|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
Chương 1 - 4
Quyển Tọa Thiền Tam-muội này do chư tổ gom chép, biên soạn những pháp thiền căn bản thiết yếu cho người sơ cơ. Trong đó ngài Samgharaksa (Tăng-già-la-xoa) đã nói rõ pháp quán đối trị tướng dâm nhuế si của chúng sanh. Dứt trừ gốc bệnh mới có thể tiến tu, đây là cửa ban đầu vào đạo. Ngài Cưu-ma-la-thập dịch quyển này từ Phạn sang Hán tại Trường An vào năm 402 đời Dao Tần. Trong lúc nghiên cứu pháp tu thiền, tự mình tìm con đường thích hợp để ứng dụng, tôi thấy lời dạy trong đây rõ ràng, có lợi ích rất lớn nên phát tâm dịch ra tiếng Việt. Trong chương trình giảng dạy Thiền Căn Bản, tôi chọn ba quyển: Tọa Thiền Tam-muội, Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán và Lục Diệu Pháp Môn để hướng dẫn đường lối tu cụ thể, giúp cho những người sơ cơ hiểu rõ thứ tự từng bước tiến tu. CHƯƠNG I TỔNG KHỞI Chánh văn: Phật nói khó được nghe, Được nghe mừng cũng khó, Điều đại nhân ưa nghe, Kẻ tiểu nhân lại chán. Chúng sanh đáng thương xót, Rơi đường hiểm lão tử, Kẻ quê mọi ân ái, Chỗ sợ, ngu không sợ. Thế giới dù lớn nhỏ, Pháp vẫn không thường còn, Tất cả không lâu bền, Tạm hiện như điển chớp. Thân này thuộc già chết, Chỗ về của các bệnh, Da mỏng che bất tịnh, Ngu muội bị nó lừa. Người thường bị giặc già Cướp mất sắc trai trẻ, Như cành hoa xàu héo Rã cánh hết quý giá. Công đức vua Đảnh Sanh Ngồi chung trời Đế-thích, Phước báo rất rộng lớn Ngày nay lại còn đâu! Vua ấy trong trời người Dục lạc đủ hơn hết, Khi chết rất đau khổ, Do đó khá nhận ý. Các dục trước vui nhỏ, Sau thảy thành khổ lớn, Như oán trước thấy tốt, Diệt tộc họa ở sau. Thân này là đồ nhơ, Chín lỗ thường chảy nhớp, Cũng như ghẻ na-lợi, Thầy thuốc khôn bề trị. Xe xương sức rất kém, Gân mạch ràng, thức chuyển, Ngươi cho là xe đẹp, Nhận thích không hổ thẹn. Người chết gom một chỗ Vất bỏ đầy gò nổng, Lúc sống cùng tiếc giữ Khi chết đều vất đi. Thường phải nghĩ như thế, Nhất tâm quán chớ loạn, Phá ngu mê đen tối Cầm đuốc rạng sáng soi. Nếu bỏ Tứ niệm chỉ, Tâm ác nào chẳng tạo, Như voi hăng không móc Trọn không theo lối khiển. Ngày nay gây nghiệp này Ngày mai tạo việc kia, Ưa thích không thấy khổ Bất ngờ giặc chết đến! Lo lắng việc của mình, Việc kẻ khác cũng tính, Giặc chết không đợi giờ Đến thì không phương thoát. Như nai khát tìm suối, Vì uống nên đến nước, Thợ săn không từ bi, Không đợi uống xong, giết. Người ngu cũng như thế, Siêng tạo các sự nghiệp, Chết đến không đợi giờ, Ai sẽ vì ngươi giữ? Người tâm mong giàu sang, Ngũ dục lòng chưa thỏa, Các vị đại quốc vương Đâu khỏi được nạn này. Chư tiên giỏi chú thuật Cũng không thoát sanh tử, Voi lớn vô thường đạp Trùng kiến đồng với đất. Cho đến tất cả người, Chư Phật bậc Chánh giác, Vượt qua dòng sanh tử Cũng vẫn không thường ở. Vì thế nên phải biết, Điều ông đáng yêu thích, Hẳn nên sớm bỏ lìa, Nhất tâm cầu Niết-bàn. Sau khi mất thân này, Ai sẽ nhận biết ta? Kẻ được gặp Pháp bảo Và người chưa được gặp, Rất lâu Phật nhật xuất Phá tối lớn vô minh. Phóng ra các ánh sáng Chỉ người đạo, phi đạo, Ta từ đâu mà đến? Đi sẽ trở về đâu? Chỗ nào được giải thoát? Nghi này ai thấu rõ? Phật Thánh nhất thế trí Lâu lắm mới ra đời. Nhất tâm chớ buông lung, Hay phá nghi của người, Kia không ưa thật lợi, Mến thích tâm tệ ác. Ngươi là chúng sanh tốt Nên cầu thật pháp tướng. Ai biết khi nào chết? Chết rồi đến ở đâu? Ví như đèn trước gió Đâu biết khi nào tắt. Pháp chí đạo không khó, Đại thánh chỉ việc nói, Nói trí và cảnh trí, Hai việc không nhờ ngoài. Ngươi nếu không buông lung Nhất tâm thường hành đạo, Không lâu được Niết-bàn Chỗ đệ nhất an lạc. Trí sáng gần người lành, Hết lòng kính Phật pháp, Nhàm chán thân bất tịnh, Lìa khổ được giải thoát. Chỗ vắng tu chí lặng, Ngồi kiết già trong rừng, Xét tâm không buông lung, Ngộ ý, biết các duyên. Nếu không chán cõi đời, Yên ngủ không tự thức, Không nghĩ đời vô thường, Đáng sợ mà chẳng sợ. Hồ phiền não không đáy, Biển sanh tử không bờ, Thuyền vượt khổ chưa đóng Đâu thể vui ngủ nghỉ! Do đây phải giác ngộ, Chớ để ngủ che tâm. Trong bốn thứ cúng dường, Biết lượng, biết vừa đủ. Sợ lớn chưa thoát được, Phải chuyên cần tinh tấn, Tất cả khổ khi đến, Hối hận không thể kịp. Mặc y ngồi cội cây, Đúng như pháp được ăn, Chớ vì tham món ngon Mà tự đến hư hỏng. Món ăn qua khỏi cổ Ngon dở đều không khác, Ưa ngon sanh buồn khổ Bởi thế chớ nên ưa. Hành nghiệp trong thế giới, Ngon dở đâu chẳng trải, Tất cả đều thọ đủ, Phải lấy đó tự ngăn. Nếu ở trong loài thú Nhai cỏ làm vị ngon, Địa ngục nuốt hoàn sắt Sắt đốt cháy hừng hực. Nếu sanh quỷ bệ-lệ, Máu mủ đồ phẩn uế, Dãi đàm, các bất tịnh, Lấy đó làm món ngon. Nếu được sanh thiên cung, Trong cung đẹp thất bảo, Ăn toàn thức tô-đà, Thiên nữ làm vui lòng. Sanh làm người hào quý Món ngon đủ các thứ, Tất cả từng trải qua Nay sao còn ưa thích? Qua lại trong thế giới, Chán trải việc khổ lạc, Chỉ chưa được Niết-bàn, Phải siêng cầu lợi này. Giảng: Phật nói khó được nghe, Được nghe mừng cũng khó, Điều đại nhân ưa nghe, Kẻ tiểu nhân lại chán. Chúng sanh đáng thương xót, Rơi đường hiểm lão tử, Kẻ quê mọi ân ái, Chỗ sợ, ngu không sợ. Phật nói khó được nghe, được nghe mừng cũng khó. Chúng ta được nghe lời Phật dạy đã là điều khó, nghe rồi vui mừng thích thú lại càng khó hơn. Tại sao? Vì chúng ta chỉ thích nghe những điều vui tai, êm ái nhẹ nhàng, còn những điều khô khan nhưng đúng lẽ thật thì không ai thích. Đức Phật không nói những chuyện đúng sở thích của chúng ta. Mọi người, ai cũng muốn được khen mình đẹp; đáng kính. Phật lại nói thân mình nhớp nhúa, tạm bợ; nghe như thế có mừng không? Lời nói thật thì khó nghe, lời nói tán tụng thì dễ chịu. Đó là bệnh của con người. Chúng sanh ít ai chịu nghe lời Phật nên nói là khó được nghe. Nghe rồi lại hoan hỷ, mừng rỡ nghe được điều chưa từng nghe, cũng rất khó. Có túc duyên nhiều đời mới được hiểu như vậy, nếu mới tu sơ sơ thì không ưa thích nghe. Điều đại nhân ưa nghe, kẻ tiểu nhân lại chán. Những điều mà người lớn, người trí thức chịu nghe thì người thường trí kém không thích. Như người không hiểu Phật pháp, nghe nói thân này là nhớp nhúa tạm bợ thì chắc chắn không thích, bịt tai bỏ đi. Chúng sanh đáng thương xót, rơi đường hiểm lão tử. Tất cả chúng sanh đều đáng thương xót, cam chịu rơi trong đường hiểm sanh già bệnh chết. Tại sao? Bởi vì họ thích nghe lời tán tụng khen ngợi không xác thực, mà không thích nghe lẽ thật, không thích nghe lời chỉ dạy thoát khổ. Kẻ quê mọi ân ái, chỗ sợ ngu không sợ. Người không hiểu biết bị Tổ quở là kẻ quê mùa thích những điều ân ái ràng buộc, thích làm tôi mọi của ái dục. Đó là chỗ người trí sợ mà kẻ ngu không sợ. Người trí sợ những tâm niệm bị cột trói trong ái dục, là nguyên nhân trầm luân, kẻ ngu lại thích bị gia đình cột trói. Qua các câu mở đầu, Tổ chỉ dạy tổng quát về chúng sanh, thế nào là đại nhân, thế nào là tiểu nhân, ai là người ngu, ai là kẻ trí. Chúng ta tự kiểm lại mình, tự xét chứ không ai phê phán được. Tự xét rồi thầm biết, thầm biết rồi ráng mà vươn lên. Thế giới dù lớn nhỏ, Pháp vẫn không thường còn, Tất cả không lâu bền, Tạm hiện như điển chớp. Nhìn lại thế giới chúng ta đang ở đang nương tựa đây, nó là thường còn hay là vô thường? Thiên tai bão lụt khắp nơi, động đất ở Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản... Mới thấy bình an, ngủ một đêm thức dậy thành tai họa, không có gì bảo đảm. Thế mà chúng ta cứ ngỡ nó là còn mãi mãi, nó là bất di bất dịch... Đó là cái hiểu sai lầm. Cho nên ở đây Tổ nhắc cho nhớ, dù thế giới lớn hay nhỏ vẫn là tướng vô thường tạm bợ không lâu bền, tạm hiện như điện chớp, mới thấy lóe sáng rồi mất. Thân này thuộc già chết, Chỗ về của các bệnh, Da mỏng che bất tịnh, Ngu muội bị nó lừa. Hai câu trên ngài nói thân chúng ta thuộc già, chết. Có người nào mang thân này mà khỏi già chết không? Đó là con đường phải đến, chỉ có người sớm kẻ muộn thôi. Thân này chẳng những thuộc già chết mà còn là ổ chứa bệnh hoạn. Có ai dám khẳng định từ bé đến giờ chưa biết bệnh là gì? Ai cũng mang đủ thứ bệnh, không bệnh này cũng bệnh khác, chưa có người không bệnh. Da mỏng che bất tịnh, ngu muội bị nó lừa. Thân chúng ta bên ngoài chỉ có lớp da mỏng tạm coi sạch sẽ một chút, bên trong lại chứa toàn đồ nhớp nhúa, chỗ nào khơi ra cũng nhờm gớm, từ đầu cho tới chân. Thân chúng ta chỉ có dáng vẻ bên ngoài, kẻ ngu bị nó lừa, nhìn dáng bề ngoài cho là đẹp là xấu... Người trí thấy biết tột cùng, bên ngoài tốt đẹp đến đâu cũng chỉ là một lớp da mỏng bao bọc, bên trong thân là bất tịnh không có gì khác, vì thế không bị lừa. Người thường bị giặc già Cướp mất sắc trai trẻ, Như cành hoa xàu héo Rã cánh hết quý giá. Ở đời, ai cũng bị giặc già cướp mất sức trai trẻ. Năm nay hai mươi tuổi, mười năm sau ba mươi, rồi đến bốn mươi, năm mươi... tất cả tuổi trẻ, vẻ đẹp, sức tinh nhanh đều không còn. Tuổi già như cành hoa xàu héo. Chúng ta thấy cành hoa nào đang tươi cũng đều dễ thương muốn hái, muốn cầm nắm, nhưng khi nó héo tàn có ai muốn cầm giữ nó không? Ở Trúc Lâm có những lúc tôi thấy buồn cười, khách đi chùa thấy vườn hoa đẹp, dù có ghi bảng yêu cầu đừng hái hoa nhưng họ cũng ngắt một cái, cầm đi chơi một hồi thấy nó héo thì quăng. Con người thời tuổi trẻ thấy là đẹp là quý, nhưng về già thì mất hết tự hào, không còn ai ngó ngàng đến. Vì vậy trong đây nói Như cành hoa xàu héo, rã cánh hết quý giá. Công đức vua Đảnh Sanh Ngồi chung trời Đế-thích, Phước báo rất rộng lớn Ngày nay lại còn đâu! Kinh A-hàm dẫn tích vua Đảnh Sanh. Vị vua này có phước đức nhiều nên