Thiền Tông Việt Nam
Sống Thiền
Xét Lại Để Tu

Hôm nay, chúng tôi nói về cách thức xét lại công phu tu hành của mỗi chúng ta. Bởi vì trong sinh hoạt tu hành có khi chúng ta tinh tiến, nhưng cũng có khi sơ suất giải đãi. Nếu không kiểm điểm lại thì việc tu chẳng những không tốt, mà đôi khi kết quả còn ngược lại rất tai hại nữa.

Chúng ta đừng nghĩ rằng cứ siêng năng tu hành là thành tựu kết quả đúng như ý mình mong muốn. Không hẳn như vậy. Cần phải thường xuyên soát xét lại công phu, phát huy những mặt hay, khắc phục những mặt còn kẹt còn vướng. Đó là điều quan trọng chúng ta phải biết. Nếu có điểm nào sơ suất chúng ta phát hiện và sửa đổi ngay, như vậy mới tiến được. Trái lại, cứ cấm đầu tu đại rồi cho là tăng tiến, cuối cùng gặp những hậu quả tai hại không làm sao tránh đỡ kịp. Đó là lỗi không kiểm lại việc tu của mình cho kỹ lưỡng.

Người tu, nhất là tu thiền phải bình tĩnh, gan dạ nhận định xác thực về chính mình. Công phu của mình tới đâu, có vấn đề gì hay không? Đức Phật từng dạy đối với giáo pháp của Như Lai, không nên tin nhận một cách mù quáng mà phải nhận định chính chắn, suy xét kỹ càng rồi mới áp dụng. Áp dụng có lợi ích rồi hãy tin. Cho nên giá trị của một pháp là ở chỗ người nghe áp dụng có kết quả thiết thực đúng đắn, chứ không phải do người nói ra pháp ấy.

Người hướng về đạo Phật, tu theo đạo Phật là biết áp dụng lời Phật dạy vào đời sống của mình, luôn luôn xét nét thật kỹ chính mình theo lời dạy của chư Tổ: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự”. Vì có người tu hành tăng tiến, có người càng tu hành càng ù lì, trì trệ không tiến được. Những trường hợp này nếu không có ân sư đả thông hoặc tự mình tìm cách vươn lên thì việc tu xem như bị chận đứng lại, tiến không được. Nói đến việc xét lại công phu tu hành, tôi nhớ câu chuyện trong kinh A-hàm thế này.

Thời đức Phật còn tại thế, có một vị Tỳ-kheo thích ở chỗ vắng vẻ, ngày đêm siêng năng tu hành. Lúc nào cũng vậy, hoặc ngồi hoặc nằm Ngài luôn tinh tấn, không dám khởi một niệm nào. Khi thấy tâm ý hơi lui sụt, Ngài liền tự sách tấn mình cố gắng lên. Phát huy tu tập liên tục như vậy, nhưng Ngài thấy các dục niệm vẫn không hết, chúng cứ tràn dâng khiến cho công phu tu tập rất nhọc nhằn.

Thấy việc tu không tiến, Ngài có phần thoái tâm muốn trở về đời sống cư sĩ tại gia. Đức Phật biết được tâm niệm đó nên hiện đến thăm viếng và nhắc nhở Ngài. Thế Tôn hỏi:

- Có phải Thầy vừa nghĩ: Trong số đệ tử tinh tấn khổ hạnh của Phật ta là đệ nhất, nhưng hôm nay lậu tâm của ta không giải thoát được. Lại gia nghiệp của ta lắm tiền nhiều của, ngày nay nên xả bỏ pháp Phật, trở về gầy dựng lại tài sản, làm việc bố thí cúng dường dễ hơn, còn hạnh của Sa môn rất khó làm.

Nghe thế, vị Tỳ-kheo ấy sám hối đức Phật:

- Bạch Thế Tôn, con đã dốc lực công phu nhưng xét lại thì những dục lậu chưa sạch hết, chưa giải thoát được. Vì vậy con rất buồn phiền, thấy con đường đạo khó thành tựu viên mãn. Cho nên muốn trở về đời sống thế gian, là một người thường mà biết làm lành, tu tạo các công đức, phát huy sản nghiệp để làm phương tiện tu hành, như vậy có lợi ích hơn.

Đức Phật bảo:

- Nay ta hỏi ông, ông tùy đáp lời ta. Này Tỳ-kheo! Lúc còn tại gia, ông thường làm gì?

- Bạch Thế Tôn, xưa con thường đánh đàn.

- Vậy ta hỏi ông, nếu như dây đàn căng quá thì âm thanh thế nào?

- Bạch Thế Tôn, nếu dây đàn căng quá thì âm thanh không hay, có khi dây đàn đứt và không thể đánh được nữa.

Đức Phật hỏi tiếp:

- Nếu như dây đàn chùng quá thì âm thanh thế nào?

- Bạch Thế Tôn, nếu dây đàn chùng thì âm thanh sẽ không phát ra được.

Đức Phật lại hỏi:

- Vậy muốn có âm thanh hay thì phải làm sao?

- Bạch Thế Tôn, muốn được âm thanh vi diệu phải điều chỉnh dây đàn thật là vừa phải.

Đức Phật nói:

- Cũng vậy, phương thức tu hành trong đời sống chúng ta, nếu găng quá thì sẽ bứt nửa chừng. Nếu chùng quá thì không đi tới đâu. Chỉ có dụng công vừa phải thì thân tâm mới khỏe mạnh, an lạc, điều hòa thích ứng thì việc tu ít nhọc mà tiến mau. Ông đã biết như vậy mà ông không chịu điều hòa thân tâm, khiến cho dục lậu tràn dâng, không hóa giải được. Việc này ông phải tự điều chỉnh lại. Hạ thủ công phu tu hành cần phải như người đánh đàn giỏi thì nhất định sẽ khải lên những bản nhạc hay. 

Chúng ta nên học kinh nghiệm tu tập từ câu chuyện này. Công phu phải đi từ bên trong, chớ chỉ dựa trên hình thức bên ngoài thì sẽ không có nội lực, khó có thể thực hành chí nguyện bền bĩ được. Đối với việc tu hành, nếu như chúng ta đã có công phu rồi thì mỗi người càng phấn đấu trong sự tỉnh táo sáng suốt nhiều hơn. Thấy thật rõ nghiệp tập của mình, nhận định chính xác mức độ công phu tiến lùi như thế nào để có phương thức tốt hơn. Đó là lý do chúng ta cần phải thường xuyên xét lại việc tu của mình. Những gì không thực thì bỏ đi, những gì chân thật thì nhận và sống với nó. Giản dị thế thôi.

Thành tựu hay không là do nơi sự khéo léo của mình chớ không thể phải tại các điều kiện bên ngoài. Những phương tiện bên ngoài chỉ là phần phụ trong một giai đoạn nào thôi, còn việc chánh chúng ta phải tự đảm đang lấy. Nên nhớ quá tinh tấn có khi rơi vào điệu cử, tức là lăng xăng, thân thể không yên. Còn người giải đãi sẽ đọa vào tà kiến. Chỉ người vượt qua được hai bệnh này mới có thể hóa giải được tất cả dục lậu của mình.

Vì vậy người tu thiền là người trầm tĩnh hùng hậu, chớ không phải người thông minh nhìn qua nhìn lại, nói tới nói lui, lăng xăng. Hạng người thông minh bén nhạy ở thế gian so với đạo kém rất xa. Phật dạy nếu siêng năng mà quá đà thì trở thành trạo cử. Trái lại lười biếng, cứ ngủ gà ngủ gật thì đọa lạc. Hai thứ này giống như hai gọng kềm luôn kẹp chặt chúng ta, không bị vướng cái này thì kẹt cái kia.

Người biết tu thì phải dừng ba nghiệp, kiểm điểm lại tham sân si nơi mình. Nếu ta làm chủ được thì sự tu có tiến, nếu đối duyên tiếp cảnh mà bị nó kéo lôi là chưa tiến, dù tụng kinh ngồi thiền nhiều cũng chưa thể gọi là tiến. Chúng ta cần phải lưu ý chỗ này. Người có công phu tu đúng đắn sẽ trị được những vọng động tham, sân, phiền não dễ dàng. Như ngày xưa sự kiện đó xảy ra, ta buồn mười phần, bây giờ cũng sự kiện đó nhưng mình thấy an ổn, nếu có buồn cũng thoáng thôi. Như vậy là việc tu có tiến. Hoặc lúc trước gặp cảnh duyên hợp ý, nó kéo mình dễ dàng, bây giờ nó muốn kéo cũng không kéo được. Đó là chúng ta đã có chút sức mạnh, có chút năng lực. Nếu làm chủ được hoàn toàn thì ta sẽ tự tại giải thoát trước tất cả mọi cảnh duyên.

Nói tự tại tức là không bị bên này kéo bên kia lôi, chứ không phải tự tại là bay trên mây hay lặn xuống nước. Ta vẫn sống với mọi người chung quanh mà không ai làm não loạn được mình. Vì ta có năng lực do thiền định và trí tuệ phát sinh nên tự tại giải thoát giữa mọi trói buộc, giữa mọi cảnh duyên.

Trở lại vấn đề soát xét, có những điểm cần lưu ý như sau:

Thứ nhất chúng ta nghiệm xem mình có phải là người chỉ nói suông mà không chịu tu. Hạng người học thuộc lòng lời Phật dạy mà không gia tâm thực hành, giống như người nói ăn mà bụng vẫn đói. Người tu phải thật nghiêm ngặt xét nét điểm này. Những gì ta có kinh nghiệm, thật sự hiểu biết thì ta hãy nói, nhưng cũng chỉ nói một vài phần, tránh tình trạng cao hứng rồi bắn bổng. Nói trên mây mà đi dưới bùn, chẳng lợi lạc gì cả, lại còn bị thiên hạ chê cười. Nói được mà làm không được là bệnh rất khó trị.

Kẻ nói hay người ta tưởng đâu thánh hiền, nhưng chỉ được cái miệng thôi, còn nghiệp tập phiền não điên đảo, vọng tưởng, không làm chủ được gì cả. Tu hành như thế là tạo trở lực trong công phu tu hành của mình, chúng ta tuyệt đối không được phạm phải lỗi này. Vì vậy cần phải kiểm nghiệm để nhận diện và tiêu diệt nó. Muốn thế trí tuệ Bát nhã là vũ khí tất yếu chúng ta phải có.

Một ý niệm nhỏ thôi nhưng muốn bỏ đi cũng đâu phải dễ, nó cứ loay hoay hiện ra hoài. Trường hợp này, nếu không có định và tuệ thì không thể trị nổi. Thế cho nên chúng ta kiểm lại xem hằng ngày mình có định tuệ không? Nghe điều trái ý liền bất bình tức chưa có định. Xử lý công việc lúng túng, không quyết đoán được tức chưa có tuệ. Người có định tuệ là ngay trong mọi tiếp cận, mọi sinh hoạt đều trầm tĩnh sáng suốt, tự mình giải quyết minh bạch rõ ràng, không cần phải hỏi ông thầy bói nào, khỏi đi đâu cho tốn tiền bánh trái.

Định tuệ không có thì công phu tu hành rất khó tiến. Hiện tại ta không làm chủ được thì phút chót của đời mình làm sao tự chủ được? Thế nên khi kiểm lại công phu, biết mình còn yếu điểm nào thì phải ráng lên, đừng thấy mình yếu rồi đâm sợ sệt, bỏ luôn thì không nên. Bằng mọi cách ta phải phấn đấu đến kỳ cùng để được tăng tiến. Tổ Qui Sơn dạy: “Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thối khuất”, có nghĩa kia là bậc trượng phu thì ta cũng là bậc trượng phu, không nên tự khinh mà sanh lui sụt. Người xưa làm được, ngày nay ta cũng làm được.

Hòa thượng thường dạy chúng ta thờ Phật, Bồ-tát là để thấy hình dung của các Ngài, mà tự sách tấn nhắc nhở mình cũng có khả năng như thế. Các Ngài tu thành Bồ-tát, mình tu cũng thành Bồ-tát. Bởi vì trong kiếp xa xưa các Ngài cũng là những con người, là những chúng sinh đau khổ, song nhờ sức phấn đấu, ý chí cương quyết tu hành nên được thành tựu như vậy. Bây giờ chúng ta cũng phấn đấu, cũng kiên quyết rồi thì cũng sẽ thành tựu như các Ngài. Nên nhớ ai có quyết tâm thì người đó thành công.

Phật tử cần phải hiểu không phải thỉnh tượng Phật, Bồ-tát về thờ để tín ngưỡng thôi. Ta có quyền tín ngưỡng vì các Ngài là bậc giác ngộ giải thoát, nhưng chủ yếu việc thờ phụng ấy là nhân nơi hình ảnh của các Ngài, ta nhớ lại tánh giác của mình, nỗ lực tu tập để thành tựu đức Phật nơi chính mình. Chúng ta đừng bao giờ có ý niệm việc ấy mình làm không nổi. Bởi thật sự không phải ta không có năng lực, nhưng chính những tư tưởng sai lầm ngăn cản, khiến chúng ta mất hết các năng lực của mình. Người quyết tâm phấn đấu thì việc gì cũng vượt qua, việc gì cũng thành công.

Cả đời chúng ta làm công kia việc nọ được, mà ngồi lại yên lặng hai tiếng đồng hồ thì ngồi không nổi? Mình phải tự hỏi tại sao như vậy? Người ta ngồi được sao mình ngồi không được? Khi tự vấn, tự kiểm như vậy rồi thì ta bắt đầu ngồi được. Đầu tiên có thể chỉ 10 phút thôi, dần dần tăng lên 15, 20 phút, rồi 30, 40 phút. Cuối cùng ta mới biết mình vẫn có thể tọa thiền trong hai tiếng như thường, nếu quyết tâm và bền chí.

Cho nên cần nhất là lòng can đảm và ý chí kiên cường. Kẻ khiếp nhược suốt đời không làm gì được cả. Hễ nhút nhác thì ma khiếp nhược chụp liền. Thế là cứ kệ, ai ngồi được bao nhiêu mặc họ, hễ đau chân thì ta rút lui, tu như vậy biết chừng nào cho rồi. Phải có ý chí, có sự phấn đấu như lời Tổ Qui Sơn đã dạy. Nên phải luôn kiểm lại ngôn ngữ, hành động, ý chí, công phu của mình. Lúc nào cũng tỉnh táo, biết rõ điều gì không phải, không hay thì loại ngay. Thường xuyên tự kiểm như vậy, còn có thì giờ để đi đâu, còn có thì giờ để tào lao các chuyện tạp nhạp nữa. Do đó tận lực tập trung vào công phu tu hành, thì chắc chắn kết quả đạt được sẽ như ý thôi.

Chúng ta thấy rõ ràng nếu biết áp dụng pháp môn của Phật Tổ dạy, luôn nép mình trong rào giậu giới định tuệ, nhất định chúng ta sẽ được an lạc. Người xưa trải qua bao nhiêu thời gian hạ thủ công phu được như vậy, tại sao tới phiên mình lại trục trặc? Đó là vì chúng ta chưa làm đúng, thành ra kết quả sai khác. Nếu lúc nào mình cũng sẵn sàng soát xét lại thì việc tu hành của chúng ta làm sao hỏng đi được.

Thứ hai, chúng ta nghiệm xét lại các duyên hỗ trợ chung quanh có cần thiết hay không? Thật ra việc tu hành chính yếu là ở nỗ lực của mình, nhưng cũng cần có sự hỗ trợ của thầy bạn, của thiện hữu tri thức. Thời gian qua nhanh, mọi thứ đều đổi thay, ngay cả tâm niệm của chúng ta. Nếu biết phát huy một cách mạnh mẽ theo hướng tốt thì sự đổi thay cũng tốt. Ngược lại ta chùn bước, không thể vượt qua mọi thử thách thì sự thay đổi sẽ xấu đi. Cho nên sự góp sức của bạn hữu rất cần thiết trong những biến chuyển thân tâm của chúng ta.

Nghiệm kỹ lại nếu ta không có chủng duyên sâu dày với Phật pháp, thì bây giờ không thể trở thành người xuất gia. Cho nên đã cùng chung chí hướng xuất trần, huynh đệ nên đùm bọc nhau tạo điều kiện tốt để nhắc nhở tu tập, cùng hỗ trợ nhau trên đường tu hành. Việc xét lại mình và lắng nghe những đóng góp của huynh đệ có lợi ích rất lớn cho việc tiến tu của chúng ta. Nhờ đó mà mình biết được trong dáng dấp đạo mạo, trong ngôn ngữ, trong tiếp xúc với mọi người, mình có lỗi gì khiến người ta không chấp nhận. Từ đó ta để tâm tu sửa những khiếm khuyết ấy thì còn gì hay bằng. Được vậy sự tu thành công sẽ không khó.

Chúng ta nên biết mặc dù mình từng học hiểu Phật pháp nhưng nếu không có chủng tánh Phật, không có duyên với Phật thì ắt hẳn chúng ta chưa thể trở thành người tu được. Vì vậy hiểu Phật pháp thôi chưa đủ mà còn phải phấn đấu áp dụng những gì mình học hiểu vào công phu hằng ngày để nuôi lớn chủng Phật nhiều hơn. Thành ra, việc soát xét thứ hai là đối với các duyên, ta nên ghi nhận để kiểm nghiệm lại việc tu tập của mình, xem ta đã áp dụng được những gì và chưa thực hành những gì trong đời sống đạo hạnh của mình.

Không phải đợi ta thành đạo thuyết pháp, chúng sinh mới được lợi lạc. Cứ ngồi yên tu, mọi thứ chung quanh sẽ ảnh hưởng theo. Có khi một người tu nơi thâm sơn cùng cốc được thanh tịnh, mọi người chưa đến nhưng nghe danh liền nhất tâm hướng về và học hỏi theo công hạnh ấy. Như Phật Thích Ca đã ra đời, tu hành thành đạo, thuyết pháp độ sanh và đã nhập Niết-bàn rồi, ngày nay chúng ta đâu còn thấy sắc thân Ngài nữa. Nhưng do chủng duyên, sự ngưỡng mộ, tâm thành hướng về Ngài nên dù ở tại nước nhà mà ta vẫn có thể nỗ lực tu tập theo giáo pháp của Phật, đâu đợi phải gặp Ngài tại xứ Ấn Độ mới tu được.

Chỉ một đức Phật Thích Ca cách chúng ta trên hai ngàn năm, mà có vô lượng vô lượng người thành tâm hướng về tu tập, làm được những điều ích lợi cho chúng sinh lớn lao vô kể. Hà huống huynh đệ chúng ta bây giờ cả hàng năm bảy trăm người, nếu thành Phật hết thì thôi thế giới ngưỡng mộ biết là bao nhiêu, chuyện lợi ích lớn lao kể sao cho xiết. Cho nên biết lợi ích chúng sinh không phải đợi mình làm việc gì tầm cở đâu, chỉ cần ta cứ chuyên tâm tu tập, phát huy và làm chủ được mình, thì sự lợi lạc không muốn cũng có.

Ngược lại chúng ta không chịu chuyên tâm tu tập mà rong ruổi bên ngoài, nói hoặc làm điều gì khiến người ta hủy báng, đó là làm mất niềm tin đối với chúng sanh, điều này nguy hiểm, có lỗi rất lớn. Do đó người tu Phật phải dè dặt, không riêng hàng xuất gia mà các vị tại gia cư sĩ cũng vậy. Người ta biết quí Phật tử đi chùa, học Phật pháp mà làm những việc gì sai trái, khiến người mất niềm tin, hủy báng đạo, đó là có tội. Cho nên chúng ta tu hành đúng chánh pháp là biết phát huy Phật pháp.

Ví dụ như một đạo tràng có chư vị Tôn túc hướng dẫn Phật tử tu hành trang nghiêm thanh tịnh, không gây tạo những nghiệp nhân xấu. Đó chính là hướng mọi người về con đường tốt, phát huy tùy hoàn cảnh, để họ có thể làm việc phúc thiện, hay gia tâm tu hành. Rõ ràng lợi lạc ấy đâu phải ít. Cho nên phát huy Phật pháp là làm sao cho mỗi người đều tập trung vào tự thân tu hành, chứ không phải y cứ hình thức bên ngoài.

Chúng ta càng tu, càng nghiên cứu đạo Phật, thì càng thấy những hình thức bên ngoài chỉ có giá trị trong một giai đoạn thôi. Nếu chúng ta bị lệ thuộc thì nó sẽ là trở lực lớn nhất cho việc tu tập của mình. Vì vậy nhờ có sự kiểm xét thường xuyên nên chúng ta hiểu tu, nhận định đúng đắn về mình về người hơn, do đó việc trên con đường tu tránh được nhiều sai lầm.

Như bây giờ có người nói tôi có pháp tu hay hơn pháp của Phật, bảo đảm anh tu ba tháng là sẽ bay được hay gì gì đó, mình nghe liền bái, tôi không muốn bay đâu. Nếu cần bay ra Huế hoặc Hà Nội thì mua vé máy bay đi quách cho yên thân, tội gì phải bay bằng thân này, rủi gặp gió mưa hay mệt quá rớt xuống nửa chừng thì sao! Cho nên trong việc tu hành, ta phải luôn luôn tỉnh sáng, vững niềm tin, không nên nhẹ dạ chạy theo những lời nói vô căn cứ của người khác.

Thứ ba, chúng ta nghiệm xem lời nói và việc làm của mình có đi đôi với nhau không? Hiểu được Phật pháp chân chính và từng bước áp dụng pháp Phật trong đời sống, thâm tâm kiên quyết hành trì đúng như điều mình hiểu, chừng ấy thôi cũng đã rất lợi lạc, rất thành công đối với mỗi người chúng ta rồi.

Cái khó của mình là hiểu một đàng mà làm một nẻo. Hoặc không hiểu gì cả mà cao hứng làm đại, thì xin thưa điều này rất tai hại. Nó sẽ làm mất thăng bằng, làm đổ vỡ hết công phu tu hành của chúng ta. Chúng ta hiểu chính xác và tùy theo điều kiện, hoàn cảnh mà làm với tâm kiên quyết khẳng định, thì như vậy chúng ta nhất định sẽ thành công.

Thứ tư, chúng ta kiểm điểm xem mình có rơi vào hạng người đối với giáo lý của Phật không hiểu và cũng không làm được gì hết? Đây là trường hợp ngoại lệ nhưng cũng có trong đạo giáo của chúng ta. Ở đây nêu lên hạng người này để chúng ta đừng bao giờ vướng vào hạng ấy. Mỗi huynh đệ chúng ta kiểm lại xem điều mình học hiểu ra sao, nếu chưa chính xác, chưa đến nơi thì chúng ta phải phấn đấu học hỏi lại cho đến khi thật sự hiểu đến nơi đến chốn. Chúng ta nên học theo chư đại Bồ-tát, luôn luôn phát nguyện học rộng, hiểu nhiều để thực hành Phật sự đúng chánh pháp.

Chúng ta học Phật để áp dụng tu, nghĩa là nhắm thẳng vào nghiệp tập của mình, trị tan loạn tưởng điên đảo, tịnh hóa thân tâm, dứt sạch các nghiệp. Như ta học thiền để hiểu và hành thiền, đừng bị cảnh duyên kéo lôi, làm chủ được mình. Tóm lại điều chỉnh cho tâm thanh tịnh giải thoát là mục đích chánh của việc tu học. Học giáo lý phổ thông, học kinh, luật, luận, sử, ngữ lục… bất cứ môn học nào trong đạo giáo, tựu trung đều nhắm vào điểm đó. Muốn tu hành đúng đắn thì phải hiểu Phật pháp cho tường tận, tránh trường hợp không học, không hiểu gì cả mà làm càn tu đại. Hạng người như thế rất có hại cho Phật pháp.

Như vậy trong bốn hạng trên, hạng thứ nhất nói được mà làm không được, hạng thứ tư nói không được mà làm cũng chẳng ra gì. Cả hai hạng này đều thuộc loại vô phần, chúng ta nên tránh xa. Chỉ hạng người nói được làm được, hoặc theo sự hiểu biết của mình nỗ lực hành trì thì ta nên phát huy. Hạng người này nếu thực hành thành công, sẽ đem lại lợi ích lớn lao cho mình và người.

Nói tới công phu tu hành, chúng ta biết phải có quyết tâm dũng mãnh, chứ không thể dễ duôi lơ là được. Như ngài Triệu Châu là một Thiền sư nổi tiếng, sau khi sáng được việc lớn, nhân tiện có Phật sự đi ngang qua quê nhà. Đêm đó Ngài định nghỉ tạm ở một ngôi chùa quê. Bà con xóm giềng nghe tin Ngài về, họ thông báo và rủ nhau đến thăm. Biết thế, Ngài liền tự nhủ: “Lưới ái trần tục không có ngày dứt được, ta đã từ bỏ xuất gia, quyết không gặp lại”. Nói xong, Ngài thầm lặng quải gói ra đi.

Chúng ta thấy thái độ của Ngài như hơi găng quá, phải không? Nhưng thật ra người tu phải như thế mới mong tiến đạo được. Bởi vì sợi dây luyến ái ràng buộc nhiều đời khó dứt lắm, nếu không kiên quyết thì không thể nào cắt đứt được. Nếu ta ngồi tu mà cứ nhớ người này phải đi thăm, nhớ người kia phải đến an ủi, nhắc nhở thì làm sao yên được. Cứ thế thì định tuệ không thể phát huy, bởi chuyện hư chuyện nên trong gia đình cứ hiện lên hoài che lấp bản tâm, làm sao sáng tỏ nổi. Việc tu hành đã không ổn thì đạo lực có đâu mà giải quyết công việc. Nếu xét kỹ, chúng ta đã tu rồi cũng không thể làm gì cho gia đình được. Vì vậy càng nghĩ đến gia đình càng rối thêm, chứ có lợi ích gì.

Qua câu chuyện của ngài Triệu Châu, cho chúng ta một bài học về thái độ dứt khoát đối với tình cảm riêng tư khi mình đã xuất gia rồi. Khi tâm đã thanh tịnh, an lạc thì không gì có thể lay chuyển được mình cả. Công phu như vậy, mới xứng đáng được Phật tổ tin tưởng, làm lợi lạc cho chúng sinh. Còn khởi niệm, còn thương ghét dẫy đầy thì bản thân mình chưa thể tự cứu nổi, nói gì đến các Phật sự khác. Chúng ta nên nhớ tình nhiều thì trí ít, ràng buộc trong những oan khiên, nợ nần mãi thì bao giờ mới được rỗng rang sáng suốt.

Người nói được làm được phải là bậc đại lực lượng, xuất cách lắm. Mình chưa nhận được thì không có quyền nói trăng nói cuội, soi căn soi kiếp cho ai hết, làm như thế sẽ chóng rơi vào lưới ma, không có ngày ra khỏi. Cho nên Phật khen ngợi những người hiểu và áp dụng được Phật pháp thì sẽ an lạc, nhưng phải có thái độ dứt khoát như Ngài Triệu Châu vậy.

Sau cùng, chúng ta phải soát xét lại công phu tu hành của mình như vậy có đi đến giải thoát không? Mục đích của chúng ta là tu hành để được giải thoát sanh tử, nếu không đạt được điều đó xem như mọi công phu đều hỏng hết. Nói giải thoát là giải thoát cái gì? Giải thoát vô minh và vô thường.

Giải thoát vô minh là ra khỏi sự mê lầm tăm tối từ bao đời bao kiếp. Chính vì mê lầm mà chúng sanh tạo nghiệp, trôi lăn trong sanh tử luân hồi, chịu vô lượng thống khổ. Nếu phá tan được mạng lưới vô minh thì dòng sanh tử cũng sẽ chấm dứt. Giải thoát vô thường là vượt lên trên mọi sự đổi thay. Trước mắt chúng ta, có biết bao nhiêu sự thay đổi. Làm sao trong sự đổi thay đó, chúng ta vẫn sống được với một tâm chân thường, không bị sự thay đổi chi phối. Người được như thế gọi là người giải thoát.

Các cảnh duyên, các hiện tượng đổi thay vùn vụt, nhưng chúng ta đang sống trong đó, đang tiếp cận với nó mà vẫn an nhiên tự tại, tỉnh táo sáng suốt, làm chủ được mọi sinh hoạt thì không giải thoát là gì? Không luận người xuất gia hay tại gia gì, già hay trẻ, có học hay không có học, hễ ai làm chủ được trước mọi sự đổi thay thì người ấy được gọi là người giải thoát. Rõ ràng như vậy. Cho nên chúng ta có thể nói dứt khoát rằng tu là để giải thoát.

Không còn kẹt trong vô thường, nghĩa là giữa các pháp vô thường ta hằng sống được với cái không vô thường, tới lui tự tại cùng y nói năng làm việc, không bao giờ rời nhau. Đó là giải thoát được tất cả những hiện tượng chung quanh, từ đó tánh giác hiện bày tròn đầy. Trong mọi sinh hoạt ăn cơm, mặc áo lúc nào y cũng hiện hữu. Cho nên người sống được với tánh giác, làm chủ được mình là người tự tại giải thoát.

Chúng ta xét kỹ sẽ thấy thân tứ đại này vay mượn này luôn bị bức xúc bởi ngoại duyên. Không bệnh thì cũng buồn khổ, làm cho mình không khi nào được hoàn toàn an lạc, nói gì đến thanh tịnh giải thoát. Nhất là từ bốn mươi tuổi trở lên sẽ thấy rất rõ sự biến chuyển của nó. Nay đau mai yếu, nhưng ai đụng tới mình là không được. Lúc nào ta cũng cưng chiều, cũng sợ mất nó. Không thoát ra được thân hư giả này thì làm sao tỉnh sáng, sử dụng nó để tu. Cho nên cần phải xét lại ta đã buông bỏ được thân tâm hư vọng chưa, như vậy mới mong tiến đến con đường giải thoát. 

Tóm lại, hôm nay tôi nói về vấn đề xét lại công phu tu hành để huynh đệ chúng ta mỗi ngày mỗi tăng tiến trên đường đạo. Nếu nếm được hương vị giác ngộ giải thoát mới không uổng làm người xuất gia, đệ tử Phật. Những gì đúng chúng ta cố gắng phát huy cho được hoàn mãn, những gì còn thiếu sót chưa đúng khắc phục sửa đổi cho tốt. Phải nuôi dưỡng ý chí mãnh liệt và đạo tâm kiên cố như ngài Triệu Châu.

Nên tâm niệm các pháp vô thường, không có gì trường cửu. Chỉ cái chân thật nằm sẵn nơi thân ngũ uẩn này là đáng để ta quan tâm, ngoài ra tất cả đều không có gì quan trọng. Song ta tạm mượn thân hư giả này để phát huy công phu tu hành cho được tăng tiến, làm sao thoát ra mọi thứ trói buộc ở thế gian, tự tại đối với sanh tử và vô thường. Được vậy đời tu của chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả như ý. Đó là mục đích cứu kính của người xuất gia tu hành.

Mong rằng với sự tự kiểm điểm lại mình, chúng ta sẽ có cuộc sống vui tươi, cư xử với nhau trong đạo lý, trong tinh thần giác ngộ giải thoát của Phật. Được vậy đạo tràng này là đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh, tất cả mọi người đều xứng đáng là con của Phật, đều sẽ được giác ngộ giải thoát như Phật.

 

 

 

Mục Lục