý kia. Ví như lấy tay chỉ mặt trăng, mặt trăng chẳng phải là ngón tay. Hội cùng chẳng hội, núi bắc núi nam mưa xối xả vậy.

TẮC 47

VÂN MÔN SÁU CHẲNG THÂU

Lời dẫn: 

Trời nói gì đâu bốn mùa đi vậy, đất nói gì đâu vạn vật sanh vậy. Nhằm chỗ bốn mùa vận hành khả dĩ thấy thể, ở chỗ vạn vật sanh khả dĩ thấy dụng. Hãy nói nhằm chỗ nào thấy được thiền tăng? Lìa sạch ngôn ngữ động dụng, đi đứng ngồi nằm, dẹp hết môi mép cuống họng, lại biện được chăng?

Công án: 

Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là pháp thân?” Vân Môn đáp: “Sáu chẳng thâu.”

Giải thích: 

Vân Môn nói sáu chẳng thâu hẳn là khó nắm. Nếu nhằm khi điềm ứng chưa phân, nắm được đã là đầu thứ hai. Nếu nhằm khi điềm ứng đã sanh tiến được lại rơi vào đầu thứ ba. Nếu nhằm trên ngôn cú biện minh, rốt cuộc tìm chẳng được. Cứu cánh cái gì là pháp thân? Nếu là hàng tác gia vừa nghe cử lên liền đứng dậy đi ra. Nếu dừng suy đình cơ, hãy lắng nghe xử phân. 

Thượng tọa Phù ở Thái Nguyên trước là giảng sư, một hôm lên tòa giảng về pháp thân, nói “dọc cùng tam tế, ngang khắp mười phương”. Có một thiền khách ở dưới tòa nghe liền bật cười. Phù xuống tòa, hỏi: “Vừa rồi tôi có chỗ nào dở, mong Thiền giả vì chỉ cho.” Thiền khách nói: “Tọa chủ chỉ giảng được bên lượng của pháp thân, mà chẳng thấy pháp thân.” Phù hỏi: “Cứu cánh thế nào mới phải?” Thiền khách bảo: “Hãy tạm bãi giảng, ngồi trong thất vắng, ắt được tự thấy.” Phù làm như lời thiền khách. Một đêm ngồi yên lặng bỗng nghe đánh chuông canh năm, hốt nhiên đại ngộ, liền chạy gõ cửa Thiền khách nói: “Tôi ngộ rồi.” Thiền khách hỏi: “Ông thử nói xem?” Phù nói: “Kể từ ngày nay tôi chẳng nắm cái lỗ mũi của cha mẹ sanh ra.” 

Trong kinh nói: “Chân pháp thân Phật ví như hư không, ứng vật hiện hình như trăng trong nước.” Lại tăng hỏi Giáp Sơn: “Thế nào là pháp thân?” Giáp Sơn đáp: “Pháp thân không tướng.” Hỏi: “Thế nào là Pháp nhãn?” Đáp: “Pháp nhãn không tỳ.” Vân Môn nói: “Sáu chẳng thâu.” Công án này có người nói: “Chỉ là sáu căn sáu trần sáu thức, sáu cái này từ pháp thân sanh, nên sáu căn thâu nó không được.” Nếu tình giải thế ấy, quả thật chẳng dính dáng, lại làm đới lụy Vân Môn. Cần thấy liền thấy, không có chỗ cho ông đục đẽo. Trong kinh nói: “Pháp ấy chẳng phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu.” 

Vân Môn đáp câu hỏi phần nhiều gợi lên tình giải của người. Vì thế, trong một câu phải đủ ba câu, lại chẳng cô phụ lời hỏi của ông, hợp thời hợp tiết, một lời một câu, một chấm một vạch cũng có chỗ xuất thân. Cho nên nói: “Một câu thấu, ngàn câu muôn câu đồng thời thấu.” Hãy nói là pháp thân, là Tổ sư? Tha ngươi ba mươi gậy. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Nhất nhị tam tứ ngũ lục

Bích nhãn Hồ tăng sổ bất túc.

Thiếu Lâm mạn đạo phó Thần Quang

Quyện y hựu thuyết quy Thiên Trúc.

Thiên Trúc mang mang vô xứ tầm

Dạ lai khước đối Nhũ Phong túc.