cầu gì được nấy. Ông muốn cầu bảy báu thì trời mưa bảy báu đầy cả dinh thự, đầy kho lẫm. Mong cầu cuối cùng của ông là lên chơi cõi trời, liền được toại nguyện. Vua trời Đế-thích thấy ông liền mừng đón mời ông ngồi chung tòa. Quán sát cõi trời ông khởi tâm ham thích, bèn thầm nghĩ xô Đế-thích xuống để giành ngôi. Vừa khởi nghĩ thì ông bị rớt xuống lại trần gian. Như vậy, phước báo của vua Đảnh Sanh thật to lớn, cầu gì được nấy, chỉ vì lòng tham không bờ bến nên bị rớt lại thế gian chịu khổ. Tất cả phước báo dù to lớn đến đâu, sau cùng rồi cũng tan. Chúng ta thường ham thích muốn được phước nhiều để hưởng, nhưng sung túc chừng nào thì chết yểu chừng nấy. Phước báo nhiều không có lợi, không phải là cái đáng mong cầu. Vua ấy trong trời người Dục lạc đủ hơn hết, Khi chết rất đau khổ, Do đó khá nhận ý. Vua Đảnh Sanh ở trong cõi trời cõi người tất cả dục lạc đầy đủ hơn ai hết, đến giờ phút chót phải khổ rồi chịu chết, không ai ngó ngàng. Chúng ta phải hiểu ý này nên sớm lo tu hành, không nên tham đắm dục lạc thế gian. Các dục trước vui nhỏ, Sau thảy thành khổ lớn, Như oán trước thấy tốt, Diệt tộc họa ở sau. Vui dục lạc lúc đầu chỉ là cái vui nhỏ, nhưng lại thành khổ lớn. Như những đứa trẻ ngu dại hút xì-ke ma túy, lúc được hút thì vui không? Vui! Nhưng vui được bao lâu? Vui nhiều lắm là năm ba phút, đến khi nghiện thì khổ suốt đời. Như thế mà người ta lại đắm mê trong đó, thật đáng thương. Như oán trước thấy tốt, diệt tộc họa ở sau. Khi chúng ta tạo nhiều oán thù, thấy mình thắng người, hơn người rồi tưởng như vậy là tốt. Nhưng người ta ôm mối oán thù với mình có ngày họ tiêu diệt mình. Vui trong dục lạc cũng như vậy, lúc đầu tốt đẹp mà sau chịu khổ lâu dài. Thân này là đồ nhơ, Chín lỗ thường chảy nhớp, Cũng như ghẻ na-lợi, Thầy thuốc khôn bề trị. Thân chúng ta bất tịnh, bên trong chứa đồ nhơ, hở chỗ nào thì chảy ra toàn những thứ nhớp. Như con mắt, lỗ mũi xem như rất quan trọng, vậy mà thỉnh thoảng chảy ra ghèn nhớt, nước mũi... rất gớm. Đã gớm thì biết rằng những thứ đó không phải tốt đẹp sạch sẽ, quý báu. Nên ở đây nói cũng như ghẻ na-lợi. Ở Ấn Độ ghẻ na-lợi là thứ ghẻ không có thầy thuốc nào trị lành. Ai mắc bệnh này rồi thì phải suốt đời chịu lở lói, khổ sở. Tất cả chúng ta mang thân này toàn là đồ nhớp nhúa, như ghẻ lở hôi hám không ai làm cho nó sạch được. Biết như vậy thì không nên đắm mến để khỏi khổ vì nó. Xe xương sức rất kém, Gân mạch ràng, thức chuyển, Ngươi cho là xe đẹp, Nhận thích không hổ thẹn. Thân này do những lóng xương kết lại, gân mạch ràng rịt, thành như một cái xe. Trong đó thần thức chuyển biến khiến thân cử động như chiếc xe đi lại tới lui. Chỉ là một mớ xương gân da thịt ràng rịt làm thân này mà người ta cho là đẹp, thích thú yêu mến nó không biết hổ thẹn. Tổ nhắc nhở điều này để chúng ta đừng tự hào về thân mình. Người chết gom một chỗ Vất bỏ đầy gò nổng, Lúc sống cùng tiếc giữ Khi chết đều vất đi. Đây nói đến lúc cuối cùng của đời người, ai chết rồi thì cũng đều vất bỏ hết. Nhiều khi chúng ta nghĩ tủi cho thân mình, ngày nào còn sống thì anh em cha con vui vẻ thân mật. Lúc có một người chết, thân đã bầm xanh rồi thì cha con anh em không dám lại gần. Mới hôm qua là quý là thương, là thân mật, sao bữa nay lại khinh rẻ vậy? Người thân thuộc chết chúng ta gớm sợ không dám lại gần, mai kia thân chúng ta chết thì sao? Mọi người cũng gớm, không dám lại gần như vậy. Mới ngày nào thân mật, đi đâu cũng không rời mà khi tắt thở, bầm xanh rồi không ai thèm ngó tới, bảo lại gần không dám lại gần. Cho nên lối chôn cất cũng khéo léo, phải có quan tài đậy kín rồi sơn màu mè cho dễ coi, nếu để trống trơn ở ngoài chắc thiên hạ gớm không ai dám tới. Nếu thân này là quý là sạch, khi sống được mọi người mến thương thì khi chết cũng phải như vậy. Vậy thân này là đồ quý hay đồ bỏ? Ở Ấn Độ có thi lâm, là khu rừng để bỏ thây chết. Phật dạy các thầy Tỳ-kheo đến thi lâm quán bất tịnh để nhàm chán, không yêu quý thân. Thường phải nghĩ như thế, Nhất tâm quán chớ loạn. Lúc sống chúng ta quý tiếc gìn giữ thân, nhưng khi chết thì mọi người đều vất đều quăng nó đi không thương tiếc. Thường nghĩ nhớ quán sát như vậy, chúng ta không si mê lầm chấp thân, quý trọng thân. Nếu không nhất tâm quán xét sự thật, chúng ta sẽ chịu khổ, lệ thuộc vào thân không thoát ra được. Thân này là đồ bỏ, không đáng quý nhưng chúng ta có nó thì phải làm sao? Phật nói thân là vật bại hoại vô thường nhưng cũng nói thân này mất đi tìm lại được rất khó. Khó được tức là quý, mà đây thì nói thân bất tịnh đáng chê, như vậy có mâu thuẫn không? Phật dạy thân này tuy không ra gì, nhớp nhúa, tạm bợ... nhưng rất cần để tu tập, đem lại lợi ích cho mình và người. Chúng ta phải làm thế nào xứng đáng khi có mặt trên thế gian này. Không phải thấy thân gớm, nhớp quá rồi thả trôi nằm chờ chết, đó là lầm lẫn. Ví dụ chúng ta đi sông đi biển lỡ chìm thuyền, lúc đó bơi ra ngoài bỗng gặp được gốc cây mục. Biết là gốc cây mục không có gì quý, nhưng lúc mình đuối sức bơi không nổi lội không được, đeo gốc cây mục thì khỏi chìm. Bản thân gốc cây mục không quý, nhưng nhờ nó mà mình khỏi chết chìm là quý. Được gốc cây mục rồi chúng ta phải nương nó, cố gắng bơi cho tới bờ. Nếu được nó mà cứ đeo bám ràng rịt, lâu ngày nó rã mình cũng chết chìm luôn, đó là dại khờ. Đức Phật thường dạy, chúng ta có thân này, mượn nó để tu, để làm những điều công đức. Nhờ nó đưa chúng ta tới bờ bên kia, qua khỏi vòng trầm luân. Khinh rẻ nó để chờ chết đó là dại khờ; biết không đáng quý nhưng đem hết khả năng tu tiến đến giác ngộ, đó là người khôn biết dùng thân. Phá ngu mê đen tối Cầm đuốc rạng sáng soi. Nếu bỏ Tứ niệm chỉ, Tâm ác nào chẳng tạo, Như voi hăng không móc Trọn không theo lối khiển. Phá ngu mê đen tối, cầm đuốc rạng sáng soi, nghĩa là dùng đèn trí tuệ phá ngu mê, dùng đuốc trí tuệ soi sáng lại bản thân chúng ta, đừng đắm mến đừng say mê nó, mà ráng tu. Tứ niệm chỉ, chỗ khác gọi là Tứ niệm xứ, là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, nhớ bốn điều này theo đó tu hành. Tâm ác nào chẳng tạo, nếu không tu Tứ niệm chỉ, tâm chúng ta không chừa bất cứ điều ác nào, giống như con voi đang hăng đang mạnh mà không có móc nhọn để kéo lại thì nó không theo sự điều khiển của mình. Vì thế chúng ta tu tứ niệm xứ để dẹp trừ tâm đuổi theo dục lạc thế gian, nếu không thì tâm đắm mê dục lạc khó kìm giữ. Ngày nay gây nghiệp này Ngày mai tạo việc kia, Ưa thích không thấy khổ Bất ngờ giặc chết đến! Người đời gây tạo nghiệp khổ mà không thấy biết, nay tạo nghiệp này mai tạo nghiệp kia, cứ chạy theo nghiệp, một hôm nào cái chết đến thì sao? Chừng đó giật mình hối hận không kịp, chỉ có theo nghiệp mà đi, không sao thoát khỏi đau khổ. Lo lắng việc của mình, Việc kẻ khác cũng tính, Giặc chết không đợi giờ Đến thì không phương thoát. Chúng ta chẳng những lo lắng việc của mình, việc kẻ khác cũng tính. Việc của mình lo tính phải rồi, việc của người cũng lo không chịu dừng, tưởng như mình hay mình giỏi lắm. Chẳng ngờ việc của mình làm chưa xong, giặc chết đến không hẹn ngày, không chờ lo xong việc. Chết là kẻ giặc lớn cướp mạng sống con người, không ai thoát khỏi nó. Như nai khát tìm suối, Vì uống nên đến nước, Thợ săn không từ bi, Không đợi uống xong, giết. Con nai khát nước tìm đến suối để uống nước. Khi nó đang uống, người thợ săn nhìn thấy, chờ nó uống xong rồi mới bắn hay thấy là bắn liền? Thấy là bắn liền. Cái chết đối với chúng ta cũng thế, tính việc này việc kia chưa xong, phải chi thần chết thương tình nán cho mình năm bảy bữa xong rồi nó hãy bắt đi! Mình đang tính dang dở chưa xong mà ngã đùng ra chết. Thế gian có rất nhiều trường hợp như vậy. Biết như thế chúng ta phải khéo hiểu đừng mê lầm chấp trước mọi việc, một khi thần chết tới không biết làm sao mà giải quyết. Người ngu cũng như thế, Siêng tạo các sự nghiệp, Chết đến không đợi giờ, Ai sẽ vì ngươi giữ? Chúng ta như người si mê, lúc sống tạo sự nghiệp này sự nghiệp kia, khi cái chết đến rồi ai sẽ giữ cho mình đây? Vậy mà có nhiều người lớn tuổi, năm mươi sáu mươi đến bảy mươi cũng cứ tính làm cái này, tính làm cái kia. Cứ nỗ lực lo tính, hết sức ra công làm, làm rồi thì không biết ai giữ. Sao không để sức mình làm những việc lợi ích cho chúng sanh, dành thời giờ tu tập, lợi ích biết là bao. Cứ cố gắng tạo sự nghiệp, khi nhắm mắt không đem theo được gì, chỉ có nghiệp theo mình. Người tâm mong giàu sang, Ngũ dục lòng chưa thỏa, Các vị đại quốc vương Đâu khỏi được nạn này. Người mong cầu được giàu sang, đối với ngũ dục lòng không bao giờ thỏa mãn. Họ cứ mong hoài, được cái này đòi cái nọ. Các vị đại quốc vương thuở xưa đâu khỏi được nạn này, tức là đâu khỏi được cái chết. Dù tài giỏi giữ được ngôi báu nước nhà rồi cũng phải chết, không sống mãi để hưởng ngũ dục. Chư tiên giỏi chú thuật Cũng không thoát sanh tử, Voi lớn vô thường đạp Trùng kiến đồng với đất. Cho đến tất cả người, Chư Phật bậc Chánh giác, Vượt qua dòng sanh tử Cũng vẫn không thường ở. Thường người ta nói mấy ông tiên tu luyện được thuật trường sanh không chết. Điều đó có đúng không? Nếu không chết thì bây giờ chúng ta phải gặp, nhưng có còn vị nào không? Tiên sống lâu hơn người thường thì được một trăm năm hoặc hơn trăm năm rồi cũng chết. Dù chú thuật giỏi mấy cũng không thể giữ thân này được. Voi lớn vô thường đạp, trùng kiến đồng với đất. Vô thường giống như con voi lớn giẫm đạp tất cả, nào kiến nào trùng cũng như đất dưới chân, ý nói cái chết không tha một ai. Cho đến tất cả người, chư Phật bậc Chánh giác, vượt qua dòng sanh tử cũng vẫn không thường ở. Đây là chỗ nhiều người hay nghi ngờ. Nói rằng con voi lớn vô thường diệt hết không chừa một ai, đến như đức Phật đã qua dòng sanh tử mà bây giờ cũng không còn. Như vậy, người không tu thì bị già, bệnh, chết, còn Phật tu là để thoát khỏi sanh tử mà sao ngài cũng già, bệnh, chết? Đây là điều hệ trọng cần lưu ý. Kinh điển Đại thừa luôn nhắc nhở chúng ta đừng chấp Phật là thân có ba mươi hai tướng tốt. Nếu cho thân tướng là Phật thì thân ấy bại hoại rồi. Tu là để thoát ly sanh tử, tức là thoát quả sanh tử. Chúng ta mang thân này là kết quả sanh tử, khi tu là dừng tạo nhân sanh tử, bỏ thân này rồi không còn tiếp tục thân khác để chịu sanh tử, không phải tu rồi mình khỏi chết. Phật dạy thân là khổ, nhưng khổ đó từ đâu ra? Từ si mê tham ái nên có thân này, nếu dứt tham ái thì không bị nghiệp dẫn tái sanh, nhân diệt quả diệt, đó là giải thoát sanh tử. Theo nhà thiền hay theo giáo lý Đại thừa, trong thân sanh tử có cái không sanh tử, kinh Pháp Hoa gọi là viên ngọc sẵn có ở trong chéo áo. Chúng ta tu để nhận ra viên ngọc này, là Phật tánh chân tâm không hình không tướng mà hằng giác hằng tri. Chỗ đó vô thường không đến được, ngay đó là thoát ly sanh tử. Chúng ta tu biết rõ cái nào sanh tử, cái nào không sanh tử để sống trở về với nó. Không phải tìm kiếm ở đâu, không phải chờ đợi đến bao giờ, mà ngay đây chúng ta đã có cái không sanh tử rồi, chỉ vì bỏ quên chạy theo sanh tử, đi liên miên trong vòng luân hồi, một khi thức tỉnh trở về sống lại với tánh giác hằng hữu. Thân này có hoại nhưng tánh giác không hoại. Chỗ này nhà thiền gọi là hoa sen trong lò lửa hay là hòn ngọc trên ngọn núi cháy. Núi cháy mà ngọc vẫn tươi nhuần, hoa sen trong lửa mà vẫn tươi thắm. Ngay trong vô thường có cái thường còn bất sanh bất diệt. Nhận được cái đó mới nhận ra ông Phật thật của chính mình. Vì thế nên phải biết, Điều ông đáng yêu thích, Hẳn nên sớm bỏ lìa, Nhất tâm cầu Niết-bàn. Sau khi mất thân này, Ai sẽ nhận biết ta? Đây là lời khuyên chúng ta nên sớm bỏ lìa, đừng chấp thân sanh diệt, mà phải cầu Niết-bàn vô sanh. Bởi vì sao? Vì khi mất thân này rồi ai còn nhận biết mình là gì. Kẻ được gặp Pháp bảo Và người chưa được gặp, Rất lâu Phật nhật xuất Phá tối lớn vô minh. Đây là lời khuyên người đã gặp Phật pháp và người chưa được gặp Phật pháp. Nên nhớ, lâu lắm Phật mới ra đời một lần. Ngài ra đời để phá trừ vô minh, nó là sức mạnh lôi dẫn chúng ta đi mãi trong luân hồi sanh tử, phá được vô minh mới ra khỏi sanh tử. Phóng ra các ánh sáng Chỉ người đạo, phi đạo, Ta từ đâu mà đến? Đi sẽ trở về đâu? Chỗ nào được giải thoát? Nghi này ai thấu rõ? Phật phóng ánh sáng phá trừ vô minh, ánh sáng là trí tuệ giúp chúng ta thấy rõ đâu là con đường nên đi, đâu là con đường không nên đi. Đường nào tà, đường nào chánh, đường nào trầm luân sanh tử, đường nào giải thoát sanh tử, đức Phật chỉ dạy rành rẽ. Tất cả mối nghi ta từ đâu mà đến, khi chết sẽ về đâu, chỗ nào được giải thoát sanh tử... đều được giải quyết. Phật Thánh nhất thế trí Lâu lắm mới ra đời. Nhất tâm chớ buông lung, Hay phá nghi của người. Đức Phật là bậc Nhất thiết trí, lâu lắm mới ra đời một lần. Nếu chúng ta đối với Phật tinh tấn nhất tâm hướng về, ngài sẽ phá những mối nghi, dẫn dắt chúng ta đi trên đường giải thoát. Kia không ưa thật lợi, Mến thích tâm tệ ác. Ngươi là chúng sanh tốt Nên cầu thật pháp tướng. Người không ưa thích cái lợi chân thật, mến thích tâm tệ ác, đó là người thế gian phàm phu. Ngươi là chúng sanh tốt, người biết tu biết đến với đạo là chúng sanh tốt. Nên cầu thật pháp tướng, chúng ta nên tìm cho ra pháp tướng chân thật, đừng chạy theo những thứ tạm bợ. Ai biết khi nào chết? Chết rồi đến ở đâu? Ví như đèn trước gió Đâu biết khi nào tắt. Chúng ta không biết chừng nào mình chết, chết rồi đi đâu cũng không biết. Cuộc đời mình cũng như ngọn đèn để trước gió, lúc nào còn cháy còn sáng thì mừng lúc đó, một cơn gió mạnh thổi qua lại tắt mất. Chúng ta không biết khi nào gió thổi, khi nào đèn tắt. Vì sống trong si mê mờ tối nên cần có người dẫn đường. Pháp chí đạo không khó, Đại thánh chỉ việc nói, Nói trí và cảnh trí, Hai việc không nhờ ngoài. Pháp chí đạo là pháp chân thật. Đại thánh tức là đức Phật, ngài chỉ thẳng sự việc trước mắt để nói ra pháp chí đạo, không nói chuyện gì xa xôi bên ngoài. Nói trí và cảnh trí, Phật nói về trí soi sáng và cảnh bị trí soi sáng. Hai việc đó không thể nhờ bên ngoài mà được, phải do chính chúng ta quán sát ngay trong nội tâm của mình. Ngươi nếu không buông lung Nhất tâm thường hành đạo, Không lâu được Niết-bàn Chỗ đệ nhất an lạc. Nếu chúng ta là người ham tu, không buông lung thả trôi, chăm chỉ nhất tâm cố gắng hành đạo thì không bao lâu sẽ được Niết-bàn. Niết-bàn là chỗ an vui đệ nhất. Chúng ta cứ ngỡ cái vui đó là vui mừng theo lẽ thường, nhưng mà không phải vậy. Cái vui thông thường là vui đối với khổ, vui trong sanh diệt. Cho nên có khi vui có khi khổ, hoặc hết khổ được vui, hết vui trở lại khổ. Niết-bàn là vượt ra ngoài vui khổ đối đãi, là vui bậc nhất. Trên thế gian này, vui và khổ luôn luôn đi đôi. Thử tìm xem có cái vui nào không có khổ đi theo. Như người ngồi trong sòng bạc, họ nói là đi chơi hay đi tìm cái khổ? Đi chơi cho vui, nhưng có vui thật không? Nếu thắng thì vui, thua thì khổ. Cái vui của mình là cái khổ của người. Hoặc cái vui của mình ngày nay là cái khổ của mình ngày mai. Không bao giờ có cái vui thật mà người ta lại thích đi chơi tìm cái vui tạm đó. Tất cả các trò vui thế gian đều có cái khổ bên cạnh. Cái vui đau đớn nhất là võ sĩ lên võ đài. Khán giả ngồi ở dưới thấy phe mình hạ được bên kia thì sao? Vỗ tay khen vui. Còn bên bị hạ thì sao? Buồn! Đó là vui trong cái khổ, trong khi người ta bị đánh ngã. Vì thế, người đời tìm cái vui trong đau khổ nhiều hơn là cái vui thật. Chúng ta hiểu rõ tu là để lìa khổ được vui, để tìm cái vui chân thật không còn đối đãi tạm bợ. Niết-bàn là an vui chân thật, tuyệt đối không còn khổ. Đó không phải là cái vui cười vỗ tay, mà là vui trong thoát ly sanh tử. Trí sáng gần người lành, Hết lòng kính Phật pháp, Nhàm chán thân bất tịnh, Lìa khổ được giải thoát. Chúng ta luôn luôn phải có trí tuệ sáng suốt tìm bạn lành, tìm những người đạo đức để gần gũi. Đem hết tâm kính tin Tam bảo, nhàm chán thân bất tịnh. Như vậy mới được lìa khổ và đạt được vui giải thoát. Chỗ vắng tu chí lặng, Ngồi kiết già trong rừng, Xét tâm không buông lung, Ngộ ý, biết các duyên. Nếu không chán cõi đời, Yên ngủ không tự thức, Không nghĩ đời vô thường, Đáng sợ mà chẳng sợ. Chúng ta tu bằng cách nào? Đến chỗ vắng vẻ ngồi kiết già tọa thiền, giữ cho tâm ý lặng lẽ không buông lung. Nhận rõ tâm ý mình để không bị nó lôi kéo, biết rõ các duyên bên ngoài là hư vọng tạm bợ. Đó là khéo tu. Nếu không chán cõi đời, người mà mê thích cõi đời, người đó không bao giờ biết chán, không chán thì yên ngủ không tự thức. Đó là chấp nhận cái mê, mê trọn đời mê trọn kiếp mà không thức tỉnh. Không nghĩ đời vô thường, đáng sợ mà không sợ. Vô thường đáng sợ mà người mê không biết sợ, vì thế chạy theo dục lạc không chán, không tỉnh thức tu tập. Hồ phiền não không đáy, Biển sanh tử không bờ, Thuyền vượt khổ chưa đóng Đâu thể vui ngủ nghỉ! Những lời này thật tha thiết. Chỉ cho chúng ta thấy rõ tâm mình giống như hồ nước. Hồ nước này là hồ nước phiền não không đáy. Thử xét xem nội tâm chúng ta nghĩ suy tính toán đủ thứ, nó có giới hạn có chừng mực hay không? Tâm rong ruổi chạy tứ tung, không chỗ nào không tới, không việc gì không nghĩ. Suy nghĩ nhiều thì phiền não nhiều. Vì không có chừng mực nên nói hồ phiền não không đáy. Biển sanh tử không bờ, tức là chết nơi đây sanh nơi kia liên tục từ đời này đến kiếp nọ, sanh tử không biết tới đâu là dừng. Biển sanh tử không bờ, chưa đóng thuyền để vượt qua biển khổ thì đâu có lòng nào để vui ngủ nghỉ. Người biết tu luôn nghĩ rằng chúng ta đang chất chứa phiền não, đang luân hồi trong biển sanh tử, phải tìm cách để vượt qua, không thể an lòng vui chơi, lo ngủ nghỉ. Đây là lời nhắc nhở thống thiết của chư tổ. Do đây phải giác ngộ, Chớ để ngủ che tâm. Trong bốn thứ cúng dường, Biết lượng, biết vừa đủ. Đây là nhắc riêng cho giới tu sĩ. Ngài bảo rằng người tu phải giác ngộ, phải ý thức rằng mình đang dẫy đầy phiền não, chưa thoát khỏi sanh tử, phải cố gắng tu, cố gắng tìm cách thoát sanh tử, không nên ham ngủ. Chớ để ngủ che tâm, ngủ làm cho tâm mình mờ mịt. Lúc ngủ chúng ta không làm chủ được mình nên nói bị ngủ che tâm. Trong bốn thứ cúng dường, người xuất gia thì luôn luôn nhờ Phật tử ủng hộ ẩm thực, ngọa cụ, y phục, thuốc men. Đối với bốn thứ này phải biết độ lượng biết đủ, không tham nhiều tham đẹp, đó gọi là biết tu. Sợ lớn chưa thoát được, Phải chuyên cần tinh tấn, Tất cả khổ khi đến, Hối hận không thể kịp. Nỗi sợ hãi lớn của chúng ta là biển khổ sanh tử, phải làm sao thoát khỏi nó. Chưa thoát được thì phải cố gắng chuyên cần tinh tấn tu hành. Đừng để khi khổ đến lại hối hận là mình chưa làm được gì, chưa tu được bao nhiêu. Dù có hối hận cũng không kịp. Vì vậy cần phải tinh tấn cần mẫn tu tập, nếu vô thường đến chúng ta kịp thời tỉnh giác. Mặc y ngồi cội cây, Đúng như pháp được ăn, Chớ vì tham món ngon Mà tự đến hư hỏng. Đây nhắc người xuất gia mặc y của Phật, tọa thiền dưới cội cây. Đúng như pháp được ăn, tức là nhận thức ăn đúng pháp của thí chủ cúng dường. Chớ vì lòng tham, khi ăn đừng đòi món này ngon, đừng chê món kia dở. Còn tham ăn, khen ngon chê dở là tự mình làm hư hỏng mình. Món ăn qua khỏi cổ Ngon dở đều không khác, Ưa ngon sanh buồn khổ Bởi thế chớ nên ưa. Thức ăn của chúng ta lúc còn ở trên bàn trên mâm thì có món ngon món dở, mới để vô miệng, lưỡi nếm còn thấy ngon dở, chừng ba phút sau nhai nuốt vào một hồi thì sao? Lúc đó ngon dở hết giá trị. Thức ăn dù ngon hay dở khi vào bụng rồi cũng như nhau, không có giá trị gì. Nhiều người vì thích ăn ngon phải chịu khổ cực tìm kiếm, vì cái dở mà bực bội, đó là điều không cần thiết. Hành nghiệp trong thế giới, Ngon dở đâu chẳng trải, Tất cả đều thọ đủ, Phải lấy đó tự ngăn. Tất cả chúng ta sanh ra trong thế gian này không biết bao nhiêu lần, có khi làm quan có khi làm dân, có khi làm trưởng giả có khi làm tôi đòi... Trải qua nhiều kiếp cũng từng ăn bao nhiêu món ngon dở, bây giờ còn trông mong ngon dở làm chi nữa. Cái nào chúng ta cũng có trải qua, đều thọ đủ rồi. Phải nhớ phải nghĩ như vậy để ngăn ngừa tâm ý đừng có mê say. Nếu ở trong loài thú Nhai cỏ làm vị ngon, Địa ngục nuốt hoàn sắt Sắt đốt cháy hừng hực. Nếu sanh quỷ bệ-lệ, Máu mủ đồ phẩn uế, Dãi đàm, các bất tịnh, Lấy đó làm món ngon. Nếu được sanh thiên cung, Trong cung đẹp thất bảo, Ăn toàn thức tô-đà, Thiên nữ làm vui lòng. Sanh làm người hào quý Món ngon đủ các thứ, Tất cả từng trải qua Nay sao còn ưa thích? Ngài nhắc lại, có khi chúng ta sanh trong các loài thú, lúc đó cỏ lá cây là ngon. Như trâu bò nai hươu... thấy cỏ non cho là ngon. Có khi đọa xuống địa ngục bị bắt nuốt hoàn sắt cháy hừng hực. Có khi sanh làm loài quỷ bệ-lệ thì lấy máu mủ và đồ phẩn uế, những thứ bất tịnh làm món ăn. Có khi sanh lên thiên cung, ở cung điện trang nghiêm đẹp đẽ toàn bằng thất bảo, thức ăn toàn vị tô-đà, có thiên nữ làm cho vui lòng. Có khi sanh làm người sang cả hào quý thì món ngon đủ các thứ. Như vậy chúng ta từng trải qua rất nhiều đời kiếp, ăn uống đủ loại, tại sao không sanh lòng chán sợ, còn ưa thích đòi hỏi thêm nhiều? Đó là lời răn nhắc, nhớ lại việc trước kia không nên đắm mê ưa thích. Qua lại trong thế giới, Chán trải việc khổ lạc, Chỉ chưa được Niết-bàn, Phải siêng cầu lợi này. Chúng ta đã từng trải qua biết bao thế giới, tất cả việc khổ vui đều nếm đủ không thiếu một việc gì, chỉ chưa được Niết-bàn. Bây giờ phải cố gắng tìm cầu Niết-bàn, đó là việc quan trọng. Còn tất cả các việc kia không có gì quan trọng. Chúng ta sanh ra ở đời này, không nghĩ về những đời trước, cũng không nghĩ đến đời sau. Đó là vòng luân hồi liên miên không dừng, nhưng chúng ta không tin cũng không để ý đến. Nếu có tin là vì nghe Phật nói, chứ không tin chắc lắm. Tôi tin chắc chúng ta đã có mặt trải qua vô số đời, chỉ vì không thấy biết rõ ràng nên tưởng như mình chỉ sống một đời này thôi. Ví dụ trong gia đình, tất cả mọi người không giống nhau hoàn toàn, mỗi người có một sở thích khác. Cái không giống đó là duyên từ quá khứ, nên khi ra đời người mang ý thích này, người mang ý thích kia. Như trong lớp học, thầy cô dạy chung tất cả học trò, nhưng có người giỏi môn văn, người giỏi toán, người giỏi thủ công... Nếu bảo rằng từ thầy dạy, thầy không dạy riêng, giỏi thì phải giỏi đồng với nhau. Như vậy mới biết chúng ta ra đời đã mang sẵn cái gì của quá khứ, có sẵn cái cũ rồi nên gặp việc gợi lại thì phát ra. Có trường hợp những vị thần đồng, học một biết mười, chưa học đã biết, giỏi hơn hẳn thầy giáo. Điều đó chứng minh rằng chúng ta đã có mặt lâu xa lắm, có nhân duyên chủng tử tiềm ẩn trong vô số đời, chỉ vì quên nên không thấy biết. Kinh nghiệm bản thân tôi, tôi tin chuyện luân hồi sanh tử không nghi tí nào. Khi tôi còn nhỏ học lớp ba, được đi theo bác gái đến chùa Sơn Tiên núi Ba Thê ở Long Xuyên, làm tuần thất cho bác trai. Thấy cảnh chùa trên núi, tôi chợt cảm hứng làm bài thơ. Non đảnh là nơi thú lắm ai, Đó cảnh nhàn du của khách tài. Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc, Chuông hồi văng vẳng quá bi ai. Lúc đó tôi chưa biết tu là gì, nhưng nhớ lại có lần đi ngang chùa Long An ở Đồng Đế, khi ấy Sư ông của tôi đang trụ trì ở đó. Nhằm ngày rằm tháng bảy, tôi đi ở ngoài đường, trong chùa tới giờ ngọ đánh chuông trống cúng, nghe tiếng chuông tôi đi không được. Hình như có cái gì làm tôi quặn thắt khó chịu lắm, nên tôi mới nói lên câu: Chuông hồi văng vẳng quá bi ai. Nghe tiếng chuông buồn lắm, mà không biết buồn cái gì. Non đảnh là nơi thú lắm ai. Trên Trúc Lâm, cái thất của tôi nằm trên ngọn núi rõ ràng. Đó là chỗ tôi thích từ thuở bé, được ở núi là vui. Bây giờ tôi được lên non đảnh, như vậy lời nói đó từ đâu mà ra? Là cái tích lũy từ xa xưa nào đó đã sẵn rồi, bây giờ gặp cảnh có hứng thú để mình nói lên. Nói mà không suy nghĩ, không tính toán gì hết, mà rồi nó lại thực hiện được. Như vậy có đời trước hay không? Nếu không có đời trước thì tôi cũng như ai, tôi đâu nói được câu nói đó. Nói được câu đó nghĩa là trước kia biết đâu tôi đã từng tu ở núi, bây giờ thấy núi là thích, là nhớ. Biết đâu ngày xưa tôi đã có ở chùa, cho nên khi nghe tiếng chuông chùa tôi chịu không nổi. Khi chúng ta ra đời dường như quên hết, không biết cái gì của quá khứ, nhưng nó vẫn chôn sâu đâu đó. Khi gặp cảnh liền gợi nhớ lại, cái gợi đó không phải là ngẫu nhiên mà là sẵn có. Kiểm điểm lại, chúng ta đều trải qua trường hợp tương tự như thế, ai cũng có sẵn mà vì quên nên coi thường. Phật thấy tường tận sanh tử của chúng sanh liên tục không dừng. Chúng sanh thì không hay biết, tưởng chỉ có đời sống mấy chục năm, không ngờ mình đã bao nhiêu lần sanh tử rồi. Bây giờ cũng chịu sanh tử nữa hay là cố gắng tìm cách thoát ly? Đó là câu hỏi mà tự chúng ta phải suy ngẫm kỹ rồi quyết định cho mình. Sanh tử không có bờ mé, vì vậy mà chúng ta phải cố gắng. Như trong đây dạy, đóng thuyền để chèo qua biển sanh tử, không nên ngồi yên chờ chết đến rồi thả trôi nữa uổng đi một đời. Chúng ta không phải chỉ tu để cho hiện tại bớt khổ mà còn chuẩn bị cho mai sau không còn tiếp tục đau khổ. Phải biết sớm thức tỉnh, nhắc nhở nhau tu tiến. CHƯƠNG II KHẢO SÁT TÂM BỆNH Chánh văn: Người học thiền lúc mới đến chỗ thầy, thầy nên hỏi rằng: “Ngươi giữ giới thanh tịnh chăng? Có phạm tội trọng, tà ác chăng?” Nếu đáp “Năm giới thanh tịnh, không phạm tội trọng, tà ác”, thứ mới dạy đạo pháp. Nếu đáp “Phạm giới”, nên hỏi lại rằng: “Ngươi phạm giới nào?” Nếu đáp “Trọng giới”, thầy bảo: “Như người bị cắt tai xẻo mũi không thể soi gương, ngươi nên trở về chuyên cần tụng kinh, khuyến hóa làm phước để gieo giống nhân duyên đạo pháp đời sau, đời này coi như đã bỏ. Ví như cây đã khô, dù gắng tưới nước cũng không sanh hoa lá và trái được.” Nếu phạm các giới khác, thầy nên dạy như pháp sám hối. Sám hối đã thanh tịnh, thầy nếu được thiên nhãn, tha tâm trí xem qua, tùy bệnh nói pháp tiến đạo. Nếu thầy chưa được thông, nên xem tướng mạo đoán bệnh, hoặc lại hỏi người ấy rằng: “Trong ba độc ngươi nặng cái nào? Dâm dục nặng ư? Nóng giận nặng ư? Ngu si nặng ư?” Thế nào là xem tướng? - Tướng người đa dâm: Người lanh lẹ; nuôi nhiều vợ hầu, nói nhiều, tin nhiều; nhan sắc vui vẻ, nói năng dễ dàng; ít giận hờn, ít ưu sầu; giỏi kỹ thuật, ưa nghe thích biết; yêu thích văn thơ, có tài đàm luận; hay xét biết tính người, nhiều chuyện kinh sợ. Người ấy ở trong phòng ưa mặc đồ mỏng, khát khao nữ sắc, màn trướng, ưa trang sức hương hoa; tâm nhỏ nhẹ khiến người thương mến; nói lời bóng bẩy, ưa làm phước nghiệp, ý thích sanh cõi trời; ở trong chúng không chống kẻ tốt xấu, tín nhiệm phụ nữ; lửa dục hừng thịnh, tâm nhiều hối hận, biến đổi; thích tự trang sức, ưa xem tranh ảnh; luyến tiếc vật của mình, ước ao đồ của người; ưa kết bạn bè, không chịu ở một mình; chỗ ở thích giống thế tục; chợt kinh chợt sợ, chí như khỉ vượn. Kẻ ấy nhìn rất thiển cận, làm việc không suy nghĩ; nhẹ dạ nên làm việc mong được thích ý; ưa kêu ưa khóc; thân thể mềm yếu không kham chịu lạnh khổ; dễ nản dễ vui, không thể nhẫn việc; được ít vui to, mất ít sầu lớn; tự bày tự giấu; mồ hôi trong thân hôi, da mỏng tóc mềm; hay cau hay nguýt, thường cắt móng tay, cạo râu; đánh răng trắng, đi ra thích mặc đồ thật sạch; học không chuyên cần, ưa dạo vườn cảnh; nhiều tình, nhiều cầu, ý chấp thường kiến; gần người có đức vồn vã thăm hỏi; ý nhận lời nói của người, gắng tỏ vẻ vui tươi; nghe việc mau hiểu lấy làm sự nghiệp; phân biệt tốt xấu, thương người khổ nạn; tự đại háo thắng, không chịu người người lấn hiếp; ưa làm việc cứu giúp, tiếp dẫn người lành; có những thức ngon chia người cùng ăn; chí thích xa lớn; mắt xem sắc dục không bao giờ chán; không lo xa, biết thế gian phương tục, xem xét nhan sắc đoán được lòng người; nói lời khôn khéo, kết bạn không bền; đầu tóc ít, thưa, ít chịu ngủ nghỉ; nằm ngồi đi đứng dung mạo đường hoàng; có tiền của liền đem cứu cấp, về sau hối tiếc; thích nghĩa muốn chóng đặng, sau lại mau quên; chấp những hành động, khó tự cải đổi, khó được ly dục; làm tội nhỏ nhẹ. Những tác phong như thế là tướng dâm dục. - Tướng người nóng giận: Người nhiều giận buồn; hấp tấp nóng nảy, thân miệng thô xẵng; hay nhẫn các thứ khổ, gặp việc không khiếp sợ; nhiều buồn ít vui, có thể làm việc đại ác không có lòng thương xót, thích sự tranh đấu kiện thưa; nhan mạo khô héo, mày nhăn mắt trợn; khó nói khó vui, khó làm việc, khó thành công; tâm mình như ghẻ lở mà ưa nói lỗi người; luận nghĩa vững chắc khó chiết phục được; khó làm khuynh động, khó thân thiện, khó ngăn trở; ôm lòng độc khó bỏ, nhận lời hứa không quên; tài giỏi khéo léo, tâm không chịu lười biếng; làm việc mau chóng, ôm kỳ vọng không nói; ý sâu sắc khó hiểu, thọ ơn liền lo đền; có tài chinh phục được chúng làm việc; không thể phá hoại, việc làm được trọn vẹn; khó ai can phạm, ít sợ khó ví như sư tử không thể khuất phục; một phen quyết định không hề thay đổi, thẳng tiến tạo tác; nhớ dai và nhiều suy nghĩ, chuyên cần học tập; hay bố thí, không màng lợi nhỏ; làm thầy thì khôn ngoan, ly dục ưa ở một mình, ít sự dâm dục; tâm thường nghiêng về đoạn kiến; nhìn ngay ngó thẳng, nói năng chân thật, trình bày rõ ràng; ít có bạn thân, làm việc hay chấp chặt; nhớ lâu không quên, ưa làm việc bằng tay chân; vai ngực nở to, trán rộng tóc bằng; tâm cứng rắn khó điều phục, mau được mà khó quên; có thể tự lìa dục mà ưa gây tội nặng. Những tướng trạng như thế là tướng người nóng giận. - Tướng người ngu si: Nhiều nghi ngờ nhiều hối hận, lười biếng không nhận thức; tự mãn không tuân theo, kiêu mạn khó dạy bảo, chuyện đáng tin không tin, không đáng tin lại tin; không biết chỗ nào đáng kính, ở đâu cũng tin theo; thường bị thầy quở không biết hổ thẹn mà cứ càn bướng; làm việc không suy nghĩ, có ai chỉ dạy lại chống đối; không biết chọn bạn, không biết trang sức; thầy lành đạo lạ cũng không phân biệt tốt xấu; căn tánh ngu độn chậm lụt, khó nhớ mà dễ quên; chê bai người làm việc bố thí, không có tâm thương xót, phá hư cây cầu chánh pháp, gặp việc không hiểu biết; con mắt lờ đờ không có trí tuệ; nhiều mong cầu nhiều trông đợi nhiều nghi ngờ ít chánh tín; ganh ghét người tốt, cho rằng không có quả báo tội phước; không phân biệt lời lành, không biết lầm lỗi; không vâng lời khuyên bảo, xa lìa kẻ thân lại sanh oán trách; không biết lễ phép, ưa nói lời ác khẩu; râu tóc móng tay dài, răng áo nhơ nhớp; bị người sai khiến, chỗ sợ lại không sợ; chỗ vui thì âu sầu, chỗ sầu lại vui; chỗ buồn thì cười, chỗ cười lại buồn; đợi lôi mới đi, hay chịu những sự khổ nhọc; không phân biệt mùi vị, khó thể lìa dục; làm tội sâu nặng. Đó là những tướng trạng của người ngu si. Giảng: Người học thiền lúc mới đến chỗ thầy, thầy nên hỏi rằng: “Ngươi giữ giới thanh tịnh chăng? Có phạm tội trọng, tà ác chăng?” Nếu đáp “Năm giới thanh tịnh, không phạm tội trọng, tà ác”, thứ mới dạy đạo pháp. Nếu đáp “Phạm giới”, nên hỏi lại rằng: “Ngươi phạm giới nào?” Nếu đáp “Trọng giới”, thầy bảo: “Như người bị cắt tai xẻo mũi không thể soi gương, ngươi nên trở về chuyên cần tụng kinh, khuyến hóa làm phước để gieo giống nhân duyên đạo pháp đời sau, đời này coi như đã bỏ. Ví như cây đã khô, dù gắng tưới nước cũng không sanh hoa lá và trái được.” Đoạn này có một vài ý nhỏ tôi muốn nêu lên cho mọi người cùng thấy. Muốn khảo sát bệnh của người tu, ở đây bảo trước phải hỏi giữ giới có thanh tịnh không. Nếu giữ giới tốt thì tu dễ tiến; nếu là phạm giới nhẹ thì dạy sám hối, tu cũng tốt; nếu phạm một trong năm giới nặng, như sát sanh hay trộm cướp... thì không thể tu được. Chỗ này hơi khắt khe một chút. Chúng ta đọc sử Phật thấy có Ương-quật-ma-la đã giết người cắt ngón tay đeo tới chín mươi chín ngón rồi, tội nặng biết bao. Nhưng khi Phật độ tu, ngay hiện đời chứng quả A-la-hán. Ở đây nói phạm giới trọng thì bỏ đi, như người bị cắt mũi, xẻo tai rồi thì không thể soi gương được. Trường hợp này chúng ta nghĩ sao? Những lời dạy trong đây chúng ta thấy điều gì chí lý thì thực hành đến nơi đến chốn, còn có những điều phải dè dặt. Thật ra không phải những người lỡ phạm giới rồi không thể tu được, tùy người có chủng duyên và có thành tâm hay không, nếu cho rằng tất cả đều không thể tu thì tội nghiệp cho họ. Nếu phạm các giới khác, thầy nên dạy như pháp sám hối. Sám hối đã thanh tịnh, thầy nếu được thiên nhãn, tha tâm trí xem qua, tùy bệnh nói pháp tiến đạo. Nếu thầy chưa được thông, nên xem tướng mạo đoán bệnh, hoặc lại hỏi người ấy rằng: “Trong ba độc ngươi nặng cái nào? Dâm dục nặng ư? Nóng giận nặng ư? Ngu si nặng ư?” Thầy muốn dạy đệ tử phải tìm hiểu trong ba độc tham sân si họ có bệnh nào nặng, tùy bệnh mà dạy pháp tu để đối trị. Trước khảo sát, sau tu đúng phương pháp thì mới có hiệu quả. Thế nào là xem tướng? Nếu người ta không nói rõ thì xem tướng, việc này cũng khá phiền. - Tướng người đa dâm: Người lanh lẹ; nuôi nhiều vợ hầu, nói nhiều, tin nhiều; nhan sắc vui vẻ, nói năng dễ dàng; ít giận hờn, ít ưu sầu; giỏi kỹ thuật, ưa nghe thích biết; yêu thích văn thơ, có tài đàm luận; hay xét biết tính người, nhiều chuyện kinh sợ. Người ấy ở trong phòng ưa mặc đồ mỏng, khát khao nữ sắc, màn trướng, ưa trang sức hương hoa; tâm nhỏ nhẹ khiến người thương mến; nói lời bóng bẩy, ưa làm phước nghiệp, ý thích sanh cõi trời; ở trong chúng không chống kẻ tốt xấu, tín nhiệm phụ nữ; lửa dục hừng thịnh, tâm nhiều hối hận, biến đổi; thích tự trang sức, ưa xem tranh ảnh; luyến tiếc vật của mình, ước ao đồ của người; ưa kết bạn bè, không chịu ở một mình; chỗ ở thích giống thế tục; chợt kinh chợt sợ, chí như khỉ vượn. Kẻ ấy nhìn rất thiển cận, làm việc không suy nghĩ; nhẹ dạ nên làm việc mong được thích ý; ưa kêu ưa khóc; thân thể mềm yếu không kham chịu lạnh khổ; dễ nản dễ vui, không thể nhẫn việc; được ít vui to, mất ít sầu lớn; tự bày tự giấu; mồ hôi trong thân hôi, da mỏng tóc mềm; hay cau hay nguýt, thường cắt móng tay, cạo râu; đánh răng trắng, đi ra thích mặc đồ thật sạch; học không chuyên cần, ưa dạo vườn cảnh; nhiều tình, nhiều cầu, ý chấp thường kiến; gần người có đức vồn vã thăm hỏi; ý nhận lời nói của người, gắng tỏ vẻ vui tươi; nghe việc mau hiểu lấy làm sự nghiệp; phân biệt tốt xấu, thương người khổ nạn; tự đại háo thắng, không chịu người người lấn hiếp; ưa làm việc cứu giúp, tiếp dẫn người lành; có những thức ngon chia người cùng ăn; chí thích xa lớn; mắt xem sắc dục không bao giờ chán; không lo xa, biết thế gian phương tục, xem xét nhan sắc đoán được lòng người; nói lời khôn khéo, kết bạn không bền; đầu tóc ít, thưa, ít chịu ngủ nghỉ; nằm ngồi đi đứng dung mạo đường hoàng; có tiền của liền đem cứu cấp, về sau hối tiếc; thích nghĩa muốn chóng đặng, sau lại mau quên; chấp những hành động, khó tự cải đổi, khó được ly dục; làm tội nhỏ nhẹ. Những tác phong như thế là tướng dâm dục. Đây nói về tướng tham dục rất chi ly khó nhớ. Có thể tóm gọn như sau: Người nặng về tham dục là những người thích trang sức, thích những cái đẹp, người đó lẹ làng dễ làm cho người ta cảm mến. Người đó cũng ưa nhìn thấy vẻ đẹp của người khác. - Tướng người nóng giận: Người nhiều giận buồn; hấp tấp nóng nảy, thân miệng thô xẵng; hay nhẫn các thứ khổ, gặp việc không khiếp sợ; nhiều buồn ít vui, có thể làm việc đại ác không có lòng thương xót, thích sự tranh đấu kiện thưa; nhan mạo khô héo, mày nhăn mắt trợn; khó nói khó vui, khó làm việc, khó thành công; tâm mình như ghẻ lở mà ưa nói lỗi người; luận nghĩa vững chắc khó chiết phục được; khó làm khuynh động, khó thân thiện, khó ngăn trở; ôm lòng độc khó bỏ, nhận lời hứa không quên; tài giỏi khéo léo, tâm không chịu lười biếng; làm việc mau chóng, ôm kỳ vọng không nói; ý sâu sắc khó hiểu, thọ ơn liền lo đền; có tài chinh phục được chúng làm việc; không thể phá hoại, việc làm được trọn vẹn; khó ai can phạm, ít sợ khó ví như sư tử không thể khuất phục; một phen quyết định không hề thay đổi, thẳng tiến tạo tác; nhớ dai và nhiều suy nghĩ, chuyên cần học tập; hay bố thí, không màng lợi nhỏ; làm thầy thì khôn ngoan, ly dục ưa ở một mình, ít sự dâm dục; tâm thường nghiêng về đoạn kiến; nhìn ngay ngó thẳng, nói năng chân thật, trình bày rõ ràng; ít có bạn thân, làm việc hay chấp chặt; nhớ lâu không quên, ưa làm việc bằng tay chân; vai ngực nở to, trán rộng tóc bằng; tâm cứng rắn khó điều phục, mau được mà khó quên; có thể tự lìa dục mà ưa gây tội nặng. Những tướng trạng như thế là tướng người nóng giận. Tướng người nóng giận, kiểm lại chúng ta có không? Có hoặc nhiều hoặc ít, kể chi tiết quá khó nhớ hết. Tôi kiểm lại một ít nét đơn giản tổng quát ở đây. Thường những người nóng giận lại có tài, vì tài giỏi nên cố chấp nhiều, ngã mạn cao. Vì ngã mạn cao nên ai làm buồn lòng trái ý thì nhớ hoài không bỏ. Những người này đã làm gì quyết làm cho thành công. Tóm lại, người hay nóng giận nặng về bản ngã, thường cố chấp cho những gì của mình đều hơn người, cho nên dễ sân dễ hận. - Tướng người ngu si: Nhiều nghi ngờ nhiều hối hận, lười biếng không nhận thức; tự mãn không tuân theo, kiêu mạn khó dạy bảo, chuyện đáng tin không tin, không đáng tin lại tin; không biết chỗ nào đáng kính, ở đâu cũng tin theo; thường bị thầy quở không biết hổ thẹn mà cứ càn bướng; làm việc không suy nghĩ, có ai chỉ dạy lại chống đối; không biết chọn bạn, không biết trang sức; thầy lành đạo lạ cũng không phân biệt tốt xấu; căn tánh ngu độn chậm lụt, khó nhớ mà dễ quên; chê bai người làm việc bố thí, không có tâm thương xót, phá hư cây cầu chánh pháp, gặp việc không hiểu biết; con mắt lờ đờ không có trí tuệ; nhiều mong cầu nhiều trông đợi nhiều nghi ngờ ít chánh tín; ganh ghét người tốt, cho rằng không có quả báo tội phước; không phân biệt lời lành, không biết lầm lỗi; không vâng lời khuyên bảo, xa lìa kẻ thân lại sanh oán trách; không biết lễ phép, ưa nói lời ác khẩu; râu tóc móng tay dài, răng áo nhơ nhớp; bị người sai khiến, chỗ sợ lại không sợ; chỗ vui thì âu sầu, chỗ sầu lại vui; chỗ buồn thì cười, chỗ cười lại buồn; đợi lôi mới đi, hay chịu những sự khổ nhọc; không phân biệt mùi vị, khó thể lìa dục; làm tội sâu nặng. Đó là những tướng trạng của người ngu si. Đây là tướng trạng của người ngu si. Có thể nhiều người mắc bệnh này, nhất là không phân biệt tà chánh, không biết điều nào phải điều nào quấy, đến chỗ nên vui lại buồn, chỗ nên buồn lại vui. Ví dụ đi đám ma mà cười, đến đám cưới lại buồn dàu dàu. Đó là những thái độ không thích hợp, bị chê cười. Tổng quát về tướng trạng người ngu si như thế, chỉ tùy trường hợp kiểm nghiệm không thể nói hết. Ba tướng của người nhiều bệnh dâm dục, nóng giận, ngu si trên đây, chư tổ chỉ dạy những điểm nổi bật dễ nhận thấy. Không phải lúc nào cũng đoán đúng tướng người vì tướng thay đổi theo tâm. Chúng ta cần phải tự xét mình, nếu thấy bệnh nào nhiều thì cố gắng tu pháp đối trị để điều phục thân tâm. CHƯƠNG III TUỲ BỆNH ĐỐI TRỊ Chánh văn: Nếu người đa dục dùng pháp môn Bất tịnh trị. Nếu người nhiều nóng giận dùng pháp môn Từ bi trị. Nếu người nhiều ngu si lấy pháp môn quán Nhân duyên trị. Nếu người nhiều lo nghĩ lấy pháp môn Niệm hơi thở trị. Nếu người đẳng phần (tham sân si đồng nhau) lấy pháp môn Niệm Phật trị. Bao nhiêu thứ bệnh có bấy nhiêu thứ pháp môn để trị. I- PHÁP MÔN TRỊ THAM DỤC Người dâm dục nhiều nên tu quán Bất tịnh. Từ chân đến đầu đầy dẫy bất tịnh: tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, máu, mủ, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi, tim, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phẩn, nước tiểu, nước mũi, nước miếng, mồ hôi, nước mắt, cứt ráy, đất, óc, bong bóng, mật đàm, bầy nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc. Đó là ba mươi sáu vật bất tịnh trong thân. Lại quán bất tịnh có chín thứ theo thứ tự: 1- Quán thây mới chết bầm xanh, 2- Lần lần sình trương, 3- Nứt nẻ, 4- Máu chảy ra, 5- Rục rã, 6- Lầy thối, 7- Giòi, thú đục ăn, 8- Xương mục, 9- Thiêu rụi. Đó là Cửu tưởng bất tịnh. Người đa dục có bảy thứ yêu: 1- Yêu sắc đẹp, 2- Yêu dáng điệu, 3- Yêu dung mạo, 4- Yêu âm thanh, 5- Yêu láng mịn, 6- Yêu con người, 7- Tổng yêu. Nếu yêu sắc đẹp nên tập quán thây chết bầm xanh, những sắc bất tịnh vàng, đỏ... cũng như vậy. Nếu yêu dáng điệu nên tập quán thây sình trương và nứt nẻ. Nếu yêu dung mạo nên tập quán thây máu chảy và rục rã. Nếu yêu âm thanh, tập quán người khi sắp chết, nấc lên và tắt thở. Nếu yêu láng mịn nên tập quán bộ xương và người bệnh khô gầy. Nếu yêu con người nên tập quán cả sáu thứ trong chín thứ bất tịnh. Nếu tổng yêu nên quán cả chín thứ. Hoặc khi quán các thứ này, lại khi quán các thứ khác, đều gọi là quán Bất tịnh. - Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu? Nếu yêu thân trong sạch thì thân thối lầy cũng vẫn yêu? Nếu không yêu thân thối lấy thì thân trong sạch cũng không yêu, vì hai thân là một vậy. - Nếu tìm hai cái thật tịnh thì không thể có. Tâm người mê lầm bị sự điên đảo che đậy nên không phải tịnh chấp là tịnh, nếu phá dẹp tâm điên đảo thì được pháp quán thật tướng, liền biết bất tịnh là hư dối không thật. Lại nữa, thây chết không có hơi ấm, mạng sống, thần thức, và các căn bế tắc, người nhận kỹ thì tâm không sanh yêu mến. Thân sống có hơi ấm, mạng sống, thần thức, các căn sáng sủa, nên tâm điên đảo mê lầm sanh yêu mến. Khi tâm yêu sắc cho đó là tịnh, tâm yêu sắc dứt liền biết là bất tịnh. Nếu là thật tịnh thì phải thường tịnh, mà đây không phải thế. Như chó ăn phẩn cho là sạch, lấy con mắt người xem thì thấy rất dơ. Thân này toàn cả trong ngoài không có chỗ nào là sạch. Nếu yêu dáng ngoài của thân, toàn thân da mỏng bao bọc, nếu nắm cắt một miếng bằng ngón tay ta sẽ thấy bày tướng bất tịnh, huống là cả ba mươi sáu vật nhơ nhớp trong thân. Hơn nữa, xét ra nhân duyên tạo thành thân có bao nhiêu thứ bất tịnh. Trước tiên do tinh huyết cha mẹ hợp thành là bất tịnh, thành thân rồi thường chảy ra các thứ bất tịnh, cho đến quần áo, mền chiếu cũng là bất tịnh, nếu đến khi chết thì sự bất tịnh không thể kể xiết. Do đó nên biết sống, chết, trong, ngoài đều là bất tịnh. Sau khi quán Bất tịnh thành công chuyển lên quán Tịnh. Người tu Tịnh quán có ba hạng: mới tập, đang tập, tập đã lâu. - Nếu người mới tập (người trước chưa phát tâm kiên cố), phải dạy rằng: Tưởng lột toát da ra trừ dẹp hết máu, thịt v.v... các thứ bất tịnh, quán bộ xương người đỏ. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về. - Nếu người đang tập (người tập hành vài ba năm), nên dạy: Tưởng toát da thịt quán xương đầu, không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về. - Nếu người tập hành đã lâu (người đã tập hành trải hàng chục năm), nên dạy: Tưởng dẹp hết da, thịt, buộc ý năm chỗ: đỉnh đầu, trán, giữa chân mày, chót mũi, ngay quả tim. Trụ ý năm chỗ ấy, quán xương không cho nghĩ gì ngoài, có nghĩ ngoài phải thu nhiếp trở về. Thường xem xét tâm nó chạy đi phải lôi lại. Nếu tâm mệt mỏi sẽ dừng lại chỗ buộc duyên, không chạy ra ngoài nữa, như con khỉ bị xiềng bên cây cột, nhảy nhót mệt rồi sẽ nằm lại bên cây cột. Chỗ buộc tâm duyên như cây cột, ý niệm chăm chú như sợi dây, tâm như con khỉ. Lại như bà mẹ chăm giữ đứa con còn bú, không để nó rơi té. Hành giả quán tâm cũng như thế, lần lần chế phục được tâm, bắt nó ở một chỗ. Nếu tâm trụ được lâu đó là hợp pháp thiền. Nếu được thiền định thì phát ba tướng: 1- Thân thể an hòa vui vẻ nhẹ nhàng mềm dịu. 2- Xương trắng phát ra ánh sáng trắng trong như ngọc. 3- Tâm dừng lặng. Đó là tướng Tịnh quán. Khi ấy, được tâm hợp với Sắc giới. Ấy là người mới học pháp thiền được tâm khế hợp Sắc giới. Tâm hợp với pháp thiền tức pháp Sắc giới. Tâm được pháp này mà thân còn ở Dục giới vẫn được ba tướng: 1- Tuy tứ đại thô mà được vui vẻ mềm dịu, hình chất trong sạch, tươi nhuần bóng mịn, điều hòa. Ấy gọi là tướng vui vẻ. 2- Hành giả nội quán thấy tướng xương trắng phát ánh sáng khắp chiếu, sắc nó trắng trong. 3- Tâm trụ một chỗ. Như thế gọi là Tịnh quán. Trừ thịt quán xương gọi là Tịnh quán. Ba tướng như trên đều tự biết đó, không thấy gì khác. II- PHÁP MÔN TRỊ NÓNG GIẬN Nếu người nhiều nóng giận, phải học pháp môn ba thứ Từ tâm. Hoặc người mới tập hành, hoặc đang tập hành, hoặc tập hành đã lâu. Người mới tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người thân mến. Thế nào tâm Từ đến những người thân, nguyện làm cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, như khi lạnh được mặc ấm, khi nóng được mát, đói khát được ăn uống, nghèo túng được của cải, làm nhọc nhằn được nghỉ ngơi v.v... những thứ vui ấy nguyện cho người thân mến cùng được hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở lại. Người đang tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người không thân không sơ. Thế nào tâm Từ đến những người không thân không sơ, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện cho những người không thân không sơ đồng cùng chung hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Người tập hành đã lâu nên dạy: Tâm Từ đến những người thù ghét. Thế nào tâm Từ đến những người ấy, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện những kẻ thù ghét đồng cùng chung hưởng, sự hưởng này đồng với người thân mến. Được bình đẳng nhất tâm, tâm rộng lớn thanh tịnh, người thân, người không thân không sơ, và kẻ thù ghét đều xem như nhau. Rộng đến cả thế giới vô lượng chúng sanh đều khiến được an vui, khắp cả mười phương cùng đồng một tâm bình đẳng rộng lớn thanh tịnh. Xem chúng sanh cả mười phương như xem thân mình, thấy họ rõ ràng trước mắt đồng được thọ hưởng khoái lạc. Khi ấy được Từ tam-muội. - Người thân mến và người không thân không sơ nguyện cho vui là được, còn kẻ thù ghét hung ác tại sao lại thương xót nguyện được vui? - Nên ban vui cho những người ấy. Vì sao? Người ấy còn bao nhiêu việc tốt là nhân của pháp thanh tịnh, tại sao ta nay lại do một cái thù nhỏ mà bỏ quên những cái tốt kia! Lại suy nghĩ: Người kia thời quá khứ biết đâu không phải là thân quyến của ta, nay không thể do một chút sân mà sanh thù ghét. Ta phải nhịn họ, đó là thiện lợi của ta. Hoặc nghĩ: Ta thực hành pháp nhân đức, hàm chứa hoằng truyền sức từ bi vô lượng không thể để cho nó tiêu mất. Lại nghĩ: Nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao thành tựu nhân Sanh nhẫn. Sanh nhẫn là do kẻ oán thù ban cho, như vậy kẻ oán thù là người thân thiện của ta. Hơn nữa, quả báo của sân là tối trọng, trong các thứ ác nó là bậc trên hết, do sân mới tàn hại người vật, nó là cái độc khó kìm chế được, tuy muốn đốt người mà kỳ thật là thiêu mình. Nên tự suy nghĩ: Bên ngoài mặc chiếc áo pháp, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục gọi là Sa-môn, thì đâu có thể nghe tiếng nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác. Lại nghĩ: Thân ngũ ấm này là cái rừng đau khổ, là mục tiêu chịu đựng những điều tai ác, thì những cái khổ não tai ác đến làm gì tránh khỏi. Như gai nhọn đâm vào thân, khổ não vô lượng, các thứ thù oán rất nhiều không thể diệt hết, phải tự bảo vệ bằng cách mang đôi giày nhẫn nhục. Như Phật dạy: Lấy sân trả sân, Sân trở hại đó, Sân mà không trả, Hay phá quân to. Hay không sân hận, Là pháp Đại nhân, Tiểu nhân sân hận, Khó động như núi. Sân là độc dữ, Tàn hại rất nhiều, Không thể hại người, Trở về tự hại. Sân là tối lớn, Có mắt không thấy, Sân là bụi nhớp, Ô uế tịnh tâm. Sân độc như thế, Phải mau trừ diệt, Rắn độc trong nhà, Không đuổi hại người. Sân hận như thế, Rất nhiều vô lượng. Thường tập Từ tâm, Trừ diệt sân hận. Như trên là môn Từ tam-muội. III- PHÁP MÔN TRỊ NGU SI Nếu người nhiều ngu si phải học pháp môn ba thứ suy nghĩ. Nếu người mới tập hành phải dạy: Sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành. Chỉ như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Nếu người đang tập hành phải dạy: Hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì ngoài, nếu có nghĩ việc ngoài liền thu nhiếp trở về. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. - Tất cả người trí là minh, tất cả người ngu là vô minh, trong ấy thế nào là vô minh? - Vô minh là tất cả không biết. Ở trong đây vô minh hay tạo có đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có, bỏ các điều thiện, lấy các thứ ác, phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối. Như trong phẩm Vô Minh Tướng nói: Pháp mờ mịt không sáng, Không biết nghiệp đạo đức, Mà tạo nhân kiết sử, Như lửa do cọ xát. Pháp ác mà tâm thích, Xa bỏ các pháp lành, Giặc cướp sáng chúng sanh, Xưa nay thường bị cướp. Tướng thường lạc ngã tịnh Chấp trong thân ngũ ấm, Pháp khổ tập diệt đạo Cũng lại không thể biết. Đường hiểm các thứ não, Người mù đi vào trong, Phiền não nên nghiệp tập, Nghiệp nên khổ xoay vòng. Không nên lấy mà lấy, Nên lấy trở lại bỏ, Theo đuổi tối, sai lầm, Giẫm phải gốc té nhào. Có mắt mà không tuệ, Ví dụ cũng như thế, Bởi nhân duyên ấy diệt, Trí sáng như mặt trời. Như thế lược nói vô minh cho đến lão tử cũng vậy. - Trong Phật pháp lý nhân duyên rất cao sâu, tại sao người nhiều ngu si lại hay quán nhân duyên? - Có hai hạng người ngu si: Hạng người mê muội như trâu dê. Hạng người ôm các thứ tà kiến mê lầm đen tối, là người ngu si tà kiến. Phật vì hạng người sau bảo phải quán nhân duyên tập chánh định. IV- PHÁP MÔN TRỊ LO NGHĨ Người nhiều lo nghĩ phải tập pháp môn A-na-ban-na tam-muội. Nếu người mới tập hành phải dạy: Nhất tâm đếm hơi thở vào ra, hoặc dài hoặc ngắn, đếm từ một đến mười. Nếu người đang tập hành phải dạy: Đếm hơi thở từ một đến mười và theo hơi thở vào ra, niệm cùng hơi thở, đồng dừng tâm ở một chỗ. Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Đếm hơi thở, theo hơi thở, chỉ, quán, hoàn và tịnh. A-na-ban-na tam-muội có sáu môn, chia làm mười sáu phần. Sáu môn là: 1. Sổ tức: Hành giả nhất tâm nhớ hơi thở vào đến cùng, đếm một, hơi thở ra đến cùng, đếm hai. Nếu hơi thở chưa cùng mà đếm là sai. Nếu đếm từ hai đến chín mà quên phải đếm lại một. Ví như nhà toán học tính một với một là hai, hai với hai là bốn v.v... không sai một mảy. - Tại sao phải đếm? - Nhân đếm hơi thở quán vô thường, dễ được dứt các lo nghĩ và được nhất tâm. Thân tâm sanh diệt vô thường liên tục tương tự khó thấy, nhân thở vào ra sanh diệt vô thường mà dễ biết dễ thấy được nó. Tâm buộc tại số, dứt các lo nghĩ. Lo nghĩ gồm sáu thứ: 1- Lo nghĩ tham dục, 2- Lo nghĩ giận hờn, 3- Lo nghĩ não hại, 4- Lo nghĩ quê hương thân thuộc, 5- Lo nghĩ cõi nước, 6- Lo nghĩ không chết. Người muốn cầu tịnh tâm vào chánh đạo, trước phải diệt ba thứ lo nghĩ thô, kế trừ ba thứ tế. Trừ hết sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp Nhất thiết thanh tịnh. Ví như người luyện vàng, trước bỏ những đá sỏi thô, sau mới bỏ bợn cát tế, lần lượt được vàng ròng. - Thế nào là bệnh thô? Thế nào là bệnh tế? - Nghĩ tham dục, nóng giận, não hại là ba thứ bệnh thô. Nghĩ quê hương thân thuộc, cõi nước, không chết là ba thứ bệnh tế. Trừ được sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp tất cả thanh tịnh. - Người chưa được đạo, kiết sử chưa đoạn, sáu cái lo nghĩ này từ tâm khởi loạn, làm sao trừ được? - Tâm chán thế gian và tu chánh quán thì hay ngăn mà chưa nhổ được gốc nó, sau khi được đạo vô lậu mới nhổ hết gốc rễ của nó. - Thế nào là chánh quán? - Như bài tụng: Thấy người đa dục cầu đã khổ, Được nó giữ gìn càng thêm khổ, Mất đi buồn thảm khổ lại hơn, Khi tâm được dục không mãn khổ. Dục nhân vô thường, không, sầu thảm, Các thứ chung hợp nên bỏ đi, Ví như rắn độc vào nhà người Không gấp đuổi đi hại ắt đến. Không định, không thật, không quý trọng, Những thứ dục cầu vui điên đảo, Như A-la-hán lục thần thông Cảnh tỉnh đệ tử giác dục rằng: Ngươi không phá giới, giới thanh tịnh, Không cùng người nữ chung nhà ngủ, Rắn độc kiết dục đầy nhà tâm Ràng buộc vui ái không xa lìa. Đã biết giới thân không thể phá, Mà tâm thường cùng lửa dục chung, Ngươi vốn xuất gia cầu đạo pháp, Bởi đâu buông lung đến thế này? Cha mẹ sanh thành nuôi nấng ngươi, Bà con quyến thuộc thương yêu lắm, Thảy đều rơi lệ quyến luyến ngươi, Ngươi đành xa bỏ không đoái tưởng. Mà nay sao lại ôm lòng dục, Cùng dục vui vầy không chán nhàm, Thường cùng lửa dục chung một chỗ Vui vẻ thích thú không tạm lìa! Như thế các thứ quở trách tham dục và những thứ chánh quán trừ tâm tham dục. - Thế nào diệt tâm giận hờn? - Như bài tụng: Từ bào thai ra thường chịu khổ, Chúng sanh như thế chớ giận hại, Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, Từ bi nóng giận không chung cùng. Người nhờ từ bi nóng giận dứt, Ví như sáng tối không chung chỗ, Nếu giữ tịnh giới mà nóng giận, Người ấy tự phá pháp lợi mình. Ví như dẫn voi xuống nước tắm Lại lấy bùn đất trét đầy mình, Tất cả đều phải già, bệnh, chết, Mọi thứ đánh đập trăm ngàn khổ. Tại sao người lành thương chúng sanh Mà lại gia tăng giận não hại? Nếu khởi nóng giận muốn hại người, Chưa đến người kia trước đốt mình. Thế nên thường nghĩ hành từ bi, Nóng giận, nghĩ ác tâm không sanh, Nếu người thường nghĩ hành pháp lành, Thường nghĩ pháp lành tâm vui vẻ. Đời nay được vui, sau cũng thế, Được đạo thường vui, ấy Niết-bàn, Nếu tâm dồn chứa điều bất thiện Tự mất lợi mình lại hại người. Đã tự trong tâm mất thiện pháp, Người có tịnh tâm cũng trầm một, Ví như đạo nhân ở chỗ vắng Đưa tay kêu to: “Giặc cướp tôi!” Có người hỏi rằng: “Ai cướp ngươi?” Đáp rằng: “Giặc Của tôi chẳng sợ, Tôi không giữ của cầu thế lợi, Làm gì giặc Của hại được tôi. Tôi tập căn lành các pháp bảo, Giặc giác quán (xét nghĩ) phá tôi thiện lợi, Giặc Của đã lánh chỗ chứa nhiều, Giặc cướp thiện đến không thể tránh.” Như thế các thứ trách nóng giận và các thứ chánh quán trừ tâm nóng giận. - Thế nào trừ cái nghĩ não hại? - Như bài tụng: Chúng sanh luống chịu trăm ngàn thứ: Các bệnh luôn luôn đến não hại, Giặc chết rình chụp thường muốn giết, Vô lượng chúng khổ tự vây quanh. Tại sao người lành thêm não hại, Chê bai mưu hại không nhân từ? Hại người chưa được tự mang họa, Người tục mưu hại còn thể tha. Đó là nghiệp ác của thế gian, Cũng không tự nói ta tu thiện, Cầu đạo thanh tịnh người xuất gia Mà sanh nóng giận tâm tật đố. Trời tạnh trong mây xẹt lửa độc, Phải biết ác này tội rất nặng, Người ưa vắng vẻ khởi tật đố, Có bậc La-hán được tha tâm Răn dạy quở rầy: “Ngươi sao dại? Tật đố tự phá cội công đức, Muốn được cúng dường phải tự tập Bao nhiêu công đức trang nghiêm thân. Nếu không trì giới, thiền, đa văn, Dối mặc áo nhuộm hoại pháp thân, Thật kẻ ăn xin, người tệ ác, Tại sao mong lợi được cúng dường?” Đói, khát, lạnh, nóng trăm ngàn khổ, Chúng sanh thường bởi các khổ này, Thân tâm khổ ách không cùng tận, Tại sao người lành thêm não hại? Ví như ghẻ lớn dùng dao mổ, Cũng tợ tù nhân khảo chưa xong, Khổ ách quanh mình các khổ nhóm, Tại sao từ bi lại muốn tăng? Như thế các thứ quở trách cái nghĩ não hại, các thứ chánh quán để trừ nghĩ não hại. - Thế nào trừ cái nghĩ quê hương thân thuộc? - Nên nghĩ thế này: Trong thế giới sanh tử tự nghiệp duyên ràng buộc thì đâu là thân đâu là sơ? Chỉ do ngu si khởi tâm mến bừa, chấp cho là thân thuộc. Đời quá khứ đời vị lai không phải thân mà nay là thân. Đời này là thân mà quá khứ không phải thân. Ví như đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Quê hương thân thuộc cũng như vậy. Sanh trong thế giới mỗi người tự có tâm khác, duyên hợp nên thân, duyên tan thành sơ, không thể có nhân duyên quả báo quyết định mãi cùng nhau thân cận. Ví như cát khô tay nắm chắc thành khối, do nắm nên hiệp, buông ra thành tan. Cha mẹ nuôi con đến khi già con đền đáp lại. Con nhờ sự bồng ẵm nuôi nấng nên phải báo đáp lại. Nếu thuận ý cha mẹ là thân, nghịch ý là sơ. Có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích. Người do nhân duyên nên sanh ra ái, bởi nhân duyên ái nên trở lại hại người. Ví như họa sĩ họa tượng người nữ, trở lại yêu thích tượng ấy. Người yêu quê hương thân thuộc cũng thế. Tự sanh nhiễm trước, nhiễm trước những cái bên ngoài, trong đời quá khứ ngươi vẫn có quê hương thân thuộc, đời này ngươi đã làm gì? Ngươi không thể làm lợi ích cho người thân đời quá khứ, người thân đời quá khứ cũng không thể làm lợi ích cho ngươi, hai bên đều không thể làm lợi ích cho nhau. Trong cõi thế giới không định vô biên này, có nghĩ đến người thân hay không thân cũng chỉ là nghĩ suông mà thôi. Như vị A-la-hán dạy đệ tử mới xuất gia còn luyến ái người thân rằng: “Như kẻ hư hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy. Ngươi đã được xuất gia tại sao trở lại ái trước? Cạo tóc, mặc áo hoại sắc là tướng giải thoát, ngươi còn yêu mến người thân quê hương không được giải thoát, trở lại bị cái yêu mến buộc ràng. Ba cõi vô thường lưu chuyển không định, hoặc thân không thân, tuy nay thân nhưng lâu xa cũng hết. Như thế, mười phương chúng sanh luân hồi, quê hương thân thuộc không định thì đâu không phải là quê hương thân thuộc của ta. Người khi sắp chết tâm thức không có, đứng tròng mắt tắt thở, mạng sống dứt, như rơi vào hầm tối. Khi ấy quê hương thân thuộc còn đâu? Nếu khi mới sanh, đời trước không phải thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân; khi sắp chết, người thân trở lại không phải thân. Như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc.” Như thế các thứ chánh quán trừ lo nghĩ quê hương thân thuộc. - Thế nào trừ cái nghĩ cõi nước? - Hành giả nếu nghĩ nước ấy giàu có vui vẻ an ổn, nhiều người tốt, thường bị sợi dây đất nước trói buộc. Phải bỏ đi cái nghĩ sai lầm như thế! Nếu người có trí không nên mến trước. Vì sao? Vì bao nhiêu cõi nước do tội lỗi thiêu đốt và thời tiết biến chuyển nên có đói khát khổ nhọc, tất cả cõi nước đều là vô thường không an ổn. Lại nữa, già bệnh chết không nước nào mà chẳng có. Từ chỗ này thân khổ đến chỗ kia thân cũng khổ, đi khắp tất cả nước không đâu chẳng khổ. Giả sử có nước an ổn giàu có vui vẻ mà còn có kiết sử tâm sanh đau khổ thì nước ấy cũng chưa phải tốt. Nếu hay dẹp được những cái xấu xa trong nước, làm tiêu mòn kiết sử cho tâm khỏi khổ, ấy là nước tốt. Tất cả chúng sanh có hai thứ khổ, thân khổ và tâm khổ. Do hai thứ khổ này mà thường khổ não. Không có nước nào mà không có hai cái khổ này. Lại có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước đói khát, có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc cướp, có nước pháp nước bất công v.v... Các nước như thế, tâm chán không nên đắm mến. Đó là chánh quán trừ nghĩ cõi nước. - Thế nào trừ cái nghĩ không chết? - Nên dạy hành giả, hoặc sanh trong nhà khá giả, hoặc con dòng quý phái, người có tài nghề thế lực..., tất cả đều không nên nghĩ nhớ. Tại sao? Vì khi chết đến không lựa già trẻ sang hèn, tài nghề thế lực... Thân này là chỗ tụ hợp của các nhân duyên sầu khổ. Nếu tự thấy mình ít tuổi còn sống lâu, được an ổn, đó là người ngu si. Vì cớ sao? Chỗ nương tựa của sầu khổ là tứ đại, tứ đại gây nên hình thể cũng như bốn con rắn độc, tuy chung mà không hợp thì làm sao được an ổn? Hơi thở ra chưa trở vào là không thể tin được. Khi ngủ chưa ắt có thức, việc ấy cũng khó tin. Từ khi vào thai cho đến lúc già, cái chết lúc nào cũng rình rập bên mình, thế mà vì mong sống lâu nói rằng không chết, làm sao tin được? Giặc chết rút đao, nắm tên tìm người giết, không có chút lòng thương xót. Người sanh trên đời cái chết là sức mạnh bậc nhất, tất cả không có cái gì thắng được sức mạnh của cái chết. Người anh hùng bậc nhất của đời quá khứ không thoát được cái chết, bậc đại trí trong đời hiện tại cũng không thắng được cái chết, không thể dùng lời nhỏ nhẹ van xin được nó, không thể dùng lời khéo léo lừa gạt được nó, cũng không thể giữ giới tinh tấn mà đuổi được nó. Do đó nên biết, mạng người tạm bợ không thể trông cậy. Chớ có tin chắc rằng ta sẽ sống lâu. Bọn giặc chết thường dẫn người đi, không đợi già rồi mới giết. Như A-la-hán dạy đệ tử bị cái nghĩ không chết não hại rằng: “Ngươi đã biết chán đời vào đạo, sao lại khởi nghĩ như thế? Này! Có người chưa sanh đã chết, có người chết trong khi sanh, có người chết trong lúc còn bú, có người chết sau khi dứt sữa, có người chết lúc còn bé, có người chết trong thời trai tráng, có người chết lúc tuổi già. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Ví như cây trổ hoa liền rụng hoặc thành trái mới rụng, có khi chưa chín lại rụng. Thế nên, phải gắng sức tinh tấn cầu đạo an ổn; chung ở với bọn giặc dữ không thể tin được, bọn giặc này như cọp khéo giấu hình khó thấy. Giặc chết thường tìm giết người, mọi vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Ai có thể bảo chứng rằng người già ắt được hành đạo? Ví như cây to đứng dựa vực thẳm, trên bị gió lớn, dưới bị nước xoi bày rễ, ai có thể tin được cây này lâu bền? Mạng người cũng vậy, tuy tuổi nhỏ vẫn khó tin. Cha như hạt giống, mẹ như khoảnh ruộng, nhân duyên tội phước đời trước như mưa sương, con người như cây lúa, chết sống như cắt gặt. Những vị thiên tử nhân vương trí đức hưởng những thứ vui sướng cao sang, nhưng sau rồi lại rơi vào chỗ tối tăm. Bởi thế nên chớ tin mạng sống mà nói rằng: Ta ngày nay làm việc này, ngày mai cũng làm việc này.” Các thứ chánh quán như thế trừ quan niệm không chết. Trước trừ lo nghĩ thô, sau trừ lo nghĩ tế, tâm thanh tịnh liền được chánh đạo, tất cả kiết sử dứt, từ đây được chỗ an ổn, ấy là quả của người xuất gia. Tâm tự tại, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, không phải trở lại thọ sanh, học rộng, đọc nhiều kinh, khi ấy được quả báo tốt. Khi được như vậy, không nhọc công phá quân ma vương mà được khen ngợi là người dũng sĩ bậc nhất, bọn giặc phiền não tự lui; tuy không gọi là mạnh mà hay trừ giặc phiền não, diệt được lửa tam độc, mát mẻ vui vẻ trong sạch, gối tay nằm an ổn trong rừng Niết-bàn. Ngọn gió mát thiền định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi bốn phía thổi đến, đoái nhìn thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong biển tam độc. Cái diệu lực như thế mới gọi là kiện toàn. Thế nên, những người tán tâm phải niệm A-na-ban-na, học sáu pháp đoạn các thứ lo nghĩ. Do đó trước phải học Sổ tức. - Nếu trong bốn pháp - quán bất tịnh, niệm Phật v.v... - cũng trừ được lo nghĩ, vì sao chỉ nói riêng Sổ tức? - Vì các pháp quán kia chậm rãi nên khó mất, pháp Sổ tức mau chóng nên dễ chuyển. Ví như người thả trâu, do trâu khó mất nên sự coi giữ lơ là, nếu thả vượn khỉ, do khỉ dễ mất nên sự coi giữ khít khao. Pháp này cũng như thế. Sổ tức chăm chú tâm và số, không được một chốc nghĩ việc khác, nếu có một chốc nghĩ việc khác là số đã lộn mất. Bởi thế nên, lúc ban đầu muốn đoạn sự lo nghĩ phải Sổ tức. Được pháp Sổ tức rồi phải thực hành pháp Tùy tức để đoạn các lo nghĩ. 2. Tùy tức: Hít hơi vào tới cùng, tâm chỉ duyên theo không đếm một, thở hơi ra đến cùng, tâm duyên theo chớ đếm hai. Ví như người thiếu nợ, chủ nợ đến đòi theo mãi bên lưng không rời. Như thế, suy xét hơi thở vào, trở ra có khác, hơi thở ra, trở vào có khác. Khi ấy biết hơi thở vào khác hơi thở ra. Vì hơi thở ra ấm, hơi thở vào lạnh. - Hơi thở vào, ra chỉ là một. Vì sao? Vì ra rồi trở lại vào. Ví như nước ngậm vào miệng thì ấm, nhổ ra thì lạnh, lạnh trở ra ấm, ấm trở lại lạnh cũng chỉ là một. - Không phải như vậy. Do nội tâm động nên có thở ra, ra rồi liền mất, mũi và miệng hít bên ngoài thì có hơi thở vào, vào rồi diệt, cũng không có sắp ra, không có sắp vào. Lại nữa, trẻ nhỏ hơi thở vào dài, người tráng niên hơi thở vào ra bằng nhau, người già hơi thở ra dài, thế nên chẳng phải một loại hơi thở. Nơi rốn phát ra hơi thở hình như liên tục, thở ra đến mũi và miệng, ra rồi liền diệt. Ví như hơi trong quả bóng khi mở dây cột ra liền xẹp, nếu dùng nhân duyên mũi miệng thổi hơi thở vào, ấy là nhân duyên mới mà sanh. Ví như cái quạt, do các duyên hợp lại nên có gió. Khi ấy, biết do nhân duyên nên có hơi thở ra vào, nó hư dối không thật, sanh diệt vô thường. Suy xét do nhân duyên mũi miệng hít có hơi thở vào, do nhân duyên tâm động có hơi thở ra, mà mê lầm không biết, chấp là hơi thở của ta. Hơi thở là gió, cùng với gió bên ngoài không khác. Đất, nước, lửa, không, cũng như thế. Bởi nhân duyên ngũ đại hợp nên có thức sanh. Thức cũng như vậy, không phải là của ta. Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới cũng như thế. Biết như vậy, theo hơi thở ra vào gọi là Tùy tức. Đã được pháp Tùy tức phải thực hành pháp Chỉ. 3. Pháp Chỉ: Sổ, Tùy tâm rất an trụ, ý dừng bên cửa hơi thở để xem nó ra vào. Vì sao phải Chỉ? Vì dứt các lo nghĩ, dừng tâm tán động. Khi Sổ tức, Tùy tức tâm không định vì rất nhiều việc. Chỉ thì tâm nhàn rỗi ít việc, tâm trụ một chỗ xem hơi thở ra vào. Ví như người gác cửa đứng bên cửa xem người ra vào. Tâm Chỉ cũng như vậy, biết hơi thở khi ra từ rốn đến hông, ngực, cổ, miệng, mũi, khi vào từ miệng, mũi đến cổ, ngực, hông, rốn. Như vậy, buộc tâm một chỗ gọi là Chỉ. 4. Pháp Quán: Trong pháp Chỉ, tâm dừng lại để quan sát, khi hơi thở vào ngũ ấm sanh diệt khác, khi hơi thở ra ngũ ấm sanh diệt khác. Như thế, trừ dẹp loạn tâm, nhất tâm suy xét cho pháp quán được tăng trưởng gọi là Quán. 5. Pháp Hoàn: Bỏ chỗ đứng bên cửa, rời pháp quán thô. Rời pháp quán thô là nhận biết hơi thở vô thường, ấy gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào, sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu, do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không, đó là chuyển quán. 6. Pháp Tịnh: Trừ diệt ngũ cái và các phiền não, tuy trước được Chỉ, Quán mà phiền não chưa sạch, tâm còn tạp loạn, nay pháp Tịnh là tâm được thanh tịnh. Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi Thanh tịnh. Pháp quán trước là một phần thân niệm Chỉ, dần dần toàn thân niệm Chỉ, kế thọ và tâm niệm Chỉ, trong đó chưa phải thanh tịnh còn xa đạo vô lậu. Ở đây, trong pháp niệm Chỉ, quán mười sáu phần niệm hơi thở ra vào, được pháp noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, khổ pháp nhẫn cho đến vô học tận trí nên gọi là thanh tịnh. Trong mười sáu phần là: 1/ Phần hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na. 2/ Phần hơi thở ra cũng có sáu hạnh A-na-ban-na. 3/ Hơi thở dài ngắn: Nhất tâm niệm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn. Ví như người có việc kinh sợ, mang đồ nặng leo núi thì hơi thở lên, là hơi thở ngắn. Như người khi làm nhọc được nghỉ thì vui vẻ và như người bị giam trong khám được thả ra, thế đều là hơi thở dài. Tất cả hơi thở đều nằm hai nơi dài ngắn, thế nên nói hơi thở dài ngắn. Trong phần hơi thở dài ngắn cũng niệm sáu hạnh A-na-ban-na.
CHƯƠNG IV TƯỚNG TU CHỨNG ?? Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
Tọa Thiền Tam Muội Giảng Giải
Chương 5 - 6
Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán Giảng Giải
Nguyên Do Chỉ Quán
Đại Sư Trí Khải (538 - 597)
Phần Duyên Khởi
Phần Chánh Tông
Chương 1 - 6
Chương 7 - 10
Kết Thúc
Lục Diệu Pháp Môn Giảng Giải
Lời Dịch Giả
Sơ Dẫn
Tổng Kết
|
Tọa Thiền Tam Muội Giảng Giải
Chương 1 - 4
Chương 5 - 6
Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán Giảng Giải
Nguyên Do Chỉ Quán
Đại Sư Trí Khải (538 - 597)
Phần Duyên Khởi
Phần Chánh Tông
Chương 1 - 6
Chương 7 - 10
Kết Thúc
Lục Diệu Pháp Môn Giảng Giải
Lời Dịch Giả
Sơ Dẫn
Tổng Kết