Dịch:

Một hai ba bốn năm sáu

Hồ tăng mắt biếc đếm không đủ.

Thiếu Lâm dối nói trao Thần Quang

Cuộn áo lại bảo về Thiên Trúc.

Thiên Trúc mênh mang không chỗ tìm

Đêm về lại đến Nhũ Phong ngủ.

Giải tụng:

Tuyết Đậu thực tài ở chỗ không thưa hở, xuất phát nhãn mục tụng cho người thấy. Vân Môn nói “sáu chẳng thâu”. Tuyết Đậu vì sao nói Một hai ba bốn năm sáu, liền nói Hồ tăng mắt biếc đếm không đủ? Bởi vì “chỉ cho lão Hồ biết, chẳng cho lão Hồ hiểu”. Phải lại là con cháu trong nhà kia mới được. Như trên nói “một lời một câu hợp thời tiết”, nếu thấu được mới biết nói không ở trong ngôn cú. Nếu chưa được thế, chẳng khỏi khởi tình giải. Ngũ Tổ lão sư nói: “Phật Thích-ca-mâu-ni, khách hạ tiện làm con, cây bá ở trước sân, một hai ba bốn năm.” Nếu nhằm dưới ngôn cú Vân Môn thấy được cùng tột thì đến cảnh giới này. 

Thiếu Lâm dối nói trao Thần Quang, Nhị Tổ trước tên Thần Quang. Nhẫn đến sau này lại nói “về Thiên Trúc”, tổ Đạt-ma tịch, nhập tháp dưới núi Hùng Nhĩ. Khi ấy Tống Vân vâng lệnh đi sứ Tây về, đến ngọn núi phía tây thấy tổ Đạt-ma quảy một chiếc giày trở về Tây thiên... Tống Vân về triều tâu lại, triều đình cho khai tháp xem, chỉ thấy để lại một chiếc giày. Tuyết Đậu nói “kỳ thật việc này làm sao phân phó?” Đã không phân phó Cuốn áo lại bảo về Thiên Trúc. Hãy nói vì sao xứ này lại có sáu vị thứ lớp trao truyền nhau? Chỗ này quả thật kỳ quái, phải là nắm được mới có thể nhập. 

Câu Thiên Trúc mênh mang không chỗ tìm, đêm về lại đến Nhũ Phong ngủ, thử nói hiện nay ở chỗ nào? Sư liền đánh, nói: Mù!

TẮC 48

CHIÊU KHÁNH LẬT NGƯỢC ẤM TRÀ

Công án: 

Vương thái phó vào chùa Chiêu Khánh nấu trà. Khi ấy thượng tọa Lãng cùng Minh Chiêu đang soạn ấm trà. Lãng lật ngược ấm trà lại. Thái phó thấy hỏi: “Dưới lò trà là cái gì?” Lãng nói: “Thần bưng lò.” Thái Phó hỏi: “Đã là thần bưng lò vì sao lại lật ngược ấm trà?” Lãng đáp: “Làm quan ngàn ngày mất ở một buổi.” Thái phó phủi áo đi ra. Minh Chiêu nói: “Thượng tọa Lãng ăn cơm Chiêu Khánh xong, lại đi ngoài sông đánh gốc cây cháy.” Lãng hỏi: “Hòa thượng thì sao?” Minh Chiêu bảo: “Phi nhân được cơ hội thuận tiện.” Tuyết Đậu nói: “Khi ấy chỉ đạp nhào lò trà.”

Giải thích: 

Muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên. Vương thái phó coi Tuyền Châu, tham vấn Chiêu Khánh đã lâu. Một hôm nhân vào chùa, thượng tọa Lãng nấu trà, lật úp ấm trà. Thái phó cũng là hàng tác gia, vừa thấy lật úp ấm trà liền hỏi: “Thượng tọa! Dưới lò trà là gì?” Lãng đáp: “Thần bưng lò.” Quả là trong lời có vang, song đầu đuôi trái nhau, mất đi tông chỉ, chạm bén đứt tay, chẳng những cô phụ chính mình cũng xúc phạm kẻ khác. Cái này tuy không có việc được mất, song nêu lên, như trước có thân sơ, có đen trắng. Nếu luận việc này chẳng ở trên ngôn cú, lại cũng nhằm trên ngôn cú biện chỗ sống. Vì thế nói kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Cứ theo thượng tọa Lãng nói thế ấy như chó điên đuổi hòn đất. Thái phó phủi áo ra đi, dường như không chấp nhận kia. 

Minh Chiêu nói: “Thượng tọa Lãng ăn cơm Chiêu Khánh xong, lại đi ngoài sông đánh gốc cây cháy.” Gốc cây cháy tức là gốc cây ở trong đồng hoang bị lửa cháy, gọi là gốc cây cháy. Dùng câu này để chỉ thượng tọa Lãng chẳng nhằm chỗ chánh mà đi, lại nhằm bên ngoài mà chạy. Lãng đẩy lại hỏi: “Hòa thượng thì sao?” Chiêu đáp: “Phi nhân được cơ hội thuận tiện.” Minh Chiêu tự nhiên có chỗ xuất thân, cũng chẳng cô phụ câu hỏi của kia. Cho nên nói chó dữ cắn người chẳng nhe răng. 

Hòa thượng Triết ở Quy Sơn nói: “Vương thái phó giống Tương Như cướp ngọc mà được bông tua chiếc mũ. Minh Chiêu không cam chịu đựng, khó gặp cơ hội tốt. Đại Quy nếu làm thượng tọa Lãng thấy Thái phó phủi áo ra đi, liền buông ấm trà xuống cười ha hả! Tại sao? Thấy đó chẳng chụp ngàn năm khó gặp.” 

Như Bảo Thọ hỏi Hồ Đinh Giảo: “Đã lâu nghe danh Hồ Đinh Giảo, có phải đây chăng?” Giảo thưa: “Phải.” Thọ hỏi: “Lại đóng được hư không chăng?” Giảo thưa: “Mời Thầy đập phá.” Thọ liền đánh. Giảo chẳng nhận. Thọ bảo: “Ngày khác sẽ có ông thầy lanh mồm vì ông điểm phá.” Giảo sau gặp Triệu Châu thuật lại câu nói trước. Châu hỏi: “Ông vì sao bị Bảo Thọ đánh?” Giảo thưa: “Chẳng biết lỗi tại chỗ nào?” Châu bảo: “Chỉ một đường tơ này còn không thể được, lại bảo đập phá hư không.” Giảo liền thôi. Châu nói thay: “Hãy đóng vào đường tơ này.” Giảo khi đó có tỉnh. 

Thầy Mễ Thất ở Kinh Triệu đi hành cước về, có vị lão túc hỏi: “Sợi dây kéo nước đứt bỏ ngoài đường, ban đêm người ta cho là rắn, chưa biết thầy Thất khi thấy Phật gọi là gì?” Thầy Thất đáp: “Nếu có cái để thấy tức đồng chúng sanh.” Lão túc nói: “Cũng là hạt đào ngàn năm.” 

Quốc sư Trung hỏi Cung phụng Tử Lân: “Nghe nói Cung phụng chú giải kinh Tư Ích phải chăng?” Cung phụng đáp: “Phải.” Quốc sư bảo: “Phàm chú kinh phải hiểu ý Phật mới được.” Phụng đáp: “Nếu chẳng hiểu đâu dám nói chú kinh.” Quốc sư sai thị giả đem một chén nước, bảy hột gạo, một chiếc đũa để trên cái chén, trao cho Cung phụng, hỏi: “Ấy là nghĩa gì?” Phụng đáp: “Chẳng hiểu.” Quốc sư bảo: “Ý của lão sư còn chẳng hiểu, lại nói gì ý Phật?” 

Vương thái phó với thượng tọa Lãng nói như thế, người hiểu không phải một. Rốt sau Tuyết Đậu lại nói: “Khi ấy chỉ đạp nhào lò trà.” Minh Chiêu tuy như thế, trọn chẳng bằng Tuyết Đậu. 

Tuyết Phong ở trong hội Động Sơn làm trưởng phòng trai, một hôm đãi gạo. Động Sơn hỏi: “Làm gì?” Phong thưa: “Đãi gạo.” Động Sơn hỏi: “Đãi gạo bỏ cát hay đãi cát bỏ gạo?” Phong thưa: “Gạo cát đồng thời bỏ.” Động Sơn hỏi: “Đại chúng lấy gì ăn?” Phong liền úp chậu lại. Động Sơn bảo: “Nhân duyên của ông không phải ở đây.” Tuy nhiên thế ấy, đâu giống Tuyết Đậu nói “Khi ấy chỉ đạp nhào lò trà.” Bậc nhất đẳng là thời tiết gì? Đến chỗ dụng kia vượt nay suốt xưa, có chỗ sống linh hoạt.

Tụng:

Lai vấn nhược thành phong

Ứng cơ phi thiện xảo

Kham bi độc nhãn long

Tằng vị trình nha trảo.

Nha trảo khai

Sanh vân lôi

Nghịch thủy chi ba kinh kỷ hồi.

Dịch:

Đến hỏi nếu thành phong

Ứng cơ chẳng khéo léo

Đáng buồn một mắt rồng

Chưa từng trình nanh vuốt.

Nanh vuốt bày

Mây sấm dậy

Sóng vỗ ngược dòng bao giờ về.

Giải tụng:

Hai câu Đến hỏi nếu thành phong, ứng cơ chẳng khéo léo, là nói chỗ hỏi của Thái phó giống như múa rìu thành gió. Đây là xuất xứ từ Trang Tử, trong ấy nói: Người đất Dĩnh lấy đất trét vách, còn trống một lỗ nhỏ xíu, bèn vò một hòn đất tròn ném vào liền kín, khi ấy có chút đất nhỏ rơi dính chót mũi ông ta. Bên cạnh có người thợ mộc bảo: Anh bổ chỗ thiếu rất khéo, tôi dùng chiếc rìu vì anh phủi chút bùn ở chót mũi. Mảnh bùn dính chót mũi bằng con ruồi đậu, bảo anh thợ mộc đẽo nó. Anh thợ mộc múa rìu thành gió đẽo sạch mảnh bùn mà chẳng chạm đến lỗ mũi, người đất Dĩnh đứng bình thường không đổi sắc mặt, để nói hai người đều khéo léo. Thượng tọa Lãng tuy ứng với cơ mà lời không khéo. Vì thế, Tuyết Đậu nói Đến hỏi nếu thành phong, ứng cơ không khéo léo

Đáng buồn một mắt rồng, chưa từng trình nanh vuốt. Minh Chiêu nói rất kỳ đặc, song chưa có nanh vuốt dồn mây dậy mưa. Tuyết Đậu đứng bên chẳng nhận, không chịu nổi liền thay kia nói ra. Tuyết Đậu thầm hợp với ý kia, tự tụng lời đạp nhào lò trà. 

Nanh vuốt bày, mây sấm dậy, sóng vỗ ngược dòng bao giờ về. Vân Môn nói: “Chẳng mong ông có tài sóng ngược nước, chỉ có ý thuận dòng cũng được.” Vì thế nói: “Dưới câu sống tiến được vĩnh kiếp chẳng quên.” Thượng tọa Lãng cùng Minh Chiêu ngữ cú tợ chết. Nếu cần thấy chỗ sống, chỉ xem Tuyết Đậu đạp nhào lò trà.

TẮC 49

TAM THÁNH CÁ VÀNG PHỦNG LƯỚI

Lời dẫn: 

Bảy xoi tám phủng cướp trống đoạt cờ, trăm vòng ngàn lớp, xem trước ngó sau, cưỡi đầu cọp nắm đuôi cọp, chưa phải tác gia. Đầu trâu mất đầu ngựa về, cũng chưa là kỳ đặc. Hãy nói khi người quá lượng đến thì thế nào, thử cử xem?

Công án: 

Tam Thánh hỏi Tuyết Phong: “Cá vàng vọt phủng lưới, chưa biết lấy gì làm thức ăn?” Tuyết Phong đáp: “Đợi ông ra khỏi lưới đến, vì ông nói.” Tam Thánh nói: “Là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người mà thoại đầu cũng chẳng biết.” Tuyết Phong nói: “Lão tăng trụ trì nhiều việc.”

Giải thích: 

Tuyết Phong, Tam Thánh tuy nhiên một ra một vào, một xô một đẩy, chưa phân thắng bại. Hãy nói hai vị tôn túc này đủ con mắt gì? Tam Thánh từ Lâm Tế nhận ấn ký trải khắp các nơi, đều được các nơi đãi vào hàng cao khách. Xem Sư đặt câu hỏi bao nhiêu người dò tìm chẳng được. Vả lại chẳng dính lý tánh Phật pháp. Hỏi con cá vàng vọt phủng lưới, chưa biết lấy gì làm thức ăn? Thử nói ý Sư thế nào? Cá vàng vọt phủng lưới bình thường đã chẳng ăn mồi thơm của người, chẳng biết lấy gì làm thức ăn? 

Tuyết Phong là tác gia dường như nhàn rỗi, chỉ lấy một hai phần đáp kia, lại vì kia nói “đợi ông ra khỏi lưới đến, vì ông nói”. Phần Dương gọi là hỏi “trình giải”, tông Tào Động gọi là hỏi “mượn việc”. Phải là vượt quần thoát loại được đại thọ dụng, trên đảnh có con mắt, mới gọi là cá vàng vọt phủng lưới. Nào ngờ Tuyết Phong là hàng tác gia chẳng ngại làm giảm uy danh của người, nên nói đợi ông ra khỏi lưới đến, vì ông nói. 

Xem hai vị nắm vững phong cương, vách đứng muôn trượng. Nếu chẳng phải Tam Thánh một câu này liền đi chẳng được. Nhưng Tam Thánh cũng là hàng tác gia mới biết nói với kia, là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người mà thoại đầu cũng chẳng biết. Tuyết Phong lại nói “Lão tăng trụ trì nhiều việc”. Câu này thật cứng rắn cao ngạo. Hai vị tác gia gặp nhau, một bắt một thả, gặp mạnh liền yếu, gặp tiện liền quý. Nếu ông khởi hiểu hơn thua thì chưa mộng thấy Tuyết Phong. Xem hai vị lúc đầu nguy nga chót vót, rốt sau hai người đều là kẻ chết. Hãy nói có được mất, hơn thua chăng? 

Những vị tác gia khác đối đáp ắt chẳng như thế. Tam Thánh ở chỗ Lâm Tế làm viện chủ, Lâm Tế sắp tịch dạy: “Sau khi ta đi, chẳng được diệt chánh pháp nhãn tạng của ta.” Tam Thánh ra thưa: “Đâu dám diệt chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng.” Lâm Tế hỏi: “Về sau có người hỏi ông làm sao?” Tam Thánh liền hét. Lâm Tế nói: “Ai biết chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù này diệt rồi.” Tam Thánh liền lễ bái. Sư là chân tử của Lâm Tế mới dám đối đáp như thế. Tuyết Đậu rốt sau chỉ tụng cá vàng vọt phủng lưới, bày chỗ tác gia thấy nhau.

Tụng:

Thấu võng kim lân

Hưu vấn đới thủy

Dao càn đãng khôn

Chấn liệp bãi vĩ.

Thiên xích kình phún hồng lãng phi

Nhất thanh lôi chấn thanh tiêu khỉ

Thanh tiêu khỉ

Thiên thượng nhân gian tri kỷ kỷ.

Dịch:

Thủng lưới cá vàng

Thôi bảo dính nước

Rung càn động khôn

Mang chấn đuôi quạt.

Ngàn thước cá kình phun sóng to

Một tiếng sấm vang gió mạnh nổi

Gió mạnh nổi

Trên trời nhân gian mấy người biết.

Giải tụng:

Hai câu Thủng lưới cá vàng, thôi bảo dính nước, Ngũ Tổ tiên sư nói chỉ trong một câu này tụng xong vậy. Đã là cá vàng vọt thủng lưới há kẹt trong nước, ắt ở chỗ nước nổi mênh mông sóng dậy ngập trời. Hãy nói trong mười hai giờ lấy cái gì làm thức ăn? Các ông hãy nhằm dưới ba cây đòn tay, trước cái đơn bảy thước, thử định đúng xem? Tuyết Đậu nói việc này tùy phần niêm lộng, như loại cá vàng khi Mang chấn đuôi quạt thì Rung càn động khôn. 

Câu Ngàn thước cá kình phun sóng to là tụng Tam Thánh nói “là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người mà thoại đầu cũng chẳng biết”, như cá kình phun sóng to. Câu Một tiếng sấm vang gió mạnh nổi là tụng Tuyết Phong nói “Lão tăng trụ trì nhiều việc”, giống như một tiếng sấm gió mạnh nổi dậy. Đại cương tụng hai vị đều là hàng tác gia. 

Hai câu Gió mạnh nổi, trên trời nhân gian mấy người biết, thử nói hai câu tụng này rơi tại chỗ nào? Chữ tiêu là gió, khi gió mạnh thì trên trời nhân gian có mấy người hay biết.

TẮC 50

VÂN MÔN TRẦN TRẦN TAM-MUỘI

Lời dẫn:

Vượt qua giai cấp siêu tuyệt phương tiện, cơ cơ hợp nhau, cú cú vào nhau. Ví chẳng phải vào cửa đại giải thoát, được dụng đại giải thoát, lấy gì quyền hành Phật tổ, quy giám tông thừa. Hãy nói đương cơ cắt đứt, nghịch thuận tung hoành, làm sao nói được câu xuất thân, thử mời cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là trần trần tam-muội?” Vân Môn đáp: “Cơm trong bát, nước trong thùng.”

Giải thích: 

Lại định đúng được chăng? Nếu định đúng được thì lỗ mũi Vân Môn ở trong tay các ông. Nếu định đúng chẳng được thì lỗ mũi các ông ở trong tay Vân Môn. Vân Môn có câu chặt đinh cắt sắt, trong một câu đủ ba câu. Có người hỏi đến liền nói, cơm trong bát, mỗi hạt đều tròn, nước trong thùng, mỗi giọt đều ướt. Nếu hiểu thế ấy, chẳng thấy chỗ Vân Môn đoan đích vì người.

Tụng:

Bát lý phạn dũng lý thủy

Đa khẩu a sư nan hạ chủy

Bắc đẩu Nam tinh vị bất thù

Bạch lãng thao thiên bình địa khỉ.

Nghĩ bất nghĩ

Chỉ bất chỉ

Cá cá vô côn trưởng giả tử.

Dịch:

Cơm trong bát, nước trong thùng

Ông thầy lanh mồm khó mở miệng

Sao Bắc sao Nam vị khác nào

Sóng bủa ngập trời đất bằng dấy.

Nghĩ chẳng nghĩ

Dừng chẳng dừng

Mỗi mỗi không quần con trưởng giả.

Giải tụng:

Ở trước, Tuyết Đậu tụng công án “đối nhất thuyết” của Vân Môn, “đối nhất thuyết, quá cao tột, chùy sắt không lỗ thêm hạ chốt”. Sau tụng công án “ly tứ cú tuyệt bách phi” của Mã Tổ, nói “Tạng đầu bạc, Hải đầu đen, Thiền tăng mắt sáng hội chẳng được.” Nếu nơi công án này thấu được thì thấy tụng kia. 

Tuyết Đậu mở đầu nói Cơm trong bát, nước trong thùng, trong lời có vang, trong câu trình cơ. Tiếp Ông thầy lanh mồm khó mở miệng, theo sau vì ông chú cước. Nếu ông nhằm trong này cần tìm đạo lý huyền diệu, so sánh càng khó mở miệng. 

Tuyết Đậu đến đây cũng được, ông ta thích ngay mở đầu nắm đứng, sợ e trong chúng có người đủ mắt sáng nhìn thấu, nên đến phần sau lại bỏ qua một nước, cúi xuống vì kẻ sơ cơ vạch bày tụng ra khiến người thấy. Bắc đẩu như xưa ở phương bắc, sao Nam như xưa ở phương nam, vì thế nói Sao Bắc sao Nam vị khác nào

Câu Sóng bủa ngập trời đất bằng dấy, bỗng nhiên đất bằng dậy sóng phải làm sao? Nếu nhằm trên sự xem thì dễ, nếu nhằm dưới ý căn tìm thì mò bắt chẳng được. Cái này giống hệt cây cọc sắt, lung lay chẳng được, mở miệng chẳng được. Nếu ông nghĩ nghị muốn hiểu thì chẳng hiểu, muốn dừng mà không dừng. Bày ra chỗ dốt chính là Mỗi mỗi không quần con trưởng giả. Thơ Hàn Sơn nói: 

Lục cực thường thêm khổ, 

Cửu duy luống tự bàn.

Có tài vất cỏ rậm, 

Không thế đóng cửa bồng.

Trời lên, núi vẫn tối, 

Khói hết, hang còn mờ, 

Trong kia con trưởng giả, 

Mỗi mỗi thảy không quần.

Đọc tiếp →
Mục Lục
Danh sách chương